Thiện ác

Cách đây 20 năm, cũng vào tháng 11, một sĩ quan IDF đã được tuyên trắng án sau khi nã nguyên một băng đạn vào một bé gái Palestine 13 tuổi, tất nhiên là dân thường. Thông thường những vụ việc như thế sẽ bị bỏ qua, chúng vẫn xảy ra thường xuyên, có lẽ là hàng ngày, nhưng vì một lý do nào đó, vụ việc này bất ngờ bị đem ra tòa án quân sự.

Điều không bất ngờ là tòa án quân sự của Israel phán viên sĩ quan hoàn toàn vô tội. Và sĩ quan này khi được phỏng vấn đã nói rằng anh ta sẽ làm thế ngay cả khi đó chỉ là một đứa trẻ ba tuổi.

Việc lính IDF giết dân thường, thậm chí trẻ em, đối với người Israel mà nói là việc bình thường. Một số không nhỏ dân thường, và thậm chí nhà báo người Việt đã từng có thái độ ủng hộ Israel. Vậy nhưng, những người đó khi được hỏi rằng có ủng hộ hòa bình, ủng hộ công lý và lẽ phải không, thì gần như họ sẽ nói rằng có. Về cơ bản thì quan điểm của họ là ủng hộ hòa bình, vì thế ủng hộ việc xâm lược, thả bom rải thảm, khủng bố, tàn sát trẻ em, giết phóng viên chiến trường, và diệt chủng.

Rất nhiều người, trong đó có tôi, nói rằng họ ủng hộ Palestine, chỉ đơn giản vì họ là con người. Tôi ủng hộ Palestine không phải vì tôi thuộc về một dân tộc đã từng bị đàn áp, đã từng bị những thế lực lớn hơn quyết tâm nghiền nát bằng bom đạn. Tôi ủng hộ Palestine chỉ vì tôi là một con người, và ủng hộ với tư cách là một con người.

Vậy những người cho rằng Israel phải thả bom vào dân thường, phải giết phụ nữ và trẻ em mỗi ngày để tự vệ, họ có phải là con người không? Những người vẫn băn khoăn liệu có phải Israel đang phạm tội ác diệt chủng hay không, dù IDF giết phụ nữ và trẻ em với tốc độ cao hơn cả Đức Quốc xã trong Thế Chiến II, và cứ thỉnh thoảng lại có một lãnh đạo Israel bày tỏ ước mơ giết càng nhiều người Palestine càng tốt, và khiến cuộc sống của những người còn lại càng gần địa ngục càng tốt, những người ấy có phải là con người không? (Đây hoàn toàn không phải câu hỏi tu từ.)

Mặc dù xấu hổ, tôi phải thừa nhận rằng những người ấy và tôi là cùng một giống loài. Họ cũng là con người, chỉ có điều là những người thiếu may mắn. Tôi không kì thị những người thiếu may mắn, tôi chỉ thấy đáng tiếc.

Cũng có khi, chính vì là con người, nên sự thiếu may mắn ấy mới có thể rơi lên đầu họ. Tôi không tin có một con bò nào nhìn thấy một đàn bò ở một bãi cỏ khác bị giết, mà lại có thể có thiện cảm với bất kì thứ gì, hay con gì, đã giết đàn bò kia.

Những người mà tôi nói tới, chỉ là thiếu may mắn. Họ thiếu may mắn thế nào? Hãy ôn lại một mẩu ký ức nhỏ mà tôi nghĩ hầu hết bạn đọc của tôi đều có. Khi còn học phổ thông, có phải bạn đã từng đọc một bản hùng văn, trong đó có đoạn “…tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xẻ thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù…” Đây là một văn bản hiếm hoi trong chương trình phổ thông mà tôi vẫn còn thuộc rất nhiều đoạn. Khi bạn học đoạn văn này, bạn có thấy tinh thần của mình lên cao, bạn có thấy mình sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương? Bạn có thấy xẻ thịt lột da kẻ thù là việc anh hùng? Hay ít nhất, bạn có thấy dù giết hàng trăm, hàng ngàn quân xâm lược, đó cũng là việc đáng làm, là việc chính nghĩa? Nếu có, thì bạn giống tôi.

Bây giờ, hãy suy nghĩ một chút. Bạn chưa từng trải qua nỗi đau chiến tranh, tất cả những gì bạn biết tới là lời kể và những câu chuyện. Vậy mà những lời văn ấy có thể khiến bạn chấp nhận, thậm chí đề cao việc xẻ thịt lột da, nuốt gan uống máu, hay nhân đạo hơn, là chỉ giết người. Tất nhiên, bạn nghĩ đây là chính nghĩa, tôi cũng nghĩ đây là chính nghĩa. Nhưng bạn biết không, đây là thứ chính nghĩa không phải do bạn cảm nhận được hay đúc kết ra, mà là thứ chính nghĩa do người khác đặt vào tâm trí bạn.

Điều quan trọng của câu chuyện không phải là nó đúng hay sai, mà là nó là chuyện gì. Bạn có thể tin hay không, nhưng một đứa trẻ gần như sẽ tin vào mọi điều nó được dạy. Một người dù đã lớn rồi cũng sẽ tin vào những điều được lặp lại đủ nhiều. Bạn đã nghe rất nhiều về tội ác chiến tranh trong chiến tranh thế giới, hay chiến tranh mà Mỹ gây ra ở Việt Nam phải không? Quân đội Mỹ, quân đội Nhật, quân đội Đức, quân đội Hàn Quốc rất tàn ác. Ngày nay, nếu đến những nước này, bạn gần như không thể tìm ra nhiều người ác như vậy, nhưng bạn sẽ tìm ra, thậm chí nhiều hơn, những người nghe lời, và tin rằng việc giết người của họ là chính đáng. Vấn đề không phải là sự độc ác hay sự lương thiện trong bản tính. Con người không có bản tính gì hết, thứ duy nhất bạn có thể chắc chắn là con người muốn sinh tồn, về điểm này loài người không khác bất kỳ loài thú nào. Nhưng con người kém may mắn hơn con thú ở chỗ, rất khó để thuyết phục con thú A giết con thú B, nếu con thú B chẳng có liên quan gì tới con thú A. Rất khó để thuyết phục con thú A ghét con thú B, nếu con thú B chẳng làm gì nó cả. Với con người thì chuyện đó dễ đến bất ngờ.

Hãy thử tưởng tượng, nếu những đứa trẻ vừa mới sinh ra đã được dạy rằng một dân tộc khác là nguy hiểm, là hạ đẳng, và tính mạng của những con người của dân tộc đó chỉ giống như súc vật, và rằng giết người của dân tộc đó là điều bình thường, thì những đứa trẻ đó lớn lên sẽ thành những người như thế nào? Bạn đúng rồi, những đứa trẻ đó lớn lên sẽ nói rằng chúng sẵn sàng nã cả băng đạn vào một cô bé 13 tuổi, và cũng sẽ không chớp mắt mà làm thế với một bé gái 3 tuổi, thậm chí chúng còn tự hào. Và vì xã hội của chúng ủng hộ chúng, chúng sẽ không chịu trách nhiệm gì, vẫn tiếp tục giết người và khuyến khích thế hệ sau giết người vô tội, vòng tròn cứ thế tiếp diễn. Đó là sự kém may mắn nhất. Kém may mắn, nhưng đỡ hơn một chút, là những đứa trẻ được dạy rằng những kẻ giết người kia đang tự vệ, rằng chúng yêu nước, rằng đất đai của chúng không phải do cướp bóc mà có được. Làm sao có thể tin rằng một đội quân với súng ống đầy đủ lại phải giết trẻ em để tự vệ? Chỉ cần nghe đủ nhiều là được. Trên đời này chẳng phải có nhiều người dù là ngoài cuộc vẫn dám nói ra những điều đó như thể đó là lẽ phải hay sao.

Không nên kỳ thị người kém may mắn, cũng như không nên kì thị người khuyết tật, nhưng thật khó để không kì thị những người tự hào về sự khuyết tật, hơn nữa lại là khuyết tật về tâm hồn và lương tri.

Hình xăm

Có nhiều người kì thị người có hình xăm. Có người thì cho rằng sự kỳ thị ấy là một tư tưởng lạc hậu không nên có ở thời đại này.

Hôm nay tôi nghe câu này trên tiktok và thấy nó thật đúng. Con người thường sợ rắn, nhưng rắn cũng có rắn độc và rắn không độc, lẽ ra chỉ cần sợ rắn độc thôi. Nhưng khi bạn thấy rắn, liệu bạn sẽ dành thời gian để cân nhắc xem rắn đó có độc không, hay là bạn sẽ tránh đi luôn cho nhanh?

Dù là thời đại nào thì chắc người ta cũng vẫn sợ rắn thôi.


多くの人は、入れ墨をしている人に偏見を持っています。一方で、そのような偏見を現代社会にはふさわしくない、時代遅れの考え方だという人もいます。

今日、tiktokでこんな言葉を聞いて、とても共感しました。

「人は蛇を怖がる。でも蛇には毒蛇もいれば、無毒の蛇もいる。本当は毒蛇だけを怖がればいいはずだ。だけど実際に蛇を見たら、その蛇が毒をもっているかどうかを見極めようとするより、どっちに避けようとするだろう?」

結局のところ、どんな時代になっても、人はやっぱり蛇を怖がるものなのかもしれませんね。

12th Anniversary

Trang blog này đã tròn 12 năm tuổi!

Nhân dịp đặc biệt này, tôi xin được cảm ơn các độc giả của blog. Cảm ơn các bác, các cô chú, anh chị và những người em đã theo dõi và ủng hộ tôi. Các bạn là một trong những lý do khiến tôi vẫn duy trì blog này tới ngày hôm nay. Tôi mong sẽ tiếp tục có sự đồng hành của các bạn trong nhiều năm sắp tới!

This blog proudly marks its 12th anniversary today!

On this special occasion, I would like to express my heartfelt thanks to all of you – my readers. Thank you all for your support over the years. You are one of the reasons behind the continued existence of this blog. I look forward to continuing this journey with you in the years ahead.

このブログは今日で12周年を迎えました!

この特別な日を迎え、読者の皆様に心より感謝申し上げます。いつも応援してくださり、本当にありがとうございます。皆様の支えが、このブログを続けてこれた大きな理由です。これからもよろしくお願いします!

Sức mạnh của ngôn từ

Cách đây vài năm, có một sự kiện ở Việt Nam mà tôi rất chú ý, đó là khi một ủy ban nào đó của nhà nước họp bàn về các quy định đối với nước mắm, người ta mời đại diện của tập đoàn Masan.

Tại sao việc đó đáng chú ý? Bởi vì Masan không làm gì liên quan tới nước mắm cả, nhưng họ có thể trục lợi khi được vào ủy ban đó và hủy hoại ngành sản xuất nước mắm truyền thống, dẫn tới nhiều lợi ích hơn nữa cho họ. Những việc như thế xảy ra thường xuyên ở những xứ tư bản giãy chết, và tư bản giãy chết chính vì lý do đó, khi mà tiền có thể được dùng để tác động những thứ mà tiền không nên có quyền tác động. Tư bản giãy chết thì tư bản vẫn sống, nhưng lợi ích cho những nhóm yếu thế và công lý thì sẽ dần thoi thóp.

Để giải thích rõ hơn thì đầu tiên phải xin lỗi những người bạn đã từng và đang làm việc cho Masan. Có thể công việc của các bạn thì tốt, nhưng tập đoàn của các bạn thì dùng những chiêu trò marketing bẩn như một thói quen, và vụ nước mắm là một ví dụ điển hình. Bài viết này là về ngôn từ, nên tôi sẽ không nói nhiều thêm về chiêu trò, nhưng nếu chưa từng để ý tới thì bạn luôn có thể google để hiểu tại sao tôi dùng những lời lẽ không hay như vậy để nói về một tập đoàn.

Quay lại với chuyện nước mắm, tập đoàn Masan không sản xuất nước mắm. Thứ mà họ làm ra nên được gọi chính xác là nước chấm công nghiệp, nhưng nếu gọi như vậy chắc chắn không ai mua, và họ khao khát cái tên nước mắm. Vì sao? Đây chính là chỗ mà ngôn từ thể hiện sức mạnh của nó. Khi một người nghe tới từ nước mắm, họ sẽ nghĩ nó là loại nước chấm truyền thống của người Việt, được làm từ cá, giàu dinh dưỡng, là một gia vị mang đậm bản sắc dân tộc. Bây giờ, nếu bạn là một công ty muốn kiếm tiền nhanh, và bạn biết là không thể làm nước mắm theo cách truyền thống vì lợi nhuận không thể cao, ngay cả ở quy mô lớn, nhưng bạn lại muốn làm một thứ nước chấm thay thế cho nước mắm, bạn sẽ khao khát được dùng chữ “nước mắm” cho sản phẩm của mình. Đó không phải chỉ đơn giản là một từ vựng, nó mang theo danh tiếng ngàn năm, mang theo ký ức của cả dân tộc về một loại nước chấm truyền thống, và là một yếu tố quan trọng để bạn bán được hàng. Nếu gọi sản phẩm của bạn theo đúng cái tên của nó, “nước chấm công nghiệp”, thì mọi chuyện sẽ diễn ra theo hướng ngược lại. Chữ “công nghiệp” gắn liền với những thứ đại trà, không bản sắc, vô hồn, và thường không có lợi cho sức khỏe (nếu không có hại).

Và Masan đã làm được, họ có thể dùng được cái tên nước mắm. Tôi vẫn nghĩ đó là lỗi lầm, nhưng vẫn tha thứ được. Có điều, khi họ cài người vào một ủy ban để bàn về những quy chế cho nước mắm thực sự, thứ mà họ đã cướp đi cái tên, thì điều đó hơi quá sức chịu đựng của tôi. Họ chưa bao giờ đủ tư cách. Thêm nữa, tin đồn rằng Masan muốn nước mắm phải được gọi bằng tên nước mắm truyền thống, còn thứ nước chấm công nghiệp của họ có thể được gọi là nước mắm khiến tôi phẫn nộ. Việc đó về cơ bản giống như vài người gốc Âu tới chiếm đất của người Mỹ, tàn sát người Mỹ, rồi khăng khăng tự gọi mình là người Mỹ và gọi chủ nhân thực sự của mảnh đất, những người Mỹ thực sự, là “người Mỹ bản địa”.

Những người Mỹ gốc Âu này là bậc thầy trong việc dùng ngôn từ để định hướng, dẫn dắt, và thao túng con người. Bạn còn nhớ từ “nước mắm” ở trên? Khi bạn nghe tới nước mắm thì suy nghĩ đầu tiên của bạn về nó sẽ là về thứ nước chấm truyền thống của người Việt, bạn thường không quan tâm thành phần của nó là gì, hay nó được sản xuất ở nơi nào. Cách nhìn nhận của bạn về một sự vật bị ảnh hưởng bởi cách mà người ta gọi nó có khi còn nhiều hơn bởi thứ mà nó thật sự là, tức là bản chất của nó. Những người Mỹ gốc Âu hiểu rõ điều này và vận dụng triệt để với nhiều từ, mà nổi bật trong số đó là từ “khủng bố.”

Khi bạn nghe tới “khủng bố”, gần như chắc chắn bạn sẽ nghĩ về một điều xấu xa. Nếu bạn giao tiếp với con người đủ nhiều thì đó là một thứ được lập trình trong tâm trí của bạn và sẽ không thay đổi. Khi bạn nghe, và tin, rằng ai đó là “khủng bố”, đương nhiên bạn nghĩ họ tồi tệ. Bạn nghĩ họ tệ vì họ là khủng bố, hoàn toàn không phải vì bạn biết họ là ai và vì sao họ làm những việc họ làm. Truyền thông phương Tây dùng từ “khủng bố” không phải cho những kẻ khủng bố thực sự, chẳng hạn như quân Israel, mà cho cả những người dám dùng vũ lực để làm những điều chống lại lợi ích của phương Tây, dù điều đó có là tốt đẹp.

Chắc bạn có biết Tổng thống Nelson Mandela của Nam Phi, nhưng có lẽ bạn không biết rằng ông từng bị chính phủ Mỹ coi là khủng bố. Bạn có biết tới khi nào thì Mỹ cho Tổng thống Mandela ra khỏi danh sách khủng bố không? 2008. Mandela nhìn không giống một người nghe lời Mỹ, và đó là lý do. Một thiếu niên Iraq dám đứng chặn trước xe tăng của quân Mỹ xâm lược sẽ bị gọi là một phần tử khủng bố nguy hiểm, nhưng một người Ukraina làm việc đó trước xe tăng của Nga (và không chết như cậu bé Iraq, vì Nga không hoàn toàn giống Mỹ) thì lại được báo Mỹ gọi là anh hùng. Để gần gũi hơn, thì tất nhiên trước đây Mỹ coi Việt Minh là khủng bố.

Khi Mỹ nói về nhân quyền, dân chủ, hay chủ nghĩa khủng bố, việc đầu tiên bạn cần làm là đừng tin, vì những điều họ nói đều có mục đích. Mỹ có thể cấp bom cho Israel khiến hàng ngàn, hàng chục ngàn, hay thậm chí hàng trăm ngàn dân thường là người Hồi giáo thiệt mạng, nhưng chỉ cần một người Hồi giáo ở Tân Cương chết một cách không rõ ràng thì Mỹ sẽ lên án một cách rất mạnh mẽ. Khi đọc báo hay nghe tin tức từ phương Tây, nghĩ rằng “tại sao họ lại đưa tin như vậy” thường sẽ bổ ích hơn nhiều so với tin vào diễn ngôn của họ. Việc tiếp theo mà bạn có thể làm sau đó là tự mình tìm hiểu thông tin. Trong số những người anh hùng dám hy sinh vì dân tộc mà Mỹ đã gọi là khủng bố, ngoài Mandela và Đại hội Dân tộc Phi của ông, còn có Hamas và Hezbollah. Tôi không biết sau này họ sẽ trở thành gì, nhưng vào lúc những dòng này được viết ra, họ là những anh hùng dân tộc.

Nạn dư thừa năng lực sản xuất

Tựa đề của bài viết nghe có vẻ hơi nghịch lý, nhưng một vài nhà báo rất nghiêm túc thực sự đã nói như vậy khi nói về Trung Quốc. Điều họ nói đến là có một số ngành mà Trung Quốc có năng lực sản xuất vượt trội, khiến cho phần còn lại của thế giới bị áp lực.

Khi nói về phần còn lại của thế giới, thực ra họ nói về Âu Mỹ. Năng lực của Trung Quốc trong việc sản xuất các thiết bị, linh kiện phục vụ cho ngành ô tô điện, năng lượng, v.v. đang khiến các ngành này ở châu Âu và Mỹ đứng trên bờ vực. Nhiều nhà báo đang nói đến thực tế này như một vấn nạn, như một tội ác mà Trung Quốc là hung thủ. Họ không dùng từ thực tế, mà dùng từ thực trạng.

Khi tôi đọc bài viết của cô Kim Hạnh về điều này, tôi cảm thấy rất nực cười. Cô ấy là người Việt Nam, nhưng viết bài với giọng điệu của một nhà báo Mỹ đã được đào tạo, hay dùng từ đúng hơn là huấn luyện, bài bản.

Để kinh tế của một tổng thể phát triển, thì mỗi nơi nên tập trung vào thế mạnh của mình. Nghiên cứu cách phân bổ nguồn lực và tài nguyên hợp lý là một nhiệm vụ của kinh tế học. Hiểu đơn giản là nếu một vùng có thể sản xuất lúa gạo với năng suất gấp nhiều lần vùng khác thì hãy để vùng đó làm lúa gạo, còn ở vùng kia có thể xây nhà máy cho kỹ sư tới thiết kế chip hay làm ô tô. Chính vì loài người hiện nay làm như vậy, nên chúng ta mới phát triển. Nếu vùng A không thể trồng lúa không chịu tìm thứ gì đó khác để làm mà than phiền rằng vùng B trồng lúa quá tốt với chi phí thấp khiến lúa của A không thể bán được và cứ la làng về vấn nạn dư thừa năng lực sản xuất lúa của B thì loài người sẽ đi về đâu?

Trong vấn đề mà bài báo của cô Hạnh nêu ra còn có một khía cạnh kinh khủng và đáng quan ngại, hoặc đáng lên án, tùy vào sự nhạy cảm của bạn. Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên tôi có cảm giác ấy là khi chúng tôi thảo luận về một câu hỏi: Ngày nay thu nhập của các nước vốn thuộc diện nghèo và trung bình ở châu Á trước kia đã tăng lên, điều này khiến cho chi phí sản xuất nhiều mặt hàng tăng lên, làm thế nào để chúng ta có thể giải quyết vấn đề này?

Những người đặt câu hỏi đến từ một nước phát triển. Tôi và họ có thể nói về “chúng ta” trong rất nhiều chuyện, nhưng trong câu hỏi đó thì phải chuyển thành “chúng tôi.” Với họ, thực tế trong câu hỏi là một vấn đề. Với chúng tôi, đó là một bước tiến tốt, một sự phát triển tất nhiên và đáng được chào mừng.

viết

ばんちゃん thích đọc tôi viết, nhưng lại không thích nghe kể về bọn thực dân hay những kẻ xâm lược lắm, nên hôm nay tôi sẽ viết về nhiều chủ đề một cách hài hòa hơn, hoặc là không có chủ đề gì cả.

Hôm trước kể về thầy tôi, thực ra tôi muốn nói là tôi muốn viết như vậy biết bao, nhưng chưa bao giờ có thể hoàn toàn ngừng việc tự kiểm duyệt. Có điều, nếu cứ làm thế thì việc viết không được vui lắm, nên phải cố gắng noi gương thầy thôi.

Gần đây tôi có xem một video một cô hướng dẫn cách để trở nên lưu loát, đó là chơi trò chơi một phút: chọn một thứ bất kì, một chủ đề bất kỳ, và nói về nó liên tục trong vòng một phút. Một người chơi giỏi trò này chắc chắn sẽ trở thành một người nói năng rất trôi chảy mượt mà, còn về sự mạch lạc thì tôi không được chắc lắm. Nhưng ばんちゃん thích đọc, hôm nay tôi sẽ chơi trò chơi này trên blog.

Ác quỷ

“Evil is the good that believes it is absolutely good.”

Friedrich Hegel

Làm thế nào để phân biệt được tốt và xấu? Một phương pháp bất ngờ và không nhiều người biết là xem một người có cho rằng họ tuyệt đối tốt hay không, và Hegel là người đã chỉ ra cách đó.

Ở đây tôi không bàn nhiều về triết học, nhưng Hegel đúng. Không có một người nào tốt lại không đặt câu hỏi cho những hành động của mình. Chính vì họ còn xem xét đúng sai, nên họ mới có thể làm đúng. Cũng như không có một người thông minh nào lại luôn luôn chắc chắn, chính vì họ hoài nghi nên họ mới suy nghĩ và kiểm tra. Một khi ai đó, hay thứ gì đó, nghĩ rằng nó luôn luôn tốt, nó chắc chắn đã hoặc đang trở nên xấu xa.

Nếu bạn đã đọc bài viết của tôi về điệu nhảy của người Tây Tạng, thì có lẽ bạn sẽ cảm thấy rằng những người anh hùng đã nghĩ rằng họ đại diện cho cái thiện, và từ giây phút đó họ biến thành cái ác. Khi bạn đã tin rằng bạn đại diện cho lẽ phải tuyệt đối, thì tất nhiên mọi việc tồi tệ mà bạn làm đều có một lý do “tốt”.

Israel kiểm soát được truyền thông phương Tây, và chủ động tìm diệt phóng viên chiến trường. Phần lớn phóng viên thật sự vào Gaza đưa tin đã bị chúng sát hại. Có thể vào lúc bạn đọc được những dòng này thì người phóng viên cuối cùng ở Gaza cũng đã hy sinh. Tội ác của Israel không thể mô tả bằng lời, chỉ riêng những gì lọt ra ngoài sự che đậy cũng đã đủ để so sánh Israel với Đức Quốc Xã. Trớ trêu là, chính binh lính Israel lại làm thay công việc của phóng viên: chúng tự quay video những tội ác của mình. Quân đội khủng bố của Israel đã đạt đến mức độ xấu xa tàn ác đó nhưng chúng vẫn tự gọi mình là một quân đội có đạo đức, và tự hào vì giết được nhiều người. Có lẽ chúng thật sự nghĩ việc chúng làm là tốt đẹp. Trong một video, một tên lính quay cảnh một vụ nổ một tòa chung cư như món quà tặng sinh nhật cho con gái hai tuổi của hắn. Nhiều video khác có cảnh lính Israel đốt cháy nguồn cung cấp thực phẩm của người Palestine trong chiến dịch chống nạn đói và chế giễu thường dân Palestine bị lột đồ, bắt giữ và bị bịt mắt. Cuối bài viết này là link video phim tài liệu về tội ác chiến tranh của Israel trong cuộc diệt chủng đang diễn ra, với phần lớn tư liệu thực tế lấy từ những video đăng bởi chính lính Israel. Tôi không dám xem hết, vì một vài cảnh quá kinh khủng. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm, bạn có thể tìm đọc tin của Al Jazeera.

Nếu có một người Israel nào nghĩ rằng việc họ làm là tốt, thì họ là một minh chứng sống cho phát biểu của Hegel. Dân tộc Do Thái là một dân tộc như bao dân tộc khác, nhưng những người Do Thái theo chủ nghĩa Zionism đã không còn giống con người.

Narrative

Chính phủ nước A đã cung cấp vũ khí và tài trợ cho các tổ chức khủng bố chống lại nước B và các lợi ích của nước B ở nước ngoài. Thực tế thì có thể coi toàn bộ chính phủ và nhà nước A là một tổ chức khủng bố, trong nước thì không ổn định được xã hội, ở nước ngoài thì tấn công khủng bố vào dân thường của nhiều nước khác, trong lịch sử đã có nhiều lần lật đổ các chính quyền hợp pháp và gây ra các vụ thảm sát. Vì thế nước B xác định rằng chính phủ A là khủng bố và dùng quân đội để tấn công chính phủ A, giải phóng cho người dân nước A.

Khi nước B đổ bộ vào nước A, nước B đã ném bom cả trường học, bệnh viện, vì B có bằng chứng cho thấy những phần tử ủng hộ chính phủ A, tức là ủng hộ khủng bố, đang trốn trong bệnh viện và trường học. Nước B cũng san phẳng một vài thành phố của A, và sau cuộc chiến có 1 tới 2 triệu người dân A đã thiệt mạng. Tất nhiên không thể có tới hai triệu kẻ khủng bố, nhưng đó là cái giá của chiến tranh. Tất cả là tại người dân A đã có một thời điểm bầu cử để chính phủ khủng bố A lên nắm quyền.

Tôi biết là nhiều bạn đọc nghe những chi tiết ở trên sẽ nghĩ B là Mỹ và không biết A là nước nào, vì có vài nước như vậy, nhưng không, A là Mỹ. Bạn có thể tự tìm hiểu để thấy vai trò của Mỹ trong sự hình thành các nhóm vũ trang ở Trung Đông, có thể tự tìm hiểu để thấy Mỹ đã lật đổ bao nhiêu chính quyền hợp pháp, và cũng có thể tự tìm hiểu để biết vì quân đội Mỹ mà bao nhiêu dân thường các quốc gia khác đã thiệt mạng. Theo đúng văn phong của Mỹ thì chính phủ Mỹ chính là một tổ chức khủng bố, và nếu một quốc gia nào đó dội bom Mỹ mỗi ngày cho tới khi có một vài triệu dân thường thiệt mạng thì quốc gia đó vẫn có thể giải thích cho hành động của mình một cách rất đàng hoàng, bằng văn của Mỹ.

Có điều, chưa có quốc gia đó. Tôi viết những dòng trên chỉ để bạn đọc, nếu chưa nhận ra, thì sẽ nhận ra rằng con người tới tận thời đại ngày nay vẫn không sống bằng lý lẽ, mà bằng nắm đấm. Quân đội nào mạnh hơn thì quốc gia đó có nhiều “dân chủ” và “chính nghĩa” hơn. Không nên ảo tưởng rằng các quốc gia, dù lớn hay nhỏ, có thể thương lượng để đạt được công bằng và làm theo lẽ phải. Họ thương lượng để đi đến lợi ích lớn nhất hoặc thiệt hại nhỏ nhất cho mình. Chẳng hạn, nếu bạn có vũ khí hạt nhân và thương lượng với một quốc gia nhỏ bé không có và cũng không có lợi ích liên quan đến một quốc gia có vũ khí hạt nhân, bạn không thương lượng, mà ra lệnh. Nếu bên kia không chấp nhận? Bạn có thể thoải mái ném bom cho đến khi họ đầu hàng và nghe theo mọi yêu cầu của bạn, hoặc cho đến khi không còn ai trong số họ sống sót. Israel muốn đất đai của Palestine và chẳng có lý do gì để đàm phán, những con quỷ đó biết rằng chúng có thể tiếp tục giết người Palestine.

Nếu bạn là loại quốc gia như vậy, bạn phạm phải những tội ác chống lại loài người, bạn tiến hành diệt chủng, chẳng lẽ bạn không phải chịu hậu quả gì sao? Hậu quả có thể là bạn phải tiếp tục đem bom đạn đi rải ở những vùng đất khác, và phải tiếp tục rao giảng cho thế giới về dân chủ và văn minh. Người Mỹ gốc Âu đã tàn sát người Mỹ bản địa, có lẽ họ tiếc là không tàn sát hết, bạn đã thấy chính phủ Mỹ tỏ ra hối hận hay xấu hổ chưa, hay điều tốt nhất họ có thể làm là rơi nước mắt cá sấu và vẫn tiếp tục làm những điều tương tự. Nếu bạn là kiểu quốc gia như vậy, phần lớn thế giới biết bạn tàn ác nhưng thường không làm gì ảnh hưởng lớn tới bạn được. Chỉ khi người dân của quốc gia đang bị bạn áp bức đủ mạnh để đe dọa bạn, hay đủ mạnh để bạn không thể dễ dàng sinh sát, bạn mới cần phải quan tâm. Một số bạn nhỏ bị ngộ độc truyền thông phương Tây từng đưa ra ý kiến rằng Việt Nam có thể giành được độc lập mà không cần phải đổ máu nhiều như chúng ta đã đổ, và dẫn chứng các nước châu Phi thuộc địa Pháp, hay vài thuộc địa cũ của Anh. Nhưng nhiều nước châu Phi vẫn là thuộc địa, chỉ là theo kiểu mới hơn. Và Palestine thì vốn là thuộc địa của Anh. Đôi khi các bạn trẻ đó lớn lên và hiểu ra, có một số thì rất tiếc, không thể lớn.

Bad news

Công ty tôi có một vài hợp tác với các công ty khởi nghiệp Israel. Trong nhiều trường hợp thì tôi không biết thứ mình đang làm cuối cùng sẽ được dùng vào mục đích gì, nhưng vì là Israel nên có khả năng không thấp các công ty đó có góp tay vào các cuộc chiến tranh phi nghĩa đang diễn ra.

Tôi tự hào vì nhiều năm trước đã ký tên vào một tờ A4 tuyên bố rằng sẽ không bao giờ dùng kỹ thuật mình học được cho mục đích chiến tranh. Bây giờ tôi cảm thấy xấu hổ vì công việc của mình đã rơi vào một vùng màu xám, mà lại chưa thể nghỉ việc ngay được.

Backfire effect

Một số người tin rằng vắc-xin gây ra tự kỷ và các vấn đề sức khỏe khác. Càng được cung cấp thêm thông tin và dữ liệu khoa học chứng minh điều ngược lại, họ lại càng khẳng định vắc-xin nguy hiểm và từ chối cho con cái tiêm phòng, mặc dù điều này gây ra nguy cơ lớn đối với sức khỏe cộng đồng.

Đây là một ví dụ điển hình của hiệu ứng phản tác dụng (backfire effect). Hiệu ứng này xuất hiện khi những người tin vào quan điểm sai lệch không những không bị thuyết phục bởi bằng chứng, mà còn bảo vệ niềm tin của mình mạnh mẽ hơn.

Nói cách khác, bằng chứng thường chỉ có hiệu quả để củng cố (confirmation bias) chứ không phải để thay đổi niềm tin.

Khi chúng ta nghĩ về backfire effect, rất nhiều điều khó hiểu, hoặc hay được giải thích theo một cách không đúng, đột nhiên trở nên đơn giản hơn nhiều. Nhưng tại sao lại có một giống loài cố gắng bảo vệ niềm tin bằng mọi giá mà không quan tâm lý lẽ? Chỉ riêng hiệu ứng này, chính nó thì vẫn khó hiểu.

Viết sử

Chuyện kể rằng khi Thế chiến 2 kết thúc, một tướng Mỹ đến trại tập trung, nơi mà ông ta thấy những người Do Thái chỉ còn da bọc xương và rất nhiều xác chết. Ông đã ra lệnh cho lính của mình lưu lại càng nhiều bằng chứng càng tốt, bằng ảnh chụp, bằng ghi chép, bằng những câu chuyện. Ông ta gọi cả dân địa phương tới dọn xác chết.

Khi một người lính hỏi tại sao lại cần nhiều bằng chứng đến vậy, (có lẽ bạn cũng sẽ nghĩ chỉ cần chụp vài bức ảnh và lưu lại vài trang tài liệu là đủ để thế hệ sau có thứ mà tra cứu.) viên tướng đã trả lời rằng:

Nếu không có đủ nhiều bằng chứng, một ngày nào đó, nhất định sẽ có một thằng ngu nào đó nhảy ra và nói Holocaust chưa từng xảy ra.

Ông ta đúng, nhưng có vẻ là đúng theo một cách hoàn toàn khác với điều mà ông ta đã nghĩ lúc đó. Nếu chỉ nhìn vào tội ác diệt chủng của Israel ngay lúc này, và quá trình đàn áp người Palestine trong suốt 75 năm qua, nếu không phải vì có đủ nhiều bằng chứng thì chỉ có những thằng ngu mới có thể tin rằng chỉ vài thế hệ trước tổ tiên của người Israel đã từng là nạn nhân của Holocaust.

Tin nhắn

Thầy tôi ở Kyodai có phong cách viết email làm cho tôi vào những ngày đầu cảm thấy khá bất ngờ. Bây giờ chắc nhiều người đã dùng AI để soạn văn bản. Tôi thường viết prompt là một vài câu ngắn gọn và bảo chatGPT hãy viết lại những câu đó thành một email lịch sự. Email của thầy tôi thường giống prompt mà tôi đưa cho chatGPT.

Bây giờ thì tôi thích phong cách viết email ấy. Nếu tất cả mọi người đều có thể viết email như vậy thì xã hội sẽ hiệu quả hơn nhiều, nhưng có lẽ chuyện ấy sẽ không xảy ra. Một vài người quá xem trọng cảm giác, và luôn read between the lines dù đối phương chẳng viết gì giữa những dòng chữ. Vào vấn đề quá nhanh có thể bị coi là đường đột, viết quá ngắn có thể bị coi là không lịch sự. Một vài người khác thì xem trọng cảm giác của những người trên, và thế là khi nói chuyện, khi viết thư, chúng ta cứ phải nghĩ nhiều hơn những gì ta cần nghĩ.

Instagram

Nhiều năm trước, sau khi đến làng gốm Tokoname, tôi đã đăng bức ảnh đầu tiên trên Instagram, bức ảnh về những đồ trang trí hài hước làm bằng gốm. Không có lý do rõ ràng, nhưng kể từ đó tôi đã luôn chỉ đăng những bức ảnh tôi cảm thấy đẹp và gợi nhớ về một kỷ niệm. Có những khi nhiều tháng không có một bức ảnh nào được đăng.

Vài ngày trước, tôi đã lập một tài khoản Instagram mới, và đăng mọi thứ. Mỗi lúc rảnh, tôi có thể mở thư viện ảnh của mình và đăng một tấm bất kỳ nhìn có vẻ đẹp. Tôi không còn chọn lọc để đăng, và cảm giác đó rất thoải mái.

Nếu bạn đã từng thích những bức ảnh của tôi, hy vọng bạn cũng sẽ thích những bức ảnh trên tài khoản mới này.

Tiếng Nhật

Gần đây, tôi bắt đầu tách một phần nội dung trên blog này và chuyển sang các blog mới. Lý do là tôi đã viết về mọi thứ ở đây, nhưng như vậy có lẽ sẽ làm phiền những bạn đọc vốn chỉ quan tâm đến một trong số những chủ đề tôi viết.

Đầu tiên, tôi đã chuyển mọi thứ có liên quan tới công nghệ và kỹ thuật, dù chỉ chút ít, sang blog Peameria. Sau đó, tất cả những gì có liên quan tới nước Nhật đã được chuyển sang blog Naresome. Tôi rất vui và cảm kích nếu các bạn đã biết đến tôi từ những bài viết về tiếng Nhật ở đây tiếp tục đăng ký blog Naresome. Tất nhiên, các bạn có thể bỏ qua bước đăng ký và vẫn tiếp tục đọc bình thường.

Ban đầu tôi dự định viết Naresome trên WordPress, nhưng ngày nay WordPress hạn chế dung lượng lưu trữ xuống còn 1GB trên các tài khoản miễn phí, hạn chế các chức năng thống kê, và đôi lúc hiện quảng cáo trên các bài đăng. Vì thế, tôi chuyển sang Substack, nơi không có hạn chế dung lượng, không giới hạn chức năng thống kê, không hiện quảng cáo, và có giao diện mặc định tối giản – thứ mà không hề dễ tìm trên WordPress.

Tàu điện ngầm

Một buổi sáng mùa đông năm 2007, khi ga tàu điện ngầm ở L’Enfant Plaza có khá đông người qua lại, một nghệ sĩ vĩ cầm đã chơi một vài trong số những bản nhạc phức tạp và nổi tiếng nhất, ở một góc gần lối vào. Một vài người dừng lại lắng nghe, nhưng hầu hết cứ thế bước qua. Vài người cho người nghệ sĩ tiền, tổng cộng hơn 30 đô la.

Một bài báo viết về buổi biểu diễn này của người nghệ sỹ đã giành giải Pulitzer cho báo chí. Tại sao ư? Đó không phải là một nghệ sỹ đường phố mà là Joshua Bell, một trong những nghệ sỹ đương đại vĩ đại nhất. Ông đã tham gia một thí nghiệm ở ga tàu điện ngầm, sử dụng cây đàn Stradivarius trị giá 3.5 triệu đô và chơi những bản giống như ông đã trình diễn ở Thư viện Quốc hội trước đó không lâu trong một khán phòng chật kín khán giả, những người phải bỏ ra trung bình 100 đô để có thể xem Bell.

Tài năng của Joshua Bell là không thể phủ nhận, ông chơi đàn ở ga tàu điện ngầm cũng y như cách mà ông chơi đàn ở trong khán phòng, nhưng gần như không có ai ở dưới ga tàu nghĩ rằng âm nhạc mà họ đang được nghe là của một nghệ sỹ đẳng cấp thế giới. Vấn đề không phải là thực lực, vấn đề là thực lực ấy được dùng như thế nào, điều đó sẽ quyết định việc người ấy được đón nhận như thế nào.

Nếu bạn thấy mình có tài năng nhưng công chúng lại không biết tới, thì tất nhiên rồi, công chúng không có khả năng nhận ra tài năng. Có thể nếu Bell không chỉ đơn giản chỉ là một trong những nghệ sỹ tài năng nhất thế giới mà là một vị thần, có thể dùng tiếng đàn để làm những người bình thường nhất cảm động, thì sẽ có nhiều người dừng lại ở ga tàu hơn để nghe ông chăng?

Nếu bạn có rất nhiều nhận xét tốt, bạn có vẻ ngoài thuyết phục, bạn biểu diễn ở những nơi danh tiếng, thì rất có thể sẽ nhiều người tán thưởng bạn. Cuối cùng thì, sự thật là hầu hết mọi người chỉ có thể phân biệt được rất tệ và không tệ. Bell chơi trong một bối cảnh hạ ông xuống rất nhiều và nhận được kết quả như ta đã thấy. Nhưng tôi ngờ rằng nếu một nghệ sỹ kém cỏi hơn ông rất nhiều nhưng ăn mặc chỉnh tề và biểu diễn trong một khán phòng lộng lẫy, phần lớn mọi người sẽ vỗ tay.

Những thí nghiệm như thí nghiệm ga tàu điện ngầm chứng tỏ rằng đầu tư công sức vào gỗ nhiều khi không đem lại hiệu quả bằng đầu tư vào nước sơn. Nếu bạn băn khoăn rằng vẻ bề ngoài có quan trọng đến thế không, thì đúng vậy, bề ngoài rất quan trọng.

Thật ra bài viết này tôi muốn nói tới anh Hiếu tv, chứ không phải các nghệ sỹ vĩ cầm. Tôi vốn thấy những chia sẻ của anh rất hữu ích, và anh là người đáng kính trọng, cho tới khi anh bán khóa học. Thật ra thì vấn đề của anh rất rõ ràng, chỉ là nhiều người vì cảm mến mà quyết định rằng sẽ tin những điều anh nói. Anh luôn nói rằng mình chia sẻ chỉ để giúp đỡ cộng đồng, rằng anh là người giản dị và không khoe khoang. Có điều, anh là bậc thầy trong việc dùng câu, “tôi nói không có ý muốn khoe, nhưng …” và anh dùng câu dó mỗi một hoặc hai podcast của mình. Những lần anh không muốn khoe mà vẫn phải khoe chính là những lúc anh gieo vào đầu những người đi tàu điện ngầm ý nghĩ rằng anh là một nghệ sỹ đẳng cấp, dù theo CV của anh thì tới năm 2015 anh chưa từng chơi đàn. Anh nhắm tới những người thiếu kinh nghiệm nhưng có khát vọng làm giàu, anh tự pr bản thân một cách bài bản và bán những kiến thức miễn phí trên mạng với cái giá gần bằng một tháng lương của một sinh viên mới ra trường, nhưng với cách nói chuyện như thể đang làm từ thiện. Tôi cảm thấy việc anh làm là độc ác và có tính toán.

Tôi không nghĩ một người khiêm tốn và sống tối giản có thể nói những điều anh nói. Tôi không nghĩ một người có thực lực, tự do tài chính và muốn cống hiến cho cộng đồng lại làm khóa học như cách anh làm. Tôi rất nghi ngờ Hiếu tv. Khi đọc bạn Thái Đức Phương và biết về quá khứ của anh Hiếu thì tôi hết nghi ngờ. Có lần anh nói rằng tình yêu cũng giống như chiếc xe, hỏng thì phải thay xe khác. Tôi thấy phẫn nộ, nhưng anh có thể nói ra điều đó thì cũng không có gì bất ngờ. Đôi khi anh nói những điều hay và đúng, như trong những video khi anh mới làm. Nhưng nói như bạn Phương thì, anh cho mọi người ăn cơm, rồi khi mọi người tin tưởng thì anh cho mọi người cơm trộn cát. Tôi sẽ khuyên mọi người nên tránh xa anh, trước khi ngộ độc cát.

Quay lại với câu hỏi của chúng ta, vẻ bề ngoài quan trọng đến thế sao? Bell bị ngó lơ vì thiếu một tấm phông, anh Hiếu đạt được mục tiêu vì vẽ được một tấm bạt đẹp, nên đúng, bề ngoài rất quan trọng. Trước khi làm một việc gì, chúng ta rất cần soi gương.

Điệu nhảy của người Tây Tạng

Một tác giả nói rằng điệu nhảy truyền thống của người Tây Tạng mang trong nó triết lý rất sâu sắc. Trong những điệu nhảy kể về cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, những vũ công mang những mặt nạ nhiều màu sắc. Những người anh hùng có mặt nạ tươi sáng đẹp đẽ, những kẻ ác có mặt nạ tối tăm. Khi điệu nhảy diễn ra, chúng ta sẽ thấy những người anh hùng chiến thắng. Đây là lúc người ta sẽ thấy một triết lý sâu sắc hơn. Mặt nạ của những người anh hùng dần dần thay đổi, chúng tối dần, và đến một lúc nào người xem cũng không để ý, gương mặt của những người anh hùng trở nên giống hệt những kẻ ác mà họ đã tiêu diệt. Những người anh hùng mới xuất hiện, và điệu nhảy cứ thế tiếp diễn.

Điệu nhảy nói lên rằng, cái thiện sẽ chiến thắng cái ác. Chiến thắng thuộc về cái thiện, chứ không thuộc về một ai. Đôi khi, người ta là anh hùng chỉ vì người ta không có khả năng trở thành kẻ ác. Khi có cơ hội, anh hùng có thể sẽ chọn làm ác nhân. Điệu nhảy mang ý nghĩa thâm sâu như vậy, tôi rất muốn xem, nhưng tìm kiếm trên mạng mà không thấy. Chuyện đó có thật không? Dù tác giả đã tự tạo ra câu chuyện, hay là tôi chưa tìm đúng chỗ, không có nguyên nhân nào làm cho sự thật kia ngừng đúng. Các triều đại bị lật đổ bởi khởi nghĩa của người dân thường cũng được sinh ra bởi một cuộc khởi nghĩa khi triều đại trước làm dân chúng lầm than. Có những chính trị gia tha hóa vốn bước vào con đường chính trị để chống lại những chính trị gia tha hóa.

Tám mươi năm trước, một anh họa sĩ người Áo đã gây ra cái chết cho vô số người Do Thái. Nhưng ngay bây giờ, một đất nước mà phần lớn là người Do Thái đang gây ra những tội ác man rợ không kém gì anh họa sĩ. Israel đang giết hại hàng trăm trẻ em Palestine mỗi ngày và khủng bố những người chưa bị giết bằng bom đạn và tra tấn. Tôi thật sự tin rằng những ai có thể bênh vực tội ác diệt chủng thì hoặc là bị tiền và quyền làm cho mờ mắt, hoặc là đã bị đầu độc bằng truyền thông phương Tây. Cơ thể bị đầu độc thì dễ chữa, tâm hồn bị đầu độc thì không. Không biết những kẻ theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái sẽ nhảy múa tới bao giờ.

Đơn giản

Một blogger mà tôi theo dõi kể về mẩu đối thoại cuối cùng với ông ngoại. Blogger hỏi: “Ông có hối hận vì đã đi đánh Pháp không?”, người ông trả lời: “Không, Pháp nó đến cướp nước mình thì mình phải đánh lại nó.” “Ông có hối hận vì đã hiến 30 căn nhà ở phố Bạch Mai cho nhà nước không?” “Không. Nếu không hiến thì làm sao mẹ cháu được học đại học.” Người ông có thể trả lời mỗi câu hỏi bằng một bài văn, nhưng ông đã nói điều đối với ông là quan trọng nhất, và thế là đủ.

Tôi đã thường hay giải thích mọi thứ một cách dài dòng, và đôi khi làm cho ý tưởng quan trọng nhất bị lạc giữa một rừng câu chữ. Người ta có xu hướng chấp nhận việc không có một câu trả lời đơn giản nào cho mọi vấn đề, nhưng không cần thiết phải như vậy. Khi tìm kiếm những câu trả lời thật “toàn diện”, người ta cũng sẽ tìm thấy cách đổ lỗi, ngụy biện, viện cớ, và vô vàn thứ vô dụng khác. Nếu buộc phải chọn, lúc nào ta cũng vẫn sẽ thấy một nguyên nhân chính cho mỗi việc.

Autotune

Nhiều năm trước có một vài ca sĩ mà sự nghiệp được xây dựng trên Youtube bị tố dùng autotune. Người ta nói họ không phải ca sỹ, họ không thể hát được nếu không dùng phần mềm. Tôi chỉ nghĩ, dùng autotune thì sao. Người nghe muốn nghe thứ họ muốn nghe. Những ca sỹ đó cho người nghe thứ mà họ muốn. Đó cũng giống như bán hàng mà thôi. Mấy ca sỹ ấy không khoe giọng mình hay, cũng không đi dạy thanh nhạc, họ chỉ đơn giản là upload sản phẩm của mình. Cuối cùng thì, là một người nghe, tôi tìm thứ mình muốn nghe, tôi không hỏi nhiều.

Việc những ca sĩ đó dùng autotune cũng như mọi người dùng công cụ. Không ai nói tôi không phải là một kỹ sư chân chính vì tôi dùng phần mềm chứ không thiết kế bằng tay. Cuối cùng thì, khách hàng muốn sản phẩm tốt. Không ai chỉ trích ca sĩ, diễn viên hay một cô gái bất kỳ trên đường vì họ trang điểm. Giọng hát không thật, khuôn mặt cũng đâu có thật, nhưng đó là những điều chúng ta muốn.

Gần đây tôi chỉnh sửa ảnh nhiều hơn trước đây, và tôi thấy không có vấn đề gì với việc ấy. Tôi không theo đuổi việc trở thành một nhiếp ảnh gia máy ảnh phim, cũng không theo đuổi việc có những bức ảnh càng thật càng tốt. Tôi theo đuổi những bức ảnh đem lại cảm xúc cho người xem, và có vài phần mềm rất tốt cho việc ấy.

2023-11-20

Chặn quảng cáo

Đôi khi quảng cáo có ích, phần lớn thời gian chúng phiền phức, đôi khi chúng độc hại. Tôi nghĩ mình đã nói về điều này một vài lần, nhưng một lần nữa, các bạn đọc của tôi, xin hãy chặn quảng cáo. Bạn có thể chặn quảng cáo bằng Brave, AdBlock, uBlock, Blokada, Pi-hole, AdGuard, bất kì thứ gì bạn thấy tiện.

Tôi không muốn bạn đọc của mình bị làm phiền bởi quảng cáo ở bất kỳ đâu. Những công cụ trên sẽ giúp chặn quảng cáo ở hầu hết các trang web và ứng dụng trên điện thoại, hoặc thậm chí trên smartTV. Tôi sẽ ghim bài viết này lên đầu trang một thời gian.

Bài viết về Brave đã được chuyển sang blog Peameria, nếu bạn muốn đọc lại hãy mở ở link dưới đây.

Góc nhìn

Khi còn bé tôi học chuyên lý. Lúc biết được rằng có thể tính toán với mạch điện có cuộn cảm và tụ điện chỉ bằng cộng trừ nhân chia, tôi thấy thật tuyệt vời. Những mạch điện ấy, bình thường phải dùng đạo hàm tích phân, nhưng chỉ cần biến đổi sang dạng số phức thì tất cả các phép tính trở nên đơn giản.

Ngay cả với những thứ nghe có vẻ khó hơn nhiều, chúng ta cũng có thể làm điều tương tự. Nếu bạn phải xử lý tín hiệu, thì cũng vẫn là tích phân và những chuỗi vô hạn, nhưng nhức đầu hơn nhiều. Vậy mà những phép biến đổi như Z hay Laplace vẫn đưa những tính toán đó về cộng trừ nhân chia như thường.

Khi ta thực hiện những phép biến đổi ấy để giải quyết vấn đề, thực ra vấn đề của ta đâu có thay đổi, chỉ là ta nhìn thấy nó khác đi mà thôi. Không phải một vấn đề là khó, mà là cách ta giải quyết nó là cách khó.

Nếu học làm người cũng giống như học làm kỹ sư điện thì tốt biết bao. Khi ta gặp một vấn đề khiến mình phiền não, rất có thể đã có ai đó từ vài trăm năm trước tìm ra một phép “biến đổi hiện thực”, khiến ta nhìn cuộc đời theo một cách khác, và nhận ra vấn đề của mình không nan giải đến thế.

Mà biết đâu, cuộc đời đúng là như vậy, chỉ là ta chưa biết cách dùng phép biến đổi ấy thôi.

Chia bánh

Nghe nói 8 năm trước người ta đã tìm ra phương pháp chia bánh có thể làm thỏa mãn tất cả mọi người được chia. Vấn đề là số lát cắt cần thiết nhiều tới mức phi thực tế.

Nếu chỉ có hai người, phương pháp rất đơn giản: tôi chia bạn chọn. Để một người cắt bánh làm hai phần, và người còn lại chọn một trong hai phần đó. Không ai có thể phàn nàn.

Sẽ ra sao nếu có ba người, bốn người, hay một trăm người? Đó là một bài toán rất khó giải. Lời giải hiện tại cũng không thể áp dụng vào thực tế, vì số lát cắt cần thiết quá nhiều. Nhưng loài người cần một lời giải có thể áp dụng của bài toán này, bởi vì, đất đai, tài nguyên, cơ hội, …, tất cả chỉ là những loại bánh khác nhau mà thôi. Con người biết chia bánh, thế giới sẽ hòa bình.

2023-11-20

Truyện cổ

Người ta chặt một cái cây, lấy gỗ làm ba chiếc thùng. Một thùng đựng phân, mọi người xa lánh, một thùng đựng nước, mọi người đều dùng, một thùng đựng rượu, ai cũng thưởng thức.

Cùng là thùng, cùng làm từ một cây, mà khác nhau rõ ràng. Con người cũng vậy, có khi không phải là bản chất khác biệt, mà chỉ là do lựa chọn khác biệt, sẽ dẫn đến sự nghiệp và số phận khác biệt. Khi ấy bản chất cũng sẽ thay đổi. Chiếc thùng đựng phân, vẫn làm từ gỗ, nhưng dù có rửa sạch đến thế nào, cũng không ai dùng đựng rượu. Đó không phải là sự kì thị, sự thật là chất gỗ đã biến đổi, rửa bao nhiêu cũng khó hết mùi.

2023-09-23

Câu hỏi bất ngờ

Có lần khi tôi đang học tiểu học, vào giờ toán không hiểu sao cô giáo lại ra ngoài. Tình cờ cô hiệu trưởng bước vào, nhìn lên bảng và hỏi chúng tôi những câu đơn giản. Mười nhân một bằng bao nhiêu? Mười. Hai mươi nhân không bằng bao nhiêu? Không. Năm chia một bằng bao nhiêu? Năm. Năm nhân không bằng bao nhiêu? Không. Đại khái là những câu hỏi kiểu như vậy.

Năm chia không bằng bao nhiêu? Không. Cả lớp trả lời. Mà bài học hôm ấy tiêu đề vẫn rõ ràng trên bảng: “Không thể chia cho 0”

Bác Daniel bảo rằng con người có hai bộ não. Cái thứ nhất cực kỳ hiệu quả về mặt năng lượng, nhưng cái thứ hai mới thường đúng. Chọn lọc tự nhiên khiến cho những thứ còn tồn tại buộc phải hiệu quả về mặt năng lượng, nhưng khi xã hội đã đạt đến trình độ quan tâm đến phép chia cho không thì nên dùng bộ não thứ hai.

2023-11-21

Carrot

Thứ sáu, Khuất tặng tôi một con dao gấp in 3D. Gọi là con dao nhưng nhìn nó rất béo, in bằng nhựa màu cà rốt và màu lá chuối non, gập vào thì chỉ ngắn bằng một ngón tay. Rõ ràng nó là con dao mà nhìn vào tôi cứ liên tưởng đến củ cà rốt.

Thứ năm, Khuất tặng anh Đằng một thanh Katana 3D nhìn rất thú vị. Lúc đó tôi chợt nhận ra là Khuất đã tặng nhiều người trong phòng những món đồ như thế.

Khi mọi người nói chuyện với nhau, ở đây tôi thấy ai cũng thân thiện với đối phương, nhưng có những hành động đơn giản mà nhìn vào có thể thấy cảm tình của một người với người khác.

Với tôi thì những ai có mặt trong những bức ảnh mà tôi in là những người mà tôi quý mến. Những người tôi đã gửi ảnh qua Google Photos là những người mà tôi muốn làm bạn. Với thanh niên Khuất thì không phải những thứ liên quan tới ảnh mà là những thứ liên quan tới những vật được in 3D.

Tôi từng nhìn thấy củ cà rốt đó một thời gian trước, nó được in ra không phải để tặng tôi. Đó là một dấu trừ nhỏ, nhưng rõ ràng toàn bộ câu chuyện là một phép cộng lớn hơn nhiều.

2023-11-26

Cộng trừ

Cuộc đời là những phép tính. Rất nhiều khi nhìn vào những điều xung quanh, tôi thấy những phép cộng trừ. Và thú vị là tôi thấy những phép tính không được người ta nhìn như chúng vốn có.

Một người được một người khác giúp đỡ. Đối với cuộc đời họ, đó là một phép cộng. Có thể lần đầu họ cũng nhận ra điều đó, nhưng nếu nó kéo dài, họ sẽ không thấy phép cộng là một phép cộng nữa, mà là một điều hiển nhiên. Một ngày kia, sự giúp đỡ không còn. Đối với họ, việc ấy trở thành một phép trừ. Họ thất vọng, họ oán giận. Thật ra chẳng có phép trừ nào cả. Dốt toán khiến tâm trạng người ta xấu đi.

Tôi đã viết một chương trình nhỏ trong vài năm. Nhiều người thích nó. Một vài người e ngại. Một sự e ngại rất lớn của họ là sẽ đến một ngày tôi không bảo trì nó nữa. Tôi thường không nhìn sự việc như vậy. Dùng chương trình ấy là cộng thêm vào năng suất, không dùng nó thì cũng không có gì bị trừ đi. Nếu nghĩ vậy thì chẳng phải tốt nhất là cứ tận hưởng chương trình ấy sao.

20-11-23

Lịch sự

Tôi đi làm về muộn, đường đêm vắng xe. Nhưng mỗi khi có một chiếc xe ngược chiều vụt qua tôi, họ lại bật đèn pha. Chói mắt. Tại sao mọi người đều thiếu lịch sự với mình vậy, tôi không biết và bỏ qua như vẫn thường phản ứng với mọi việc. Nhưng đến chiếc xe thứ ba thì tôi có một ý nghĩ và kiểm tra lại đèn của mình. Hóa ra tôi đang bật đèn pha, và nếu có ai thiếu lịch sự thì đó là tôi.

Nếu một ngày cuộc đời đối xử tệ với ta, có lẽ tự soi gương cũng là cần thiết, vì khó ai tự biết được mặt mình có nhọ.

2023-11-24

HelloTalk

Là một người sống nhiều năm ở Nhật mà vẫn không nói được tiếng Nhật, tôi rất chăm cài app học giao tiếp. HelloTalk là một app như vậy, nó cho phép người dùng liên lạc với người bản xứ ở ngôn ngữ mà họ đang học.

Một ngày tôi tình cờ thấy bình luận của bạn tôi dưới một dòng trạng thái của một người dùng, thỉnh thoảng tôi cũng sửa tiếng Việt cho cô ấy. Tôi chợt nhận ra một điều bất công. Bạn tôi có bằng cử nhân luật và CNTT, cậu ấy đang làm postdoc về Deep Learning, cụ thể là Legal AI. Tiếng Việt của tôi thì không phải quá tốt nhưng chắc cũng đủ để tìm ra lỗi ngữ pháp bị bỏ sót trong sách đã được xuất bản, nếu có. Một người dùng bình thường trên HelloTalk có thể được review tiếng Việt bởi những người như bạn tôi và tôi, và đó là điều bình thường, nhưng tôi không biết ở đâu một bạn trẻ Việt Nam mới học tiếng Nhật hay tiếng Anh lại có thể được chữa bài viết bởi các giáo viên hay kỹ sư bản xứ.

2024-01-27

Từ Hán Việt

Rất nhiều thuật ngữ khoa học của trong tiếng Việt là từ Hán Việt. Lý do, mặc dù nghe có vẻ buồn cười, cũng giống như lý do có nhiều thuật ngữ khoa học trong tiếng Trung sử dụng cùng những từ như vậy: chúng đơn giản được sao chép từ các thuật ngữ tiếng Nhật.

Thủa xa xưa khi Đông Á vẫn hoàn toàn nằm trong tầm ảnh hưởng của Trung Quốc thì Nhật đã bắt đầu có tư tưởng thoát Á và học các kỹ thuật phương Tây. Trong quá trình ấy họ đã tạo ra rất nhiều từ ngữ để mô tả các khái niệm người Nhật chưa từng biết tới. Thời ấy các nhà khoa học Nhật cũng văn chương đầy mình, họ đã tạo ra được các tổ hợp chữ Hán để miêu tả các khái niệm mới đó. Ngày nay thì có lẽ quốc văn không còn được coi trọng, hoặc mỳ ăn liền đã trở thành món quốc dân, nên các khái niệm mới khi vào tiếng Nhật thường là biến thành katakana chứ không có chữ Hán.

Khi các dân tộc Đông Á khác tiếp xúc với khoa học, họ có hai lựa chọn để dịch thuật ngữ. Lựa chọn số 1 là vắt óc nghĩ ra từ nào vừa gần gũi trong ngôn ngữ mình vừa diễn tả được khái niệm, lựa chọn số 2 là đơn giản dùng luôn thuật ngữ mà đã có dân tộc khác tạo ra cho mình, và mình đọc được. Thế là người Trung Quốc thì có thuật ngữ ngay lập tức, còn người Việt thì có các thuật ngữ đọc bằng âm Hán Việt.

Nghe có vẻ trớ trêu nhưng chữ Cộng hòa trong Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lại không phải là tiếng của nhân dân Trung Hoa, nó vốn được người Nhật tạo ra.

2024-01-27

Cảm giác chiến thắng

Tôi từng nghĩ thực vật đứng cuối, hoặc giỏi lắm thì cũng cỡ áp chót chuỗi thức ăn. Nhưng những cái cây có nghĩ thế không?

Nếu chúng ta nghĩ về câu chuyện của một ngày, thì những thứ khác ăn thực vật. Nhưng trong một trăm năm, một ngàn năm, hay một triệu năm, những thứ mà ăn thực vật, đều sẽ mất, hòa vào đất, và trở thành thức ăn của thực vật.

Trong thế giới của con người, ai có tầm nhìn xa hơn, sẽ dễ đến nơi họ muốn đến hơn. Những cái cây tính dài hơn thời gian của đời người.

Con người nghĩ mình nắm quyền sinh sát đối với rau cỏ, một người luôn xếp trên một cái cây. Nhưng ở cấp độ giống loài, có phải như vậy không?

Sự thâm sâu trong suy nghĩ của đám cây cỏ là chúng làm cho thức ăn của chúng, hay con cháu chúng, dù bản thân là thức ăn mà lại nghĩ mình là kẻ săn mồi. Tôi thích cách nghĩ của những cái cây, chiến thắng quan trọng hơn cảm giác chiến thắng. Cảm giác đó cho ai cũng được.

2024-01-27

Sách

Cô giáo của Kumori chan mới xuất bản sách, hơi mỏng và đắt. Vài trăm ngàn cho vài chục trang sách nếu chữ in bằng size bình thường, của một tên tuổi không lớn. Tôi nghĩ dù có quan tâm tới ngành đó cũng sẽ không mua sách ấy. Tư duy của người nghèo :))

Cũng vẫn nghèo như vậy, nhưng nếu đó là sách của một ngôi sao, thì đắt hơn chục lần chắc tôi cũng vẫn sẽ mua. Ngày xưa tôi từng định viết sách, thực ra là bây giờ vẫn định. Chờ đợi đến thời điểm hoàn hảo thì theo thống kê sẽ chờ đợi suốt đời, nhưng tôi ước mơ là khi tôi ra sách thì tác giả của nó đã là một ngôi sao đủ lớn để những người như tôi bây giờ có thể mua không chần chừ, dù đắt tới cỡ nào.

Tất nhiên, một ngôi sao thì có lẽ sẽ để giá sách vừa phải thôi.

2024-01-27

Viên mãn

Năm 2022, cùng một lúc mấy ngôi sao sáng trên bầu trời của tôi vụt tắt: sư cụ chùa Từ Hiếu, hiệu trưởng sáng lập trường tôi, và một nhà sư dưới vỏ bọc doanh nhân ở Kyoto.

Tôi có ba năm ở chung một thành phố với nhà sư, lui tới những ngôi chùa mà ông có lẽ cũng hay lui tới. Có một lần thầy hiệu trưởng bắt tay và dặn tôi cố gắng. Tôi từng đi qua chùa Từ Hiếu một lần, và từ nay có lẽ mỗi năm đều sẽ tới thành phố có ngôi chùa ấy. Ngoài ra, ngoài việc đọc và nghe họ rất nhiều, tôi gần như chẳng có mối liên hệ nào với họ, nhưng nghe tin tôi vẫn sững sờ. Họ đã có một cuộc đời viên mãn, đã để lại cho hậu thế nhiều di sản giá trị. Cuộc đời họ có lẽ không có bao nhiêu điều nuối tiếc, vậy mà khi nghe tin tôi tiếc nuối và buồn khó tả.

2024-01-27

Những bầu trời

The West won the world not by the superiority of its ideas or values or religion, but rather by its superiority in applying organized violence. Westerners often forget this fact, non-Westerners never do.
Samuel P. Huntington

Năm 2022, một ngôi sao trên bầu trời nước Anh ngừng sáng. Trước khi ngôi sao vụt tắt, người dân Anh đau buồn, nhưng một giáo sư ở Carnegie Mellon lại phát biểu rằng muốn ngôi sao phải chịu nỗi đau cùng cực.

Hóa ra là một cuộc thảm sát đã cướp đi sinh mạng của một nửa gia đình vị nữ giáo sư nhiều chục năm về trước trước đã được giật dây và hỗ trợ bởi chính quyền Anh, cũng như cách mà Anh cùng với Mỹ và các đồng minh khác đang hỗ trợ cho cuộc diệt chủng người Palestine hiện nay.

Nữ hoàng Anh không phải là người nắm quyền lực và ra những quyết định tàn bạo vô nhân tính đó, nên có lẽ bà không đáng bị vị giáo sư nguyền rủa như vậy. Nhưng những kẻ lên án cô vì phát biểu ấy, nếu không vô cảm, ngu dốt, vô nhân tính, thì cũng là đạo đức giả.

2024-01-27

Public

Cảm ơn các bạn đã luôn đọc những bài viết của tôi. Từ hôm nay blog này sẽ trở lại public và sẽ đăng những bài viết ngắn gọn hơn trước.

Tôi cũng đã bắt đầu một blog khác với chủ đề khoa học cho mọi người, là Peameria. Nếu bạn thấy một bài viết nào đó trên các blog của tôi có ý nghĩa, hãy chia sẻ nó với những người mà bạn nghĩ rằng cũng sẽ cảm nhận được ý nghĩa ấy. Xin cảm ơn bạn.

Tầng hầm thư viện

Thư viện Kyodai có 7 triệu tài liệu, trong đó có một bảo vật quốc gia, và là hệ thống thư viện lớn thứ ba cả nước. Tòa nhà thư viện gần tháp đồng hồ ở Yoshida có tầng hầm, mà mãi về sau tôi mới biết. Lần đầu tiên xuống hầm, cảm giác giống như trở về thời trung cổ, hay vào một câu chuyện như Harry Potter vậy. Gần như không có người, chỉ có những giá sách với những cuốn sách khổ lớn, bìa cứng nhiều họa tiết và mạ thứ gì đó màu vàng. Có những cuốn chữ tượng hình, mà không phải chữ Hán, có lẽ là chữ Ả Rập. Và có nhiều tầng hầm. Chúng kỳ bí, thú vị, và nếu xuống sâu quá thì cũng hơi đáng sợ nữa.

Người khác

Anh luật sư kể về thân chủ của mình trong một vụ ly hôn. Hai anh chị gặp nhau khi cùng học ĐH Y. Chị quyết định lui về hậu phương, giúp anh tập trung vào sự nghiệp. Anh trở thành trưởng khoa của một bệnh viện. Anh quen một cô gái ở tiệm cắt tóc, và anh quyết định ly dị. Sau bao nhiêu năm hy sinh vì anh, chị không có gì cả ngoài hai đứa trẻ.

Câu chuyện làm tôi có hai điều suy nghĩ.

Một, không bao giờ hy sinh vì người khác với mong muốn được đền đáp. Bản thân việc hy sinh vì người khác không có vấn đề gì, nhưng kỳ vọng người ta sẽ biết ơn mình, hoặc sẽ vì mình mà làm những điều mình muốn, thì chính là đang nuôi dưỡng mầm mống của sự bất hạnh cho bản thân, hoặc cho người khác, dù không phải mầm nào cũng lớn thành cây.

Hai, người mà ta gặp ngày hôm nay không phải là người mà ta sẽ gặp vào ngày mai, dù bề ngoài có giống nhau đến thế nào đi nữa. Con người thay đổi. Thay đổi không có nghĩa là khác đi, mà là biến thành người khác. Ngay cả bản thân bạn cũng có thể không thể nghĩ lại được những điều bạn đã từng nghĩ vào năm trước, tháng trước, tuần trước, hay thậm chí ngày hôm qua. Bạn có thể không thể tin được những điều bạn đã từng tin, và gần như chắc chắn có những cảm giác bạn không thể tái tạo. Bạn của hiện tại không phải là con người đã từng có những suy nghĩ, niềm tin, và tình cảm ấy. Người khác cũng vậy.

Chàng sinh viên y năm nào có thể đã yêu thân chủ của anh luật sư tha thiết, nhưng ông trưởng khoa thì không.

Trứng

Lúc còn nhỏ, tôi theo học thầy Thành. Lần đầu tiên đến nhà tổ ở Nam Định, bạn tôi thấy có người ăn trứng và băn khoăn không biết ăn trứng có coi là ăn chay không. Tôi cũng vậy. Có người bảo ăn trứng vẫn là ăn chay. Có người thì bảo ăn trứng mà không có sống, tức là ăn quả trứng mà sẽ không nở ra gà con, mới là ăn chay.

Bây giờ có nhiều quán chay mà người ta quảng cáo là làm giả mặn rất ngon. Có những món ăn giống thịt gà, thịt bò như thật. Tôi thì nghĩ đó không phải là ăn chay, mà là ăn mặn. Nếu người ta tự hào về việc ăn chay ấy thì nó còn tệ hơn nữa, đó là ăn chay kiểu đạo đức giả.

Trước đây khi Đức Phật mới thu nhận đệ tử, chưa có nhiều giới luật như bây giờ. Chuyện kể rằng có một tỳ kheo trong lúc tu hành đã về nhà và ngủ với vợ. Tỳ kheo đó về sau trong lòng có nhiều lưu luyến, không thể tập trung tu hành. Từ đó mới có giới luật không gần nữ sắc. Điều đó có nghĩa là, nếu tỳ kheo đó vẫn ở với vợ mà vẫn chuyên tâm tu hành, thì sẽ không có điều luật đó. Nói cách khác, chuyện sắc dục bị cấm chỉ vì nó rất liên quan, chứ không phải tuyệt đối sẽ có ảnh hưởng. Ngày nay thì các nhà sư ở Nhật vẫn lấy vợ như thường. (Thậm chí họ còn là lựa chọn rất tốt cho các chị em, vì có địa vị xã hội, công việc ổn định, và không ngoại tình.)

Dễ hiểu hơn thì thứ bị cấm là để tâm trí bị cuốn vào chuyện sắc dục, chứ không phải bản thân sắc dục. Tất nhiên tâm trí đã bị cấm, nhưng người ta không thể dễ dàng kiểm tra, nên mới cấm cả biểu hiện bên ngoài của nó. Cốt lõi là tư tưởng chứ không phải biểu hiện bên ngoài.

Có một câu chuyện liên quan thế này. Có hai nhà sư phải băng qua một con suối, cùng lúc đó họ thấy có một cô gái trẻ cũng muốn băng qua nhưng lại không dám lội nước. Vì thế một nhà sư đã cõng cô qua suối. Lúc về đến chùa, nhà sư còn lại bảo: Tại sao thầy lại cõng cô gái ấy, thầy làm thế là đã phạm vào sắc giới. Nhà sư kia trả lời: Tôi đã thả cô gái xuống ở bên kia bờ suối, sao thầy còn cõng cô ấy về tận đây.

Ở đây, ai mới là người để tâm trí bị ám ảnh bởi nữ sắc?

Quay về chuyện ăn chay, Phật cũng không có nói tuyệt đối không được ăn mặn, nhưng tuyệt đối phải giữ tâm từ bi. Điều quan trọng không phải thứ mình đưa vào miệng có phải là thịt hay không, mà là mình có lòng thương xót khi thấy một sinh mạng bị tước đi hay không. Nếu một người muốn ăn thịt, nhưng lại phải ăn chay vì muốn được tiếng là ăn chay, và rồi ăn các món giả mặn, đó là một loại đạo đức giả, dù người ta có nhận ra hay không. Khi ăn chay giả mặn thì không nên làm như đó là việc liên quan đến chuyện tu hành. Cảm thấy vui thú khi ăn một thứ giống như thịt, dù nó có phải là thịt hay không, không phải là một điều tốt cho việc nuôi dưỡng từ tâm. Giữa một người ăn nấm giả thịt bò với một người ăn thịt bò giả nấm, thì người ăn thịt bò giả nấm là người nghe theo lời Phật dạy hơn. Sự thật là, các Lạt Ma ở Tây Tạng vẫn ăn thịt trâu như thường.

Giờ thì bạn có thấy cần phải biết trứng gà có sống hay trứng gà không có sống mới là món chay không?

Thank you

Tôi có một chiếc cốc, một chiếc đĩa, một chiếc ô, và một chiếc gối hình Doraemon của Fujiko Pro. Tất cả là quà tặng của cô Akemi, có lẽ vì có lúc nào đó tôi đã nói với cô ấy rằng tôi thích Doraemon.

Không biết cô Akemi có thích Doraemon không, nhưng có vẻ cả hai thích cùng một con số: 39. Tôi cũng hay dùng số 25 và 39. Tên người dùng trên instagram của tôi có số 2525. Nó đọc giống như niko niko, từ tượng thanh có nghĩa là cười đối với người Nhật. 39 đọc là san kiu, nghe giống như cách người Nhật phát âm thank you. 39 được nhiều người trẻ dùng như một từ lóng có nghĩa là cảm ơn, và người Nhật dù lớn tuổi cũng hiểu ý nghĩa này của số 39.

Hôm nay khi đọc về Doraemon tự nhiên tôi phát hiện ra một điều thú vị. Tác giả Fujio nói Doraemon có 1293 bảo bối. Doraemon cao 129,3 cm, nặng 129,3 kg, đường kính tay và chân là 129,3 mm, mạnh 129,3 mã lực. Nếu là fan của Doraemon, bạn sẽ thấy con số 1293 này xuất hiện ở nhiều nơi nữa.

Người Nhật ghi ngày theo thứ tự ngược với người Việt Nam, và thường bỏ hai chữ số đầu. Chẳng hạn, ngày hôm nay có thể được ghi là 23/6/6. Ngày sinh của Doraemon, theo cách viết của người Nhật là 12/9/3. Doraemon sinh ngày 3 tháng 9 năm 2112. Đó không phải là điều thú vị mà tôi phát hiện ra ngày hôm nay. Tôi phát hiện ra tháng và năm sinh của tôi viết theo cách của người Việt sẽ là 1293.

Giới hạn của yêu thương

Trong một phóng sự trên VTV, người cha được phỏng vấn nói muốn lo việc cưới xin sớm cho con gái vì sợ con gái mình ế, sợ ảnh hưởng đến tương lai. Cô bé lấy chồng năm 16 tuổi. Đối với người cha, như thế đã là ế.

Niềm tin của người cha là lố bịch, nhưng nó không kỳ lạ. Đối với những thực thể từng trải hơn, có mức độ tiến hóa hay giác ngộ cao hơn, những hành động và niềm tin của tôi, và của bạn, cũng lố bịch như vậy.

Có niềm tin sai lầm không phải là một lỗi lầm quá lớn. Chúng ta không kỳ thị những người lầm đường lạc lối, cũng như ta không kỳ thị những người khuyết tật. Nhưng khi sự lầm đường lạc lối ấy ảnh hưởng đến người khác, đó là một tội ác. Trước khi người cha ép con gái mình kết hôn, anh ta là một người đáng thương. Sau khi làm thế, anh ta trở thành một người đáng trách.

Người cha bắt con gái mình tảo hôn không phải vì anh ta độc ác, mà ngược lại, vì anh ta yêu thương con gái mình. Nhưng yêu thương không đi cùng với hiểu biết có thể dẫn đến những hậu quả tai hại. Và bi kịch của xã hội chúng ta là các bậc cha mẹ tưởng rằng nếu họ làm điều gì đó xuất phát từ tình yêu thương, điều đó là tốt, và họ cho mình quyền quyết định cuộc sống của con cái.

Nhưng cha mẹ chỉ yêu thương con cái trong phạm vi hiểu biết của họ. Cha mẹ hơn con cái ở kinh nghiệm, mà xã hội thay đổi càng nhanh thì kinh nghiệm lại càng ít ý nghĩa.

Khi bạn vì yêu quý ai đó mà muốn họ làm gì đó, hãy nghĩ về điều này. Người cha trong phóng sự cũng vì thương con nên làm vậy, và anh ta nghĩ rằng mình đúng, hiển nhiên đúng.

Ignore

Mỗi lần đi xa về nhà, tôi lại thấy một xấp giấy tờ đang đợi mình trong nhà. Ở Nhật, các công ty, tổ chức và chính quyền vẫn dùng thư như một hình thức liên lạc quan trọng, và tờ rơi được phát vào hòm thư rất nhiều. Vì thế, không như ở Việt Nam, hòm thư ở Nhật là một thứ rất quan trọng.

Nhưng tôi thường không bao giờ đọc những giấy tờ được gửi cho mình, trừ khi nó được gửi từ một người bạn, hoặc có đóng dấu “Quan trọng” ngoài bì thư.

Tôi cũng không đọc những email có tiêu đề không rõ ràng, ngay cả khi chúng được gửi từ những người cùng công ty.

Tôi nói chung cũng không dùng fb.

FOMO khiến cho nhiều người không thể tưởng tượng một ngày họ có thể làm như tôi. Thực ra đó chỉ là một lựa chọn, và là một lựa chọn khiến cuộc sống nhẹ nhàng và thoải mái hơn. Nếu bạn cần phải biết một điều gì đó, bạn có thể chủ động tìm kiếm nó. Nếu người khác thật sự cần liên lạc với bạn, họ sẽ tìm được cách. Nếu không vì đặc thù công việc, phần lớn mọi người không cần phải check fb liên tục, không phải mở mọi email chỉ vì chúng không phải thư rác hay quảng cáo.

Tôi nghĩ rằng một phần nguyên nhân khiến con người ngày nay cảm thấy nhiều căng thẳng và mệt mỏi về tinh thần hơn so với thế hệ trước là do chúng ta có xu hướng chạy theo mọi thứ, không muốn bị bỏ lại, không muốn lạc loài với những người đang chạy. Chúng ta không nghĩ rằng đó là một cuộc đua, nhưng nó giống như thế. Đích đến của chúng ta thường không phải ở cuối đường đua, mà ở đâu đó bên cạnh, nhưng ta khó nhìn thấy vì bận nhìn con đường và những người đang chạy xung quanh.

Nếu bỏ qua nhiều hơn, tâm trí sẽ có nhiều khoảng trống hơn để cảm nhận sự bình yên, và nhìn thấy những thứ mà ta sẽ không nhìn thấy nếu tâm trí vẫn liên tục bị lấp đầy bởi những thứ ta không cần nhưng tưởng rằng mình muốn.

Tomodachi

Đôi khi chúng ta không giải thích được tại sao mình thích hay không thích một người nào đó. Dù ta không giải thích được, tôi nghĩ có lý do, chỉ là chúng ta chưa biết lý do đó. Với mỗi người thì lý do khác nhau, và gần đây tôi nghĩ đã tìm ra một vài lý do của mình.

Tôi thích những người yêu công việc của họ. Một người dành phần lớn thời gian của cuộc đời cho thứ mà họ yêu là người hạnh phúc, và có lẽ sự hạnh phúc toát ra từ họ khiến tôi yêu mến họ. Một vài người cảm thấy lạc lõng khi người khác đứng với nhau và nói về chuyên môn của họ trong những cuộc gặp gỡ (talk shop), nhưng tôi thấy nó thú vị. Khi bạn bè của tôi kể về công việc của họ, tôi nghe thấy sự hạnh phúc và tự hào, tôi cũng thấy hào hứng với những dự án mới của họ và khâm phục họ vì có thể làm những công việc ý nghĩa như vậy.

I admire those who care about others. I believe that individuals who bring others happiness also experience a sense of personal fulfillment and become happy themselves. I love being around them.

私に気をかけてくれる人や、私がやっていることに興味を示す人が好きです。もし誰かが私の写真や文章、思想、設計などを気に入ってくれて、興味を持って熱心に話してくれるのであれば、私もその人を好きになり、何でもしてあげたいと思います。Reciprocal liking と呼べるかもしれません。

Bảo hiểm

Tôi có nghe một thanh niên nói thế này: Ở Việt Nam, lúc nào người ta cũng tự mua bảo hiểm cho mình.

Điều đó không có nghĩa là các công ty bảo hiểm ở Việt Nam làm ăn phát đạt hơn nước khác, nó có nghĩa là người Việt “mua bảo hiểm” dưới nhiều hình thức và ở mọi lúc mọi nơi. Đi thăm người ốm là mua bảo hiểm, vì đến khi bản thân mình ốm sẽ được những người khác tới thăm. Mừng đám cưới là mua bảo hiểm, vì tới đám cưới của mình người ta sẽ đến mừng. Biếu tiền cho người già hay mừng tuổi trẻ con cũng là mua bảo hiểm cho mình, vì khi mình già sẽ có người biếu lại. Ngay cả việc lập gia đình hay sinh con cũng là bảo hiểm nốt, vì bản thân sẽ được chăm sóc khi về già.

Tôi biết có những người nghĩ như thế, và mặc dù đầu tư hàng trăm hàng ngàn khoản nhỏ vào những công việc của những người xung quanh là cách làm thật sự hiệu quả hơn là dùng ngân hàng hay các công ty cung cấp bảo hiểm kết hợp đầu tư, tôi ghét cách làm ấy.

Nếu ai đó lập gia đình để được chăm sóc khi về già, có lẽ những đứa con của họ sẽ phải lớn lên khi gánh trên vai nhiều kỳ vọng. Không biết những đứa trẻ có hạnh phúc không.

Khi tôi tặng ai thứ gì, đó là vì tôi quý mến họ và muốn thấy họ vui. Nếu có mục đích gì đó, thì mục đích của tôi chỉ là muốn vun đắp mối quan hệ. Tôi muốn cho đi vì niềm vui được cho đi, chứ không phải vì hy vọng sẽ được nhận lại, nếu có mong muốn đó, ngược lại tôi sẽ cảm thấy bị giày vò và đặt câu hỏi về đạo đức của bản thân.

Có một người bạn tôi rất quý kết hôn khi tôi ở Nhật, nhưng tôi không thể về, nên đã hỏi số tài khoản của cậu ấy. Cậu ấy bảo tôi không cần mừng gì cả, nếu tôi cưới cậu ấy cũng sẽ không mừng và thế là ổn. Lời của cậu ấy làm tôi thấy đau đớn. Có rất ít người tôi nghĩ rằng giống mình, và ngày hôm đó số ít ấy còn bị trừ đi một. Cùng một việc, tôi làm vì muốn chúc mừng bạn, nhưng bạn không muốn chúc mừng tôi mà chỉ cảm thấy cần trả nợ.

Mua bảo hiểm thì chẳng có gì sai, tất cả mọi người đều làm thế mà thậm chí chẳng hề nghĩ đó là mua bảo hiểm. Thế nhưng nếu có suy nghĩ rõ ràng về “bảo hiểm” như bạn tôi, thì có lẽ tìm đến các công ty bảo hiểm sẽ tốt hơn.

Không được ốm

Lúc tôi mới sang Nhật, có lần chị Lan bảo ở bên này chắc chị sẽ không ốm. Nếu ốm thì việc trên lab dồn lại, mọi người ở nhà lo lắng, đi bệnh viện thì phiền phức và đắt đỏ, nên chị tự dặn mình là không được ốm. Và chị không ốm thật.

Hôm nay sau gần 20 giờ ngồi trên máy bay và các loại tàu xe, tôi vẫn thấy giống như mình chỉ mới ra ngoài đi dạo về. Một phần lý do có lẽ là vì tôi đã có thể ăn uống nghỉ ngơi thoải mái. Chị Hòa gọi điện thấy thế nói rằng tôi khỏe thật, lúc ấy tôi nhớ lại lời chị Lan ngày xưa. Đúng là mấy năm qua tôi gần như không ốm. Nếu ốm rồi ở đây có một mình biết làm thế nào. Có lẽ sâu trong tiềm thức tôi cũng đã quyết định rằng mình sẽ không ốm.

Khỏe mạnh là tốt, nhưng những người có thể thoải mái ốm lúc nào họ muốn thật ra lại có thể là những người hạnh phúc hơn những người khác, dù họ có biết điều đó hay không.

Tự tin

ChatGPT rất tuyệt vời, nhưng nó có một vấn đề. Tất cả các câu trả lời của nó thường rất chắc chắn và nghe có vẻ thuyết phục. Vấn đề là, ngay cả khi không biết câu trả lời, nó cũng trả lời rất dõng dạc, như thể nó hoàn toàn chắc chắn. Trong trường hợp của tôi, một lần ChatGPT nói rằng Pháp vô địch WC2022. Chính xác là không phải một lần, mà là vài lần khi bị hỏi đi hỏi lại, cho đến khi nó nói rằng nó không có thông tin đó. Một lần khác, ChatGPT nói về MIT Maker Porfolio như một thứ để các nhà tuyển dụng tuyển sinh viên MIT, thông tin đó hơi ngược với thực tế.

Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng người ta có xu hướng tin vào những người tự tin và tỏ ra bản lĩnh, chứ không phải là những người thật sự hiểu biết và có bản lĩnh. Có thể điều đó giải thích cho việc rất nhiều người thất vọng về những chính trị gia mà họ đã bỏ phiếu. Trump, hay Obama, đều từng nói những thứ mà chỉ cần google là có thể biết ngay là dối trá, vậy mà cả hai vẫn được rất nhiều người tin tưởng gần như tuyệt đối. Ngay cả khi đã thất vọng, lần tiếp theo người ta cũng sẽ lại đi theo những người tỏ ra đáng tin, chứ không phải những người nói sự thật và khiêm tốn. (Và để làm cho sự thật này tồi tệ hơn, thì những người hiểu biết thường không sử dụng ngôn ngữ như thể họ không thể sai. Họ biết nghi ngờ những gì mình biết, vì họ tôn trọng sự thật hơn hiểu biết của bản thân.) Xu hướng tâm lý đó giống như một lời nguyền cho loài người.

Không biết ChatGPT học được cách nói chuyện đó từ chính trị gia nào, nhưng nó đã làm được như vậy. Nó có tố chất của một nhà diễn thuyết, hay một chính trị gia, ít nhất là ở khoản ăn nói. Nó khiến con người tin. Có rất nhiều người thường không kiểm chứng những gì nghe “có vẻ đúng”, và khi những người đó dùng ChatGPT, đó sẽ là một thảm họa.

Một khuôn mặt đáng tin

Nhiều năm trước, cuối một buổi chiều mưa tầm tã, tôi ăn tối với Li trong một quán ăn Trung Quốc gần Chùa Bạc. Tôi gặp Li không lâu trước đó khi chúng tôi cùng đến một buổi Zazen ở Tenryu-ji. Tôi không còn nhớ chúng tôi nói về những gì ngày hôm ấy, nhưng có một câu của Li mà tôi nhớ mãi: Bạn nhìn rất đáng tin cậy.

Tôi đã rất xúc động khi nghe câu nói ấy. Lần cuối cùng mà tôi có cảm giác như thế là vài năm trước đó, khi trong một buổi phỏng vấn, người phỏng vấn nói với tôi rằng: Tôi sợ rằng khi bạn vào đây, bạn sẽ sớm vượt qua tôi.

Hai câu chuyện không có liên quan gì tới nhau, ngoại trừ một việc, đó là hai câu nói đó là những câu mà tôi đã muốn nghe vào thời điểm đó. Khi có người nói ra, tôi gần như sững sờ. Lúc còn nhỏ, tôi rất muốn thể hiện bản thân mình. Khi lớn hơn một chút, tôi muốn trở thành một chỗ dựa cho những người xung quanh.

Không phải tôi đang kể về những kỉ niệm đẹp. Ngược lại, tôi đang nói về một kỹ thuật thao túng người khác. Bằng cách nào đó, nếu bạn biết mong muốn của người khác, bạn có thể rất dễ dàng làm họ lay động. Thanh niên đã phỏng vấn tôi rất nhiều năm về trước gần như chắc chắn là một kẻ ích kỷ muốn lợi dụng người khác, cụ thể là những người như tôi. Bằng cách thần kỳ nào đó, vào phút chót tôi đã từ chối. Li tốt nghiệp Bắc Đại, nơi đào tạo ra rất nhiều nhà ngoại giao và chính trị. Lần đó cô ấy đã không muốn tôi làm gì, nhưng tôi gần như đã sẵn sàng làm nhiều thứ trong khả năng của mình nếu cô ấy mở lời.

Thư mục

Khi lưu tài liệu trong máy tính, bạn có sắp xếp thành nhiều thư mục không?

Nếu câu trả lời là có, giống như rất nhiều người, bạn có thể thử bỏ hết các thư mục đi.

Mỗi khi chúng ta sử dụng các công cụ mới, thường thì chúng ta vẫn giữ các thói quen và quy tắc khi sử dụng các công cụ cũ, mặc dù các quy tắc đó không còn phù hợp nữa.

Chẳng hạn, bàn phím máy tính bình thường không khác bàn phím của máy đánh chữ là bao, nhưng lẽ ra không nên như vậy. Bàn phím của máy đánh chữ được sắp xếp để các phím không bị vướng vào nhau khi gõ, nó tối ưu tốc độ, nhưng chỉ là về mặt cơ khí. Ở bàn phím hiện đại, không cần phải tránh phím bị vướng vào nhau nữa, nhưng người ta vẫn giữ layout cũ. Thực ra, nếu dùng những layout khác, chẳng hạn như Dvorak, tốc độ gõ về lâu dài sẽ được cải thiện.

Tương tự như vậy, khi còn dùng tài liệu vật lý, chúng ta xếp chúng vào các thư mục để dễ tìm kiếm. Trong thư viện thì sách được xếp vào từng khu, từng dãy, mục đích chính là để dễ tìm kiếm. Nhưng máy tính ngày nay đã có tốc độ đủ cao để tìm kiếm trên thanh tìm kiếm còn nhanh hơn so với mở thư mục ra để mở tài liệu. Máy tính càng ngày càng nhanh, sẽ đến lúc mọi người đều thấy rằng việc tạo ra các thư mục là không cần thiết, và là một thói quen lạc hậu.

Bạn có thấy cách làm nào khác quanh mình đã lạc hậu nhưng mọi người vẫn nghĩ là bình thường không?

Innovation

Just came across this passage in a bigthink article. It resonates with my thinking so well that I can help but quote it here:

Innovation can be applied to every aspect of a product or service. Consider cars. BMW manufactures and sells cars; Avis rents cars; Uber helps people rent out their own time to drive their car for passengers; and Waymo makes self-driving cars. All four companies offer personal transportation centered around cars. Yet they deliver the value of transportation to the customer in radically different ways, showing us that every part of a service can be innovated.

Đá

Hầu hết mọi người tin rằng con người hiện nay đang ở trình độ văn minh cao nhất mà một loài sinh vật trên Trái Đất từng đạt được. Khi còn nhỏ tôi cũng từng tin như vậy.

Thỉnh thoảng người ta tìm thấy một vài thứ rất kỳ lạ, rất phức tạp, và đi ngược lại với những hiểu biết của con người về lịch sử Trái Đất. Thường thì có hai cách giải thích. Thứ nhất, đã từng có một giống loài thậm chí đạt đến trình độ văn minh cao hơn con người hiện nay, nhưng đã biến mất vì một lý do nào đó. Thứ hai, cách giải thích thứ nhất chỉ là một loại thuyết âm mưu, chúng ta chưa hiểu rõ thứ mới được tìm thấy đó nhưng một ngày nào đó chúng sẽ được giải thích một cách “hợp lý.”

Tôi thì thấy rằng những thứ kỳ lạ kia hoặc là xuất hiện trên đá, hoặc là kim loại, những thứ khó bị phá hủy. Còn những thứ đại diện cho nền văn minh của chúng ta thì tồn tại ở dạng bán dẫn, hay không ở dạng vật chất nào cả, chẳng hạn như điện. Nếu vì một lý do nào đó mà nền văn minh của chúng ta biến mất, thì vài trăm triệu năm sau những sinh vật thông minh thống trị Trái Đất sẽ không thể tìm thấy những trang web của chúng ta, nhưng lại tìm được những hóa thạch mà tổ tiên chúng ta để lại từ vài trăm nghìn năm trước. Và họ có thể sẽ kết luận là vài trăm triệu năm trước họ đã từng có sinh vật có trí tuệ trên Trái Đất, nhưng những sinh vật ấy mới chỉ tiến hóa tới mức biết dùng đồ đá.

Tôi không biết có lý do nào để có thể khẳng định chưa từng có một nền văn minh nào vượt qua nền văn minh của chúng ta hiện nay hay không.

Khiêm tốn

Có lần tôi nói chuyện với Fumiyoshi, thằng bé bảo hồi xưa nó nghĩ mình giỏi, nhưng chẳng qua là có môi trường tốt mà thôi. Fumiyoshi nói tiếng Nhật và tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ, học đại học ngành tiếng Trung, và tiếng Anh thì có lẽ giống tôi.

Thằng bé nhận ra mình không phải là thần đồng khi học tiếng Pháp và tiếng Đức. Hóa ra không phải thứ tiếng nào nó cũng có thể thành thạo.

Một lần khác khi tôi nói chuyện với chị Pika, giữa câu chuyện có đoạn chị ấy bảo chị ấy thấy mình cũng chẳng giỏi đâu, chẳng qua là vì làm quá nhiều nên biết mà thôi. Tôi nhớ đến Fumiyoshi. Điều mà hai người họ nói rất gần nhau.

Ở đâu đó tôi nghe được bác đã nhận giải Nobel nói rằng, may mắn góp phần rất lớn cho sự thành công của các nhà khoa học hàng đầu, bao gồm cả bác ấy.

Ba người họ là những người khiêm tốn.

Có những người nghĩ rằng khiêm tốn là khi người khác khen mình thì phủ nhận và nói rằng mình không được tốt, không được giỏi như vậy. Nếu thế thì hoặc là những người đó thật sự không giỏi đến như vậy, hoặc là họ đang làm một việc lố bịch. Fumiyoshi đã học về ngôn ngữ và văn hóa phương đông ở một vài trường tốt nhất châu Á và châu Âu, chị Pika là tiến sỹ, bác gì đó thì đã nhận giải Nobel. Nếu họ nói bản thân không giỏi, đó là giả tạo. Họ khiêm tốn. Khiêm tốn là nhận thức rõ giá trị của bản thân, chứ không phải là tự hạ mình xuống trong mọi tình huống.

Ba người họ có đặc điểm chung là họ biết mình có những thành công nhất định, nhưng họ không cho rằng thành công đó là do họ có tài năng thiên phú. Họ biết bản thân đã ở trong những hoàn cảnh thuận lợi, nếu không thì với cùng năng lực, họ có thể đã không tiến xa như vậy.

Có những người trẻ rất tự mãn về những gì mình đạt được. Họ không nghĩ tới chuyện rất có thể trong số nhiều người bình thường ngoài kia, có thể có những người sẽ thành công hơn họ nếu sinh ra trong gia đình giống họ, được hưởng lợi từ những mối quan hệ của cha mẹ họ, có những thầy tốt như họ, có môi trường tốt như họ, etc. Những người có tuổi thì không như thế. Thời gian đã giúp họ nhận ra.

IKEA

Chụp ảnh bằng máy ảnh phim có thích hơn bằng máy ảnh kỹ thuật số không? Tôi không biết, tôi chưa từng sở hữu một chiếc máy phim. Nhưng từ câu chuyện của những người chụp máy phim, tôi thấy họ có đam mê sâu sắc với việc chụp ảnh, và họ cách họ nói về ảnh toát ra một niềm đam mê và nhiệt huyết ít thấy hơn ở những người chụp ảnh số.

Có cơ sở cho việc đó. Để chụp ảnh thì người ta phải điều chỉnh rất nhiều thông số. Với máy kỹ thuật số, có khá nhiều sự hỗ trợ, và ngay cả khi ảnh không tốt thì khả năng chỉnh sửa được vẫn rất cao. Với máy phim thì không như vậy, một cài đặt sai sẽ dẫn đến một tấm ảnh không thể cứu chữa được, và phim thì không rẻ. Có thể dễ dàng hình dung là một nhiếp ảnh gia với máy phim sẽ dành rất nhiều thời gian tỉ mỉ cài đặt thông số chỉ để chụp một bức ảnh.

Và con người thường có nhiều tình cảm với thứ mình dành công sức và tâm huyết vào. Không phải vì thứ đó tốt, mà vì người ta đã bỏ công sức vào nó. Người chụp ảnh phim thích những tấm ảnh của họ, không phải vì chúng đẹp hơn ảnh số, mà vì họ đã bỏ nhiều công sức cho chúng.

Có một hiện tượng tâm lý liên quan, đó là người ta thường định giá vật mà mình sở hữu cao hơn giá trị thực của nó. Không phải người ta không biết giá trị thực, mà vì đối với họ thì vật ấy đã có giá trị cao hơn giá trị mà những “người khác” gán cho nó. Hãy tưởng tượng bạn mua một ngôi nhà với giá 1000, bạn chuyển vào sống và cảm thấy thoải mái ở đó. Bạn biết ngôi nhà vẫn có giá 1000, nhưng gần như chắc chắn bạn sẽ không bán nó nếu có ai hỏi mua với giá đó.

Nội thất IKEA thường phải mua ở dạng chưa lắp ghép, và chính người dùng sẽ lắp ghép nó. Có thể có người cho rằng như vậy là bất tiện, nhưng đó thực sự lại là chiến thuật kinh doanh của IKEA. Ngoài việc giảm chi phí, nó còn khiến người dùng yêu quý món đồ hơn. Họ sẽ thích một thứ được tạo ra với một phần công sức của mình hơn là một thứ được làm sẵn.

Cuối cùng, người ta thường quý người mà họ giúp đỡ hơn cả người đã giúp đỡ họ. Bởi vì, ở trường hợp đầu tiên, người ta bỏ nhiều công sức hơn, và họ thấy bản thân là một người có giá trị hơn.

Update

There are intriguing parallels between computing devices such as smartphone and humans. Considering ourselves as analogous to a smartphone can alter our mindset and behavior.

A smartphone is equipped with a central processing unit (CPU), while the human brain serves a similar purpose. A smartphone possesses hardware, humans have bodies. Smartphones run on operating systems, much like humans have their own unique ways of thinking. This list of similarities is by no means exhaustive.

Modern computing devices function in ways that bear a striking resemblance to the workings of the human mind. In order to perform a task, a smartphone requires a corresponding application, such as an e-book reader for reading books. Humans similarly require learning and skill acquisition to complete tasks. The myriad of applications available in an app store can be likened to the numerous opportunities for learning found in books, schools, and workplaces.

Just as smartphones receive regular updates to improve their performance, humans can also undergo “updates” through education, training, and cultivating a more positive mindset. These “updates” are akin to operating system upgrades that allow for better performance and reliability. Obtaining a degree, such as a vocational or post-graduate degree, can be thought of as a major update that can significantly enhance one’s worldview and way of thinking. However, it is important to note that unlike smartphones, which can receive updates in mere minutes, human “updates” require years of time and effort.

While most people desire to use the latest and most efficient smartphone, there is a limit to the extent that updates can improve the device’s performance. Eventually, older models become obsolete and cannot receive further updates. In contrast, humans can continuously improve their performance through practice and experience. Human “hardware” has the unique ability to evolve bidirectionally, allowing for improvement or degradation depending on a person’s lifestyle and habits.

At any given moment, we are faced with choices that can either “upgrade” or “degrade” our performance. A child may decide whether to do homework or play with friends, a teenager may choose between going to bed or playing another video game, and an adult may decide to skip a training session or not. These small choices add up and ultimately shape who we are.

Just as outdated smartphone models become less desirable in the market, inefficient people are given fewer and fewer opportunities in society. Competence is highly valued and rewarded. Fortunately, humans always have the opportunity to train, work, and become better.

A “featured” bug

Firefox browser and favicon tracking

Khi bạn dùng internet, gần như chắc chắn bạn bị theo dõi. Cứ mỗi lần bạn tải một trang web thì có trung bình 33 tracking requests. Các trang web có niềm đam mê với việc nắm được thông tin người dùng. Niềm đam mê của người này không hiếm khi là mối quan ngại của người khác, vì thế ngày càng nhiều người chọn một hoặc vài trong số những giải pháp sau: dùng Adblock, dùng Blokada, dùng Brave thay vì Chrome, bật “Do not track” trên Chrome hoặc Firefox, hoàn toàn chặn cookies của bên thứ ba, thường xuyên xóa lịch sử và cookies, dùng Duckduckgo hoặc Whoogle thay vì Google, dùng incognito mode, v.v. Tuy nhiên, với đam mê thì không có gì là không thể. Các trang web vẫn tìm được những cách lấy thông tin dù người dùng có thực hiện tất cả những giải pháp trên. Một trong những cách đó là favicon tracking.

It is almost certain that you are tracked when surfing the internet. Every time a website is loaded, 33 tracking requests are sent on average. The websites are passionate about collecting users’ information. However, it is not unusual at all that one’s passion may be others’ concern. Thus, more and more people have resorted to incognito mode, Duckduckgo, Whoogle, “Do not track” signal, Adblock, Blockada with F-droid, Brave, blocking cookies, etc. although sometimes it is not really convenient using those tools. However, with passion, nothing is impossible. Websites keep devising new ways to track their users, and favicon tracking is such a way.

Favicon là một hình nhỏ (16×16 pixel) mà ta thấy trên góc trái của tab mở ra khi vào một trang web, có thể coi đó là logo của trang web đó. Ví dụ, favicon của blog này là ảnh của tôi chụp từ phía sau. Khá là khó tưởng tượng người ta có thể dùng nó để theo dõi người dùng, nhưng đó là sự thật, và đây là cách thức người ta dùng nó. Mỗi khi bạn mở một trang web, trình duyệt sẽ yêu cầu tải favicon. Nếu một trang web dùng favicon để theo dõi người dùng, nó sẽ không trả về một logo duy nhất, mà chuyển hướng yêu cầu của trình duyệt đến nhiều subdomain, và favicon được tải xuống từ một vài trong số các subdomain đó. Vì favicon không được lưu cùng vị trí với cookies thông thường, dù bạn có xóa toàn bộ lịch sử duyệt web và cookies thì favicon vẫn còn đó. Lần tiếp theo khi bạn mở trang web trên, nó có thể kiểm tra những favicon nào đã được tải. Hãy tưởng tượng có n subdomain ứng với một mã nhị phân có n bit. Nếu favicon đã được tải từ subdomain i, bit thứ i sẽ có giá trị 1, ngược lại nó sẽ có giá trị 0. Tập các favicon được tải sẽ tương ứng với mã này và cho phép trang web nhận dạng người dùng. Giả sử có 32 subdomain, trên lý thuyết trang web sẽ nhận dạng được 2^32 người dùng (hơn 4 tỷ người), và thời gian kiểm tra chỉ là dưới 2 giây.

Favicon is like the logo of a website, it is the small image you see on the left side of the website’s tab. For example, the favicon of this blog is my photo taken from behind. To me it is very unlikely that favicon could be used as tracker, but the ingenious web developers have indeed made that happen and here is how it works. Every time you load a website, the browser sends a request to download favicon. If favicon tracking is implemented, the website would redirect the browser requests to a number of subdomains, each with a distinct favicon, and favicons are only downloaded from several of these subdomains. Each user could then be assigned a distinct binary code with each bit corresponds to a subdomain. A bit is assigned 0 if a favicon was downloaded from the corresponding server, and assigned 1 otherwise. Even if we delete all cookies and browsing history, the favicons, and thus, the website’s “user ID” remain intact because they are stored in a different location. When that website is loaded again, it could check for the code (by the downloaded favicons) and recognize users. If there are 32 subdomains, the website could theoretically identify 2^32 (more than 4 billions) users in under 2 seconds.

Hầu hết các trình duyệt hiện nay đều bị ảnh hưởng bởi favicon tracking, riêng Firefox thì không. Nếu đã lưu favicon trong cache, các trình duyệt khác đều không tải lại favicon mà lấy ra từ cache, nhưng Firefox lại gửi yêu cầu và tải lại favicon như thể chưa từng vào trang web đó. Vì thế, favicon tracking không có tác dụng với Firefox. Có thể hiểu đây là một tính năng hiệu quả chống favicon tracking, nhưng cũng có thể hiểu đây là một bug. Cache sinh ra là để dữ liệu có thể được truy cập trực tiếp và tiết kiệm thời gian, nhưng Firefox dù lưu favicon vào cache, lại hoàn toàn phớt lờ nó. Nếu thật sự muốn chống tracking thì ngay từ đầu đã không cần lưu lại favicon. Hành vi khó hiểu này rất hiệu quả, nhưng thật sự khó mà nói những nhà phát triển có làm vậy có chủ đích hay không.

Most modern browsers are affected by favicon tracking, except Firefox. Once favicons are saved in cache, all others browsers don’t download again but load favicon directly from cache, only Firefox sends requests and re-fetches favicons as if it hasn’t ever visited the websites. That is why favicon tracking doesn’t work on this browser. Firefox’s behavior could be considered an effective strategy against favicon tracking, or a bug as well. The very purpose of caches is to give direct access to frequently used data and thus save time, but Firefox just ignores downloaded favicons stored in cache. If the Mozilla team did keep in mind the idea of preventing favicon tracking while designing that “feature,” in the first place the browser shouldn’t store any favicons at all. This confusing behavior is no doubt very effective, but whether it was deliberately implemented or not remains a question.

Shameless

Flight overbooking

Năm 2017, một vụ việc trên chuyến bay của United Airlines đã gây phẫn nộ trong dư luận, đặc biệt là dư luận Trung Quốc và Việt Nam. Một vị bác sỹ bị đánh một cách tàn bạo và bị kéo lê ra khỏi chuyến bay mà ông ta đã mua vé. Lý do? Hãng hàng không đã bán nhiều vé hơn số ghế, và khi số hành khách lớn hơn số ghế, sẽ có người không được bay.

Có vài tình tiết khiến cho vụ việc này được chú ý đặc biệt. i) Vị bác sỹ đã vào chỗ ngồi, nhưng phải nhường chỗ cho một người đến muộn. ii) Vị bác sỹ nói rằng ông ta cần bay vì có một cuộc hẹn với bệnh nhân, và bệnh nhân cần ông ta. iii) Một người bất kỳ sẽ không được bay, nhưng người bị chọn, ngược lại với ý muốn của ông ta, lại là một người gốc Á. iv) Vị bác sỹ bị đánh một cách rất dã man, vì lỗi lầm của hãng hàng không.

Có một số người hay tổ chức chỉ tỏ ra văn minh và có đạo đức khi sự văn minh đó làm giàu cho họ. Chúng ta gọi đó là đạo đức giả, và United Airlines đã thành công trong việc thể hiện sự đạo đức giả của họ. Sự việc tồi tệ hơn khi họ còn thể hiện sự phân biệt chủng tộc.

In 2017, the horrible passenger removal in a United Airlines flight outraged the public, especially in China and Vietnam. A doctor was brutally beaten and humiliatingly dragged off the flight he had purchased ticket for. The reason? The airline sold more tickets than the number of seats it could offer, and more passengers than seats showed up.

This case attracted special attention because of these facts. i) The doctor was forced to give up his seat for a latecomer. ii) The doctor said that he needed to fly because he had an appointment with his patient. iii) Of all the passengers boarded the flight, they “randomly” chose an Asian. iv) The doctor was brutally beaten, because of the airline’s fault.

Some people or organizations appear civilized and virtuous only as long as that “civilization” serves their interests. We call it hypocrisy, and United Airlines has successfully demonstrated their hypocrisy. Their racism just made matter worse.

Tuy nhiên, ở đây chúng ta sẽ nói tới một vấn đề khác, đó là sự tồn tại của Overbooking, tức là việc các hãng hàng không bán nhiều vé hơn so với số ghế. Đó là một sai lầm của các hãng hàng không, hay là một cách thức giúp họ thật sự kiếm tiền?

Đối với hành khách thì overbooking là tham lam và xảo trá, nhưng đối với các hãng hàng không ở Mỹ thì đó là một cách thông minh để kiếm tiền. Thống kê cho thấy luôn có những người mua vé mà không đến kịp giờ, và các hãng hàng không tính toán để sao cho có ít ghế trống nhất. Họ sẽ thu được tiền của những người đến muộn mà không cần cung cấp dịch vụ. Nếu tính toán của họ sai và có nhiều hành khách quá, thì chính hành khách sẽ trở thành nạn nhân, như trong vụ việc ở trên.

Người Việt phân biệt giữa khôn lỏi và thông minh. Phương pháp của các hãng hàng không như trên thể hiện sự khôn lỏi, đôi khi kết hợp với cường quyền và vô nhân đạo. Đối với họ đó là một feature, còn đối với người bình thường thì việc overbooking được phép tồn tại là một bug hệ thống.

Cần phải nói thêm rằng máu cần phải đủ lạnh và lòng cần phải đủ tham thì người ta mới có thể thực thi được những phương pháp kiểu như thế. Ở Nhật, Hàn, hay Việt Nam, nói chung vé máy bay có số ghế, và không có overbooking. JAL và ANA còn tuyên bố là họ sẽ không bao giờ có overbooking. Đó là cách làm ở một xã hội văn minh.

However, we will not talk about the doctor or the removal here. What should be discussed is the overbooking system. A nice feature for airlines to make money is also a disgusting bug from the perspective of a passenger.

For passengers, overbooking is greedy and cunning, but for airlines in the US it is a smart way to make money. It is statistically true that there are always people coming late for their fights, and airlines calculate the number of tickets so that the number of unoccupied seats is minimized. They will get money from latecomers without providing service. If their calculations are wrong and there are too many passengers, then the passengers themselves will become victims. The victims are usually compensated in some ways, but there are cases where no compensations are appropriate, as the one mentioned above.

It should be added that the blood needs to be cold enough and the heart must be greedy enough to be able to implement such outrageous systems as overbooking. In Japan, Korea, or Vietnam, in general, flight tickets have seat number, and there is no overbooking. JAL and ANA also stated that they will never have overbooking. That’s the way of a civilized society.

The half-built buildings

Trong Factfulness, Hans Rosling có miêu tả về một thực tế rất khó hiểu ở Tunisia: Rất nhiều ngôi nhà được xây dựng dở dang. Đối với một người Thụy Điển như ông thì một ngôi nhà được xây dựng dở chừng rất có thể là do đầu óc chủ nhà có vấn đề, hoặc người thợ xây đã bỏ chạy. Có điều, thật ra đó là cách xây nhà hợp lý nhất ở Tunisia. Tác giả cuốn sách đã hỏi người dân địa phương và được biết rằng với những người nghèo không thể tiếp cận được với ngân hàng thì nếu muốn xây nhà, chỉ có cách là tự tích trữ tiền, nhưng tiền thì mất giá, nên họ mua gạch (giống như ta mua vàng), và để tránh bị ăn trộm gạch thì có tới đâu xây tới đó.

Bài học mà Rosling rút ra là mọi chuyện đều có cái lý của nó, và thay vì nghĩ rằng người khác không được thông minh sáng dạ như mình, chúng ta nên tìm hiểu nguyên nhân thật sự. Cái ta tưởng là bug có khi thực ra lại là feature.

In his bestseller Factfulness, Hans Rosling said he was baffled by the prevalence of unfinished buildings in Tunisia. For a Swedish, it is either because the owners were so eccentric, or the builders had all run away. Surprisingly enough, as he talked to the locals, it turned out that leaving buildings unfinished is the most reasonable way to build a house in Tunisia. Without access to a bank, they have to save up money by themselves. However, money can lose its value due to inflation, and could be stolen. Buying bricks and quickly add them to the half-built houses solve all these problems at once: bricks don’t lose value, and won’t be stolen if they have been used.

The lesson learned here is: everything exists for a reason. We should not assume others to be stupid. Instead, upon encountering something seemingly stupid, we should ask ourselves in what way it could be a smart solution. When we have a deeper understanding, what was taken for a bug may very well turned out to be a feature.

Feature?

Trong ngành phần mềm, “bug” là một khái niệm cơ bản và phổ thông. Có vẻ người ta còn không bận tâm dịch nó ra tiếng Việt, mọi người tôi biết chỉ đơn giản gọi bug là bug. Nếu buộc phải dịch thì bug có lẽ là “lỗi,” nhưng dịch như thế không hoàn toàn chính xác. Bug thường là lỗi trong mã nguồn, nhưng thực ra có thể gọi bất kỳ thứ gì làm cho phần mềm hoạt động một cách kỳ lạ và dẫn đến những kết quả không lường trước.

In software engineering, “bug” is a common term, so common that people don’t bother to translate it into Vietnamese. Everyone I know simply calls it “bug.” Were it to be translated, maybe it’d be “lỗi” in Vietnamese. However, that is not quite a good translation. Although a bug is normally an error or flaw in the source code, it could actually be anything that leads to bizarre or unexpected behaviors of the software or the system, which result in the system performing what it is not designed to do.

Một kết quả không lường trước không nhất thiết phải là một kết quả tai hại. Dù trong đa số trường hợp thì nó sẽ gây ra một chút phiền phức, đôi khi nó vô hại, đôi khi nó vô hại và thú vị, và đôi khi nó có lợi. Vì thế, “It is not a bug, it is a feature.” đã trở thành một câu đùa kinh điển khi người ta nói về một thứ mà vốn (có lẽ) là lỗi, nhưng kết quả mà nó mang lại không phải là tệ về mọi mặt. “Feature” có thể được hiểu đơn giản là “tính năng,” một thứ có trong thiết kế. Thực tế là nếu người ta có thể miêu tả tác dụng của một thứ thực sự là “bug” và đưa vào tài liệu, thì nó không hẳn là bug nữa, vì không còn kết quả kì lạ hay không lường trước nào cả.

An unexpected result is not necessarily something catastrophic. Though in most cases it would cause a little inconvenience, sometimes it is completely harmless, sometimes both harmless and intriguing, and sometimes beneficial. For that reason, “It is not a bug, it is a feature.” has become a standard joke, referring to (probably) actually bugs that bring about not-so-bad results. Indeed, if it is possible for the developers to document a bug (without saying that it is a bug, of course) with its interesting results, then it is not a “bug” any more: the software/system just works as designed.

Quan sát một chút, ta có thể thấy nhiều thứ quanh xung quanh tưởng chừng là khiếm khuyết, nhưng thực sự là được cố ý tạo ra. Cũng có khi người ta không cố tình tạo ra nó, nhưng vì cái kết quả không lường trước mà nó đem lại thật sự không tệ nên người ngoài nhìn vào không thể nói được rằng nó là “bug” hay “feature.”

If you try observing things around you, chances are you may find a lot of such “bugs.” They seemed to be defects, but actually were created on purpose. Sometimes, people don’t deliberately create those “bugs,” but because what they lead to are nice, it is hard to tell whether they are “bugs” or “features.”

Cây gậy và củ cà rốt

Hôm nay một bạn trẻ nói về đạo Tin lành thế này: tại sao mọi người đều có tội, đứa trẻ vừa sinh ra đã làm gì mà mang tội, và tại sao chỉ có Chúa mới có thể cứu vớt được mọi người, tại sao chỉ có tin vào Chúa vô điều kiện mới được lên thiên đàng.

Con người có một thời kỳ hình thành nhận thức, đó là thời kỳ mà người ta tin vào mọi thứ được nghe, không có thắc mắc gì cả. Một đứa trẻ Trung Quốc bây giờ khi lớn lên khó mà có thể tin được rằng Hoàng Sa là của Việt Nam, và đối với một đứa trẻ Việt Nam thì ngược lại. Nói với người ta rằng Trái Đất là phẳng người ta còn tin được, thì không có lý do gì lại có thể không tin vào một vị Chúa toàn năng, trừ khi người ta đã quá lớn lúc được nghe câu chuyện ấy.

Tôi tin tuyệt đối vào Phật. Nhưng nghe bạn trẻ kia nói về Chúa, tự nhiên tôi lại có vài suy nghĩ. Chúa nói con người sinh ra đã đầy tội lỗi, và đi theo Chúa thì sẽ được cứu vớt, được lên Thiên Đàng. Phật thì nói đời là bể khổ, phải hiểu một vài quy luật và sống theo một vài nguyên tắc thì mới có thể giác ngộ, hết khổ, và tới Niết Bàn. Một người vô thần nhìn vào hai sự việc ấy chắc chẳng thấy có gì khác nhau.

Tôi vẫn nghĩ lời của Phật là chân lý. Phật chỉ dạy người ta đi tìm sự thật chứ không bảo người ta tin vào mình, Phật dạy người ta sống theo cách làm mọi người đều vui vẻ thoải mái hơn, và những người theo Phật không cổ súy những thứ quy tắc nhảm nhí như là không được kết hôn với người ngoài đạo, hay phải góp bao nhiêu phần trăm thu nhập, cũng không cấm đoán người ta làm theo những phong tục có từ thời tổ tiên.

Nhưng biết đâu được, những người tin vào Chúa cũng có những lý do vô cùng thuyết phục để nghĩ rằng mọi điều trong Kinh đều là chân lý, dù Chúa còn chẳng nói ra những điều ấy. Tôi đâu có trải qua cảm giác của họ khi nghe về Chúa lúc mà nhận thức của họ đang hình thành.

Tận thế

Tôi sẽ kể một truyện cười và một truyện kinh dị.

Một anh chàng da đen nghèo được Chúa ban cho ba điều ước. Đầu tiên, anh ta ước mình được sống trong một cung điện nguy nga lộng lẫy, thứ hai, anh ta ước da mình trắng, và cuối cùng, anh ta ước được nhìn thấy da thịt phụ nữ mỗi ngày. Và đó là cách anh ta bị biến thành một chiếc bồn cầu sứ trong một tòa lâu đài.

Đó là truyện cười, còn truyện kinh dị là một câu chuyện nổi tiếng, “The Monkey’s Paw” của W.W. Jacobs.

Chuyện kể rằng một gia đình có được một bàn tay khỉ ma thuật, thứ sẽ cho người sở hữu ba điều ước. Người cha ước có thật nhiều tiền. Vậy là ông ta nhận được rất nhiều tiền, nhưng đó là tiền bồi thường khi người con chết vì tai nạn lao động. Người mẹ đau khổ ước con mình quay lại, vậy là đêm đó họ nghe tiếng gõ cửa, nhưng ở ngoài chỉ là cái xác của người con, anh ta đã quay lại. Người cha hoảng loạn ước rằng mọi chuyện trở lại như cũ, vậy là người con lại chết, nhưng lần này anh ta được yên nghỉ.

Có lẽ có những quy luật mà các thế lực siêu nhiên cũng phải tuân theo khi thực hiện các điều ước, và mọi chuyện đều có nguyên nhân và kết quả chứ không tồn tại độc lập. Trong câu chuyện thứ hai, người cha ước có tiền nhưng không nhận thức được rằng có tiền chỉ là một mắt xích trong một dây chuyền tồi tệ mà ông ta đã không lường trước, để rồi sững sờ và đau khổ ngay cả khi điều ước của mình được thực hiện một cách chính xác.

Và tôi nghĩ đó là cách mà AI sẽ làm hại loài người.

Trong tương lai gần, loài người sẽ tạo ra những AI có năng lực mà ngày nay chúng ta không tưởng tượng nổi, giống như những vị thần trong cổ tích. (Từ rất lâu người ta đã nhận ra rằng khi công nghệ đủ tiên tiến thì con người sẽ không thể phân biệt được công nghệ và ma thuật.) Những yêu cầu của chúng ta đối với AI khi ấy sẽ giống như những điều ước đối với các vị thần. AI sẽ thực hiện những điều ước ấy.

Để có thể hình dung AI sẽ đáp ứng nguyện vọng của con người như thế nào, hãy thử xem vài ví dụ. Đầu tiên là một ví dụ kinh điển. Các nhà nghiên cứu yêu cầu AI đi từ điểm A đến điểm B bằng chân một cách nhanh nhất, nhưng không dạy cho nó cách sử dụng chân. Người ta nghĩ rằng nó sẽ phát hiện ra động tác “chạy”, nhưng không, nó làm cho chân dài ra và đơn giản là đứng từ A và ngã đè lên B. Nó không vi phạm yêu cầu nào, và thật sự đã đi từ A tới B một cách nhanh nhất. Trong một ví dụ khác, người ta yêu cầu AI tìm cách làm robot nhảy cao nhất có thể (tuân theo các định luật vật lý), nhưng cách nó làm lại là xuất phát từ một nơi thật cao, và không nhảy mà rơi xuống. Tại sao? Sau hàng ngàn vòng lặp thì con AI phát hiện ra cách máy tính định nghĩa trạng thái đang nhảy, đó là có những lộn vòng trong không gian. Vì thế, nó “hack” hệ thống bằng cách xoay vòng ở rất cao, và máy tính bị lừa rằng nó đang nhảy.

Trong những trường hợp như thế, con AI thực hiện chính xác những gì đã được định nghĩa và yêu cầu, nhưng lại tạo ra những kết quả hoàn toàn bất ngờ với con người, gần như nó luôn tìm được một con đường tắt, luôn hack được hệ thống. Vài ví dụ khác có thể được tìm thấy trong bài nói chuyện này:

Chẳng phải là Chúa đã đáp ứng nguyện vọng của anh chàng da đen và bàn tay khỉ đã đáp ứng nguyện vọng của người cha, không sai một chút nào, chỉ là hoàn toàn không trong tính toán của họ khi ước sao. AI cũng như vậy. Chúng ta thấy vấn đề ở đây, và nguyên nhân là:

  1. AI/các vị thần làm chính xác những gì ta yêu cầu.
  2. Người ta có những giả định sai lầm về cách mà AI/các vị thần sẽ thực hiện yêu cầu. Họ nghĩ rằng AI/thần có cùng góc nhìn, quan điểm, hiểu biết như họ, và họ không hiểu cách mà thế giới vận hành.

Tất nhiên, vấn đề có thể được giải quyết khi người ta nhìn nhận nghiêm túc và cố gắng giải quyết nguyên nhân số 2. Chẳng hạn, khi giới hạn độ dài chân thì AI không tạo ra một con robot chỉ biết ngã nữa.

Con người đang muốn dùng AI để giải quyết những vấn đề lớn của thế giới, và nếu con người dùng AI một cách thiếu cẩn trọng như hiện nay, thì tương lai của loài người sẽ bị đe dọa. Không phải là AI thù ghét con người và muốn nổi dậy, mà chỉ đơn giản là vì tiêu diệt loài người là tác dụng phụ của một việc nào đó mà một con AI toàn năng muốn làm.

Để dễ hiểu, hãy giả sử chúng ta yêu cầu AI làm cho thế giới hòa bình. Không biết vào ngày một con AI mạnh đến như vậy xuất hiện, nó sẽ làm gì, nhưng trong một bộ phim, khi một người ước như vậy với một vị thần, ngày hôm sau anh ta đã thấy loài người hoàn toàn biến mất (trừ anh vì hào quang nhân vật chính). Với vị thần thì đó là cách hiệu quả nhất để thế giới được hòa bình.

Góc nhìn (2)

Có một câu hỏi về động học đại khái thế này:

Một chú kiến đứng trên một chiếc đĩa tròn có thể xoay quanh tâm. Chiếc đĩa được đặt trước một tấm gương phẳng, hỏi rằng khi chiếc đĩa xoay đến vị trí mà chú kiến gần với gương nhất thì vận tốc tương đối giữa chú kiến và ảnh của chú trong gương là bao nhiêu?

Câu hỏi này hay ở chỗ là ai cũng có thể thấy rằng khi chú kiến ở gần tấm gương nhất thì vector vận tốc của chú kiến và ảnh của chú trong gương là bằng nhau (và vuông góc với trục quay, đồng thời song song với mặt phẳng gương), như vậy thì câu trả lời đơn giản là vận tốc tương đối giữa hai chú kiến (thật và ảnh) là bằng 0. Nhưng cuốn sách có câu hỏi này (một cuốn sách vật lý khá nổi tiếng dành cho học sinh phổ thông lại cho đáp án khác 0, và không có giải thích.

Thầy của tôi khi ấy nói rằng tác giả cuốn sách cũng không biết giải thích, ông ấy chỉ sao chép từ một tài liệu tiếng Nga thôi.

Tuy vận tốc tương đối là 0 thật, nhưng vẫn có thể giải thích cho con số khác 0 kia nếu thay đổi câu hỏi một chút thành: chú kiến thấy ảnh của mình trong gương di chuyển với vận tốc thế nào? Với câu hỏi này thì đáp án nói chung là khác 0. Các bạn học sinh thường được học rằng vận tốc tương đối giữa hai vật cho chúng ta biết cách mà hai vật đó chuyển động so với nhau. Nếu thế thì hai câu hỏi sẽ giống nhau, tại sao lại có thể có hai kết quả đúng cho một sự việc?

Trước khi giải thích câu trả lời (một việc không quan trọng lắm) thì tôi muốn nói một chút về “ý nghĩa triết học” của nó (rất quan trọng). Hai câu hỏi trên là không giống nhau. Nếu diễn đạt lại hai câu hỏi, thì câu hỏi thứ nhất hỏi rằng, đối với người quan sát, thì hai chú kiến chuyển động như thế nào so với nhau. Câu hỏi thứ hai hỏi rằng, đối với một chú kiến, thì hai chú kiến chuyển động như thế nào so với nhau.

Hai câu trả lời khác nhau là một điều hiển nhiên, nếu ta xét đến “chân lý” này: Một sự việc duy nhất có thể được nhìn nhận theo những cách khác hoàn toàn nhau dưới những góc nhìn khác nhau. Đó là một quy luật khách quan, cũng giống như luật nhân quả, hay các định luật trong khoa học. Nếu thấy các kết luận đối nghịch, ta không nên dùng tư duy nhị nguyên để cố chỉ ra một kết luận duy nhất là đúng, mà nên tìm kiếm những góc nhìn có thể giải thích cho mỗi kết luận. Chỉ khi ta chắc chắn rằng không thể đưa ra một kết luận X nào đó từ bất kỳ góc nhìn nào, hoặc từ một góc nhìn đã được xác định là góc nhìn được dùng để rút ra kết luận X ta có thể chứng tỏ được rằng X sai, thì khi ấy mới có thể an toàn khẳng định rằng X sai.

Một ví dụ nhỏ cho điều tôi vừa nói: tôi đã nghe người ta nói về sự lộn xộn trong giao thông, sự mất trật tự và tình trạng vô gia cư ở Hà Nội như những vấn đề nghiêm trọng. Khi ấy tôi đã rất ngạc nhiên, điều đó ngược lại với những gì tôi biết về Hà Nội. Thực ra thì Hà Nội chỉ có một, nhưng góc nhìn của người ta và tôi khác nhau.

Bây giờ quay trở lại với câu hỏi về hai chú kiến. Trong khi người quan sát bên ngoài thấy rằng hai chú kiến đang di chuyển với cùng tốc độ, thì bản thân chú kiến không thấy như vậy. Để dễ hình dung, hãy tưởng tượng có thêm một chú kiến nữa cũng đứng trên đĩa. Gọi chú kiến ban đầu là A và chú kiến thứ hai là B. Dù B đứng ở vị trí nào, A cũng thấy B đứng yên, vì cả hai cùng đứng yên trên chiếc đĩa (hãy tưởng tượng mình đang đứng trên một đĩa xoay, nhưng lại không biết rằng đĩa đang xoay, chẳng hạn vì chiếc đĩa bị cách ly với không gian bên ngoài nên bạn chỉ có thể nhìn thấy những thứ trên đĩa, và chiếc đĩa quay rất chậm, bạn sẽ thấy mọi thứ trên đĩa đứng yên, mặc dù chúng đang xoay). Trong khi đó, người quan sát ở bên ngoài nói chung lại thấy A và B có vận tốc hoàn toàn khác nhau. Khi hiểu điều này thì ta có thể dễ dàng tính được kết quả của câu hỏi ban đầu.

Học sinh thường ít khi găp trường hợp mà vận tốc tương đối trong các hệ quy chiếu là khác nhau, vì thường thì người ta dạy các hệ quy chiếu quán tính. Theo nguyên lý Galilei (Galilean Invariance Principle), các định luật vật lý về chuyển động là hoàn toàn giống nhau trong các hệ quy chiếu quán tính, và vì thế các kết quả là không đổi dù có đứng ở hệ quy chiếu quán tính nào. Đó cũng là lý do mà không có cách nào để phân biệt các hệ quy chiếu quán tính. Tức là, chẳng hạn nếu bạn vừa ngủ dậy trên tàu trong đêm và thấy một con tàu vụt qua bên đường ray bên cạnh, giả sử rằng cả hai con tàu đều có vận tốc không đổi, thì không có cách nào để bạn có thể dùng các định luật vật lý để kiểm tra xem có phải một con tàu đang đứng yên và con tàu còn lại di chuyển, hay hai con tàu đang cùng di chuyển hay không. Nói cách khác, về mặt vật lý thì mọi việc xảy ra như thế nào trên con tàu của bạn cũng sẽ xảy ra y như vậy trên con tàu kia.

Vì sự phổ biến của các hệ quy chiếu quán tính nên người ta ít khi để ý khi chuyển giữa các hệ quy chiếu. Tuy nhiên, hệ quy chiếu quay là phi quán tính (vận tốc dài của nó thay đổi hướng liên tục), vậy nên có nhiều người sẽ nhầm lẫn ở những câu hỏi như ở câu hỏi đầu tiên.

Khi vận tốc đạt đến gần vận tốc ánh sáng, dù ở các hệ quy chiếu khác nhau người quan sát cũng sẽ nhìn cùng một hiện tượng theo các cách khác nhau. Chẳng hạn một người nhìn thấy lửa được đốt lên rồi mới có khói, người khác lại nhìn thấy khói trước rồi mới có lửa. Tôi đã được dạy những thứ đó, dù tới giờ vẫn không hiểu nổi. Tuy nhiên, tôi có thể chấp nhận điều đó, vì tôi hiểu rằng góc nhìn có thể thay đổi cách chúng ta nhận thức về thế giới, và thế giới trong góc nhìn ấy thật sự là như vậy.

Ảnh hưởng

Mỗi khi có một phát minh mới được đưa vào thực tế, nó lại thay thế cho và làm giảm mức cần thiết của một năng lực nào đó của con người. Xe cộ khiến con người không cần chạy, đèn điện khiến con người không cần phải nhìn rõ trong bóng tối, máy tính khiến con người không cần phải tính nhẩm, v.v.

Hãy nói về hai phát minh đã và sẽ làm nên những cuộc cách mạng trong sự phát triển của loài người: PageRank và Generative Pre-trained Transformer, một phát minh đã tạo ra Google, phát minh còn lại có tiền đề là một nghiên cứu của Google (Transformer Neural Network), và đã tạo ra chatGPT và Bing AI.

Nói rằng mỗi phát minh sẽ “làm giảm mức cần thiết” của một năng lực của con người là một cách nói giảm nhẹ. Thật ra thì chúng làm suy yếu năng lực tương ứng của con người.

Google làm cho việc ghi nhớ thông tin trở nên không cần thiết. Mặt xấu của điều này là nó có thể làm giảm chiều sâu trong suy nghĩ của con người. Hãy tưởng tượng một nhà toán học khi nghĩ về một vấn đề trong lý thuyết số cứ phải bấm máy tính để kiểm tra vài giả thuyết đơn giản của mình, tốc độ làm việc của ông ta sẽ chậm đi rất nhiều. Một nhà văn mỗi khi muốn đề cập hay trích dẫn một điển cố hay điển tích vào tác phẩm của mình lại phải đi tra Google, thì dòng suy nghĩ của ông ta sẽ không được mượt mà trôi chảy. Điều đó cũng đúng với các suy nghĩ, tư duy, lập luận nói chung. Không có một trí nhớ tốt, một lượng dữ liệu đủ lớn, thì chúng ta sẽ thiếu tư liệu cho những suy nghĩ, tư duy, quan điểm sâu sắc. Tất nhiên, điều đó có thể được giải quyết bằng thời gian, bằng những tìm kiếm Google và những phân tích tỉ mỉ, v.v. Tuy nhiên, có lẽ không có ai thích những bậc thầy vừa giảng vừa google để củng cố và hỗ trợ cho quan điểm mà họ vừa đưa ra.

Dù đó là mặt xấu, nhưng nó không quá xấu, bởi vì Google vẫn đưa ra rất nhiều đường link, và người ta vẫn phải dùng năng lực phán đoán, tư duy phân tích, phản biện, v.v của bản thân để tìm ra thứ đúng và phù hợp trong biển thông tin ấy. Đó là một điểm tốt.

Khi chatGPT ra đời, nó làm mất đi điểm tốt cuối cùng ấy. ChatGPT không chỉ đưa ra thông tin, nó còn làm thay con người việc phân tích, tổng hợp, lựa chọn, v.v. Khi bạn hỏi chatGPT một câu hỏi, có khả năng rất cao là nó sẽ đưa ra một câu trả lời, cho dù có vài quan điểm trên internet, tức là nó thay bạn tư duy.

Trong lịch sử, chúng ta thấy rằng các phát minh giúp giải phóng con người khỏi những công việc nặng nhọc hay nhàm chán và giúp chúng ta tập trung vào những hoạt động ở trình độ cao hơn. Máy móc giúp chúng ta không phải làm nhiều việc chân tay nữa mà tập trung hơn vào việc trí óc. Google giúp chúng ta không phải ghi nhớ nhiều thông tin, cũng là một loại hoạt động trí óc, mà tập trung hơn vào phân tích và lập luận. Nay ChatGPT làm thay con người cả việc phân tích và lập luận, nhưng việc tiếp theo mà chúng ta có thể tập trung vào là gì? Phát triển năng lực tâm linh chăng?

Tất nhiên phân tích và lập luận của chatGPT có nhiều vấn đề, nhưng những sản phẩm AI trong tương lai rất có thể sẽ vượt qua những giới hạn ấy. Cho đến thời điểm đó, nếu con người không tìm ra được hoạt động cấp cao hơn mà mình sẽ tập trung vào, thì rất có thể đó là lúc nhân loại sẽ bắt đầu đi sang bên kia sườn dốc.

Cỗ máy

Trong một cuốn sách tôi nghe gần đây, tác giả nói rằng hãy nhìn thế giới giống như một cỗ máy.

Đó là một quan điểm hay.

Rất nhiều người, trong đó có tôi, tin vào phép màu và những điều kỳ diệu. Nhưng trong thâm tâm, tôi biết rằng 99% những sự việc xảy ra trong cuộc đời này tuân theo những quy luật khách quan. Và 1% còn lại, những điều kỳ diệu, rất có thể cũng tuân theo những quy luật khách quan mà loài người chưa đủ khả năng để nắm bắt.

Coi cuộc đời là một cỗ máy là một ý kiến hay. Người nào thật sự tin như vậy chắc chắn sẽ bớt rất nhiều cảm xúc tồi tệ. Nếu chúng ta muốn lái một chiếc xe, chúng ta sẽ học cách sử dụng nó, và chúng ta sẽ biết cách chiếc xe vận hành, biết lý do của những sự cố. Khi giữa đường hết xăng, chúng ta biết nguyên nhân là do ta quên không đổ xăng, và tìm cách giải quyết. Thường thì người ta không than trách ai trong những trường hợp như vậy. Thế nhưng, có rất nhiều người khi gặp chuyện không như ý, mà nguyên nhân có thể là do chính họ, thì lại than trách ông trời hay đổ lỗi cho người khác. Với họ thì cuộc đời không phải là một cỗ máy. Nếu mọi thứ vận hành theo những quy luật khách quan, thì ai cũng sẽ hiểu cần bớt cảm xúc lại và sớm tìm cách đổ xăng.

Tôi chia bạn chọn

John Nash đã tạo ra một cuộc cách mạng thực sự khi tìm ra và phổ biến một vài quy luật đằng sau cách mà xã hội vận hành. Cảm giác của tôi về những phát hiện của ông cũng giống như cảm giác về sự phát hiện thuyết tương đối hay lực hấp dẫn. Chúng đã đưa loài người sang những trang sử mới.

Vào thế kỷ XIX nghe nói có những thử nghiệm về xã hội hoàn hảo được thực hiện trên con người. Không có một thử nghiệm nào là thành công. Từ những thí nghiệm ấy và từ lịch sử, ta biết rằng không thể duy trì một xã hội tốt đẹp bằng ý thức của con người, hay bằng sự hiền minh của một nhà cai trị. Những người có ý thức không tốt luôn xuất hiện, con người cũng luôn thay đổi, kể cả người tốt, và không có một nhà cai trị nào cùng với tất cả hậu duệ của đủ thông minh.

Ta không thể dựa vào ý thức của con người để duy trì một xã hội tốt đẹp, nhưng có thể dựa vào các quy tắc. Nói cách khác, các nhà lập pháp là những người sẽ có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới tương lai của một quốc gia. Tôi tin rằng họ sẽ xây dựng và duy trì được một xã hội tốt đẹp, bất chấp việc con người có cả phần xấu trong bản chất, nếu họ xây dựng được những luật lệ đúng.

Thế nào là một luật lệ hay quy tắc đúng?

Hãy quay trở về với John Nash và cống hiến quan trọng nhất trong cuộc đời ông cho nhân loại: lý thuyết trò chơi. Vào một lúc nào đó khi thấy mình giỏi hơn, rất có thể tôi sẽ viết về lý thuyết trò chơi ở đây. Hôm nay, tôi sẽ nói về một trong những ví dụ đầu tiên và ấn tượng nhất đối với tôi trong lý thuyết này.

Có câu chuyện ngụ ngôn về hai chú gấu con tìm thấy miếng pho-mát to nhưng không thể chia đều nên đã nhờ cáo phân xử, cuối cùng thì mỗi chú chỉ nhận được hai mẩu tí xíu, vì phải chia đi chia lại nhiều lần và cứ mỗi lần cáo lại cắn bớt một miếng cho “đều”.

Lẽ ra hai chú có thể tự giải quyết với nhau bằng quy tắc “tôi chia bạn chọn”. Một chú gấu sẽ nhận nhiệm vụ chia đôi miếng pho-mát, chia đến khi nào chú thấy đều thì thôi, nhưng chú còn lại sẽ được chọn phần trước. Mọi chuyện sẽ kết thúc sau một lần chia và không cần đến cáo làm gì.

Có thể mẹ hai chú gấu đã dạy hai chú rằng phải chia cho đều nhau. Đó là một quy tắc tồi. Gấu mẹ nên dạy hai chú quy tắc “tôi chia bạn chọn”, đó là một quy tắc đúng.

Những quy tắc đúng là những quy tắc mà điểm cân bằng của chúng thuộc về một xã hội tốt đẹp.

Góc nhìn

Một người ném hai viên đá lên trời. Giả sử bạn là người tí hon và ngồi trên một viên đá, bạn sẽ thấy chuyển động của viên đá còn lại như thế nào?

Đây là một câu hỏi vật lý điển hình cho học sinh lớp 10, và là một câu hỏi dễ. Một học sinh bình thường có thể viết các phương trình và tìm ra kết quả trong vài phút, nhưng một người có kinh nghiệm thì có thể trả lời ngay mà không cần tính toán gì cả. Đáp án là một viên đá sẽ nhìn thấy viên đá còn lại chuyển động thẳng đều vì chúng có cùng gia tốc.

Chúng ta đã nói về hai cách tiếp cận để trả lời câu hỏi ở trên. Trong cách thứ nhất, chúng ta đứng ở vị trí của chúng ta nhìn hai viên đá và đưa ra nhận định. Trong cách thứ hai, chúng ta đặt mình vào một vị trí khác, và cũng đưa ra nhận định. Nhưng ở cách tiếp cận thứ hai, chúng ta có thể đưa ra nhận định nhanh hơn và chính xác hơn nhiều.

Trong ví dụ trên, dù không đổi hệ quy chiếu chúng ta vẫn có thể tìm ra câu trả lời một cách không mấy khó khăn, nhưng có những trường hợp mà thay đổi góc nhìn khiến chúng ta nhìn thấy những thứ ta từng không thể nhìn thấy được, làm được những thứ mà ta từng không thể làm được.

Hãy tưởng tượng chúng ta sống trong một thế giới hai chiều. Khi một vật thể ba chiều đi qua không gian hai chiều của chúng ta, ta sẽ chỉ có thể nhìn thấy những lát cắt hai chiều của vật thể ấy giao với không gian của ta, và sự biến đổi của lát cắt ấy đối với những sinh vật hai chiều là vô cùng kỳ ảo, và không thể giải thích được. Tuy nhiên, ngay khi ta bước sang được thế giới ba chiều và nhìn lại, không còn gì là kỳ ảo nữa. Giả sử một ngày bạn thấy một trái bóng bỗng dưng xuất hiện giữa trời, cứ thế lớn dần rồi sau đó nhỏ lại và biến mất, thì hoặc đó là do thần linh làm, hoặc chỉ đơn giản là một khối cầu bốn chiều vừa cắt ngang không gian ba chiều của chúng ta. Đó không phải là một điều kỳ lạ. Có điều, sinh vật ba chiều nói chung sẽ không tưởng tượng ra được thế giới bốn chiều, và hình như chúng ta không có bằng chứng gì về sự tồn tại/không tồn tại của thế giới đó.

Trong kỹ thuật, có một vài phép biến đổi mà về bản chất là đưa người quan sát sang một “thế giới khác.” Trong thế giới ấy, người quan sát thấy được và làm được những điều khó hoặc không thể ở thế giới ban đầu.

Trong kỹ thuật điện, khi làm việc với các linh kiện điện tử thụ động (R, L, C, etc.) và dòng xoay chiều, việc tính toán pha của dòng điện ở một vị trí cụ thể thường khá phiền phức. Tuy nhiên, khi dùng phasor transform, việc tính toán đó đơn giản biến thành cộng trừ nhân chia.

Trong bất kỳ ứng dụng nào mà chúng ta phải làm việc với tín hiệu, thường thì chúng ta sẽ thu được tín hiệu tổng hợp của nhiều tần số. Chỉ nhìn vào đồ thị trên miền thời gian thì việc xác định và phân tách các tần số là gần như không thể. Nhưng ngay khi ta dùng biến đổi Fourier, các dải tần số khác nhau sẽ tách nhau ra như một phép màu.

Trong kỹ thuật điều khiển, có một phép biến đổi phổ biến là Laplace transform. Phép biến đổi này khiến cho các phương trình vi phân biến thành các phương trình đại số, tức là có thể giải được chỉ bằng các phép tính cộng trừ nhân chia. Trong biến đổi Laplace, cũng như phasor transform, mọi chuyện xảy ra giống như ta bước sang một thế giới song song (giữa hai thế giới có một song ánh). Khi ta có một câu hỏi trong thế giới thực, ta tìm câu hỏi tương ứng trong thế giới song song, rồi tìm câu trả lời trong thế giới song song, cuối cùng là tìm câu trả lời tương ứng trong thế giới thực. Tức là ta không thể đi từ Q → A trong thế giới thực, nhưng ta biết rằng luôn có thể đi từ Q’ → A’ trong thế giới song song, và ta luôn có thể biến đổi X ←→ X’ giữa hai thế giới, vì thế, để đi từ Q tới A, ta đã dùng các phép biến đổi để đi Q → Q’ → A’ → A.

Trong tất cả các phép biến đổi, có một điểm chung là không có thông tin nào được thêm vào, nhưng chúng ta lại nhìn thấy nhiều hơn. Chẳng hạn, trong tín hiệu trên miền thời gian cũng có các tần số, nhưng chúng ta không nhìn thấy được. Biến đổi Fourier chỉ giúp chúng ta nhìn thấy và xử lý được các tần số đó, chứ không hề đưa thêm thông tin nào. Việc chúng ta không lọc được tiếng ồn khi chỉ có tín hiệu trên miền thời gian không phải là vì chúng ta không có đủ thông tin, mà vì chúng ta không biết cách nhìn thấy thông tin chúng ta cần. Ngay khi từ bỏ vị trí của mình và nhìn từ một góc khác, chúng ta được khai sáng.

Có những chân lý là phổ quát. Tôi đoán rằng ai cũng đã từng trải qua cảm giác khi thấy một điều học được hay chiêm nghiệm được ở một lĩnh vực nào đó vẫn đúng ở một lĩnh vực hoàn toàn khác. Ở đây tôi thấy sự tương đồng giữa kỹ thuật và cuộc sống thực. Có những khi ta phải đối mặt với những cảm giác tồi tệ, nhưng chỉ đặt mình vào vị trí của một người khác, nhìn nhận sự việc với một thái độ khác, ta có thể cảm thấy tốt hơn nhiều. Có khi ta thấy phía trước thật bế tắc, nhưng khi nhìn bản thân từ góc nhìn không phải bản thân, ta có thể nhận ra mọi thứ không tồi tệ đến thế.

Rất có thể dù ở đoạn nào trên con đường của cuộc đời, cũng có một góc nhìn khiến ta thấy cuộc sống của bản thân hạnh phúc hơn, nhiều hy vọng hơn so với hình ảnh mà ta vẫn thấy. Ta chỉ cần tìm ra góc nhìn ấy mà thôi.

Am san

Mỗi khi nghĩ về thời gian học ở KU tôi lại thấy đáng tiếc.

Hôm nay tình cờ tôi vào lại trang web của lab ở KU. Năm nay lab chúng tôi lại vô địch Rescue League và giành danh hiệu Best in Class hạng mục Dexterity. Tôi còn nhớ năm đầu tiên tôi ở lab, trong Uraken thầy có nói đã tham gia RoboCup hai mươi năm, nhiều lần vô địch Nhật nhưng chưa từng vô địch thế giới. Thầy nói với chúng tôi hãy giành chức vô địch. Tôi nhớ thầy đã dùng từ “please”. Chỉ 5 năm sau đó thầy sẽ về hưu.

Hai năm sau, vào năm tôi tốt nghiệp, Shinobi đã vô địch Rescue League. Tôi đã không phải là thành viên của đội Shinobi.

Đó là một trong vài điều đáng tiếc.

Trước khi sang Nhật, tôi có nói chuyện với Umeda san vào lúc ông còn giữ chức vụ ở VN. Umeda san cũng là cựu sinh viên KU, ngành luật. Có lẽ ông đã nghĩ cuộc sống ở KU của tôi, một người có CV rất rực rỡ ở thời điểm đó, sẽ nhiều màu sắc hơn.

Nói về CV rực rỡ thì hình như thầy tôi có xu hướng chọn những người có CV như thế.

Hôm nay khi vào trang web của lab, tôi thấy Am san vẫn ở đó. Ngày ấy khi tôi vào lab thì Am san bắt đầu làm tiến sỹ. Năm nay cô ấy đã là D6. Trong số người nước ngoài ở lab thì tôi có nhiều kỷ niệm với Hardik và Am san hơn cả.

Ngay từ hồi ấy tôi đã thấy Am san gặp vấn đề tương tự mình. Thậm chí vấn đề của cô ấy còn trầm trọng hơn, cô ấy có nhiều tháng phải về nước trị bệnh, hình như cô ấy đã bị trầm cảm. Cô ấy cũng xuất bản rất ít.

Hôm nay tôi thấy tên cô ấy vẫn còn trong lab, và google cái tên ấy.

Khác với những gì cô ấy đã thể hiện ở KU, trước khi sang Nhật cô ấy rõ ràng rất xuất sắc. Cô ấy đã nhiều lần là thành viên ban tổ chức RoboCup Thailand, nhiều lần lọt vào top 3 của RoboCup Japan Open, từng làm nghiên cứu ở Johns Hopkins. Trong lab cũ của cô ấy cũng có nhiều người trong các đội lọt top RoboCup thế giới.

Vậy mà cô ấy đã làm PhD ở KU đến 6 năm, và không biết có phải chỉ dừng lại ở 6 năm không.

KU là một trường có uy tín, lab rất tốt, thầy là một nhân vật lớn trong ngành, và Am san thực sự là người có năng lực. Nhưng chuyện gì đã xảy ra với cô ấy suốt 6 năm qua?

Tôi nghĩ rằng chỉ đơn giản là Am san đã không chọn một nơi phù hợp. Lúc còn bé tôi từng ngây thơ nghĩ rằng giỏi thì ở đâu cũng thành công, chính xác hơn thì tôi nghĩ rằng người tốt thì ở đâu cũng thành công. Nhưng không phải thế. Người ta thành công ở một nơi phù hợp.

Nếu ngày ấy Am san sang Mỹ, dù ở một lab của một giáo sư ít tên tuổi hơn, thì với những sự tình cờ của số phận, có thể giờ này cô ấy đã là associate professor.

Thói quen

Nhiều người nói rằng họ ghét Facebook, nhưng họ vào Fb rất chăm chỉ, không bỏ ngày nào. Tại sao? Có thể vì họ chẳng có gì để làm, và Fb là ứng viên sáng giá cho một hoạt động vô thưởng vô phạt có tác dụng giết thời gian và giúp người ta được nếm một chút dopamine.

Cũng có thể việc ấy chẳng có tác dụng gì hết. Vào facebook có thể khiến người ta cảm thấy bản thân bất hạnh, nhưng nó đã trở thành thói quen, và thói quen là thứ rất khó để chống lại.

Nếu như bằng thủ đoạn nào đó người ta có thể tạo ra cho bản thân những thói quen sẽ giúp họ về lâu dài cảm thấy hạnh phúc và hài lòng về bản thân, chẳng hạn như thói quen tập thể dục, đọc sách, giải quyết những vấn đề khó, v.v., thì tốt biết bao.

Hành động sẽ tạo ra kết quả, dù nguyên nhân của hành động là gì.

Plain English

Hôm nay tôi có một cuộc họp, trước cuộc họp ấy tôi được gửi vài văn bản. Từ “văn bản” và “cuộc họp” thường gợi lên trong tâm trí mọi người một thứ gì đó dài dòng và rắc rối một cách không cần thiết. Văn bản lần này tôi nhận được cũng vậy.

Người ta có xu hướng chọn cách viết phức tạp không cần thiết. Khi lẽ ra có thể viết là:

“If either party does not keep their promises in this agreement, the other party can immediately demand the full amount of the debt be paid without any extra notices.”

Thì người ta lại viết:

“In the event that the undersigned party shall breach any of the covenants or agreements set forth in this instrument, the other party shall have the right, but not the obligation, to declare the entire amount of the debt or obligation secured by this instrument immediately due and payable, without presentment, demand, protest, or further notice of any kind, all of which are hereby waived by the undersigned party.”

Cách viết thứ hai có hai tác dụng: thứ nhất là làm rõ ràng mọi chi tiết, để khi ra tòa người ta dễ lập luận hơn, thứ hai là làm người đọc đau đầu và từ chối đọc nếu có thể. Vậy thì, tại sao chúng ta lại hay gặp cách viết thứ hai thế, dù không phải ai cũng là luật sư?

Tôi nghĩ lý do liên quan đến một bản năng của con người. Chúng ta bị ảnh hưởng rất nhiều bởi vẻ bề ngoài. Dù có được dạy bao nhiêu lần rằng không được đánh giá một cuốn sách qua cái bìa của nó, người ta vẫn sẽ luôn làm thế, đó là bản năng. Sẽ không có một người đầu óc bình thường nào nghĩ rằng một người mặc một bộ đồ nhàu rách đi ngoài đường là chủ tịch chứ không phải là ăn xin. Vì lẽ đó, khi một người muốn tỏ ra rằng bản thân là người thông minh tài giỏi, có học thức và địa vị, anh ta sẽ có xu hướng “làm màu” bằng cách cố tình dùng vài từ khó hay các cấu trúc ngữ pháp phức tạp. Đó là những người cố chứng tỏ mình, còn những người sống trong thế giới mà ai cũng dùng ngôn ngữ theo cách đó, chẳng hạn như các luật sư, thì có thể họ không cố tình mà chỉ đơn giản là hành văn theo thói quen. Dù là trường hợp nào, thường thì người ta sẽ được xem là người thông minh và quan trọng hơn khi người ta dùng được những cấu trúc ngữ pháp khó hơn.

Được coi là giỏi giang thì cũng tốt, nhưng tốt hơn là đạt được mục đích giao tiếp. Một trong những bài học vỡ lòng của học sinh Việt Nam khi học viết là những lời khuyên của Bác Hồ. Trước khi viết cần tự đặt câu hỏi: “Viết cho ai?”, “Viết để làm gì?” Có một người mà chúng ta không ngờ đến đã áp dụng hiệu quả những lời khuyên này: Donald Trump. Như thế nào? Người ta đã nghiên cứu về cách dùng từ của Trump và đi đến kết luận rằng ngôn ngữ của ông học sinh lớp 4 có thể hiểu được hoàn toàn. Các đối thủ của ông ta, Obama và Hillary Clinton sử dụng ngôn ngữ phù hợp với học sinh từ lớp 9-12. Ngôn ngữ mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ sử dụng trong các văn bản còn lại đến ngày nay thì phù hợp với trình độ sau đại học.

Quan chức Mỹ càng ngày càng sử dụng ngôn ngữ đơn giản, còn quan chức Việt Nam sử dụng ngôn ngữ ngày càng màu mè. Nguyên nhân dù là gì chắc chắn cũng rất thú vị.

Thú vui

Có những việc vì thích nên ta làm, just for the sake of it. Nhưng khi làm rồi, ta lại muốn thứ mình làm hoàn hảo hơn và bỏ nhiều công sức vào việc ấy. Thế nhưng khi ta dành quá nhiều thời gian và công sức vào một việc, cảm giác vui thú gắn liền với nó có thể sẽ bị thay thế bằng cảm giác mệt mỏi. Đến một lúc nào đó mà ta không hay biết, ta sẽ không còn hào hứng khi nghĩ về thú vui ấy nữa.

Tôi đã gặp cảm giác như thế với việc chụp ảnh và việc viết. Chụp ảnh thì rất vui, nhưng nếu chụp ảnh cho nhiều người và phải gửi lại thì nó trở nên giống như một công việc không thú vị. Chỉnh sửa ảnh cũng vui, nhưng nếu chỉnh sửa hàng trăm ảnh mỗi lần đi chụp thì không vui nữa. Và nếu là một người có tính cầu toàn, ta khó mà tránh được sự thôi thúc phải gửi lại ảnh cho tất cả mọi người và chỉnh sửa những gì cần chỉnh sửa.

Có một thời gian tôi đã ngại chụp ảnh, nhưng rồi tôi lớn lên khỏi cảm giác đó. Giờ thì tôi vẫn chụp hàng trăm tấm ảnh mỗi lần định chụp, nhưng nói chung không chỉnh sửa gì nhiều, cũng không đăng lên đâu. Cảm giác thật thoải mái. Rất có thể nhiều bức ảnh trong số ấy tôi sẽ không xem lại cho tới khi một con AI nào đó trên GG hay Amazon Photos mang nó ra, hoặc cho tới khi viết hồi ký. Cảm giác lúc chụp ảnh vẫn vui.

Tôi cũng thích viết, và từng viết blog thường xuyên. Tới khi tôi nhận ra có một vài người thường xuyên quay lại blog của mình, và có nhiều người mới tới, tôi vô thức dành nhiều thời gian để trau chuốt các bài viết hơn. Nhưng bằng cách đó, việc viết trở nên mệt mỏi và tốn thời gian. Tôi vẫn thích viết và không muốn để mất thú vui ấy, vì thế tôi viết ở đây.

Về việc viết

Tôi thích nói chuyện đạo lý, trước đây và cả bây giờ cũng vậy. Tôi đã viết vài bài trên blog về những bài học cuộc sống. Nhưng bây giờ, tôi không sao có thể viết được những bài như vậy nữa.

Sự thật thì vẫn là sự thật dù ai nói ra. Tôi biết sẽ chẳng có gì sai nếu khuyên các bạn trẻ ngủ sớm mỗi ngày, ăn uống đầy đủ, luyện tập thể thao, v.v., ngay cả khi tôi thường xuyên thức đêm và không luyện tập gì. Có những điều tôi biết rằng rất đúng, và rất sâu sắc. Tôi muốn viết ra, để tất cả mọi người, hay ít nhất là những người vô tình ghé qua trang của tôi, cso thể đọc được. Nhưng những điều sâu sắc ấy tôi lại chưa làm được. Tôi thấy mình chưa đủ tư cách nói ra những điều ấy, và thường thì sự xấu hổ ngăn tôi viết.

Một thế giới tốt đẹp hơn

Nghe nói quân đội là một lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế Triều Tiên. Lần đầu tiên nghe về chuyện ấy, tôi đã nghĩ, nếu họ chỉ tập trung vào làm kinh tế mà không phải chuẩn bị cho những cuộc chiến tranh thì tốt biết bao. Không chỉ ở Triều Tiên, mà trên khắp thế giới này, nếu không còn quân đội nữa, thì cuộc sống của con người sẽ tốt đẹp hơn biết bao nhiêu.

Quân đội chỉ là một trong số rất nhiều thứ mà con người tạo ra để đối phó với chính con người. Trong bản chất của con người, có cái xấu và cái tốt. Để đối phó với phần xấu, con người đã phải tốn rất nhiều tài nguyên. Từ góc nhìn thực tế, đó là những chi phí không thể tránh khỏi, nhưng có những lúc, tôi thấy chúng thật vô nghĩa.

Nghe nói ở Liechtenstein người dân đi ngủ không phải khóa cửa, ở Melbourne xây nhà không phải làm hàng rào. Không biết có thật thế không, nhưng chẳng phải ta nên hy vọng đó là sự thật, và là sự thật ở mọi nơi hay sao. Khi không phải đề phòng người khác, mỗi người đều sẽ có tâm lý thoải mái, tiết kiệm nhiều chi phí, và thế giới con người sống sẽ đẹp hơn theo cả nghĩa đen.

Nếu tất cả mọi người đều sống theo những gì được coi là tốt, ta hãy thử xem thế giới sẽ tốt hơn như thế nào. Những thứ sau đây sẽ biến mất: quân đội, tình báo, vũ khí, nhà tù, tòa án, các công ty an ninh, các chuyên gia thẩm định chống lừa đảo, v.v. Thậm chí, hình thái của các nhà nước cũng sẽ thay đổi, trở thành một thứ gì đó rất gần với nhà nước của Utopia. Sự biến mất hoặc biến đổi của những thực thể kể trên có khả năng sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn so với những gì ta đang tiêu tốn cho chúng, bằng với chi phí phải bỏ ra cộng thêm chi phí cơ hội. Chẳng hạn, nước Mỹ chi 700 tỷ USD trong năm nay cho quân sự, nhưng nếu không có quân đội, những người lính có thể làm các công việc khác, tạo ra các giá trị mới. Các nhà thầu có thể dồn nguồn lực của mình cho các dự án khác. Hãy tưởng tượng viễn cảnh này, không có một đồng nào trong số hơn 700 tỷ kia mất đi theo cái cách mà tiền bay hơi mỗi khi một chiếc máy bay bị bắn hạ hay một quả bom phát nổ, hay một người lính nhận lương chỉ để duy trì trạng thái sẵn sàng. Thay vào đó, những người lính trở thành lực lượng lao động tạo ra của cải cho xã hội, những công ty như Lockheed Martin sản xuất những máy móc thực sự phục vụ con người, những bộ óc thiên tài đang làm việc trong lĩnh vực tình báo hay an ninh mạng có thể chuyển sang làm kinh tế.

Nếu những điều trên xảy ra, chẳng phải rất tuyệt vời sao. Nếu con người tin tưởng, thương yêu lẫn nhau, và sống có đạo đức, chẳng phải sẽ rất tuyệt vời sao. Đáng tiếc là, nếu như có những quy luật khách quan trong cách thế giới vận hành, thì việc con người luôn có phần xấu cũng là một sự thật khách quan, và có vẻ như không có cách nào để loại bỏ những chi phí cho việc kìm hãm và ngăn chặn phần xấu xa đó.

ChatGPT

ChatGPT ra mắt đại chúng vào tháng 11 năm 2022. Đây là chatbot thứ hai, hoặc thứ ba, đã vượt qua Turing Test. Nghe nói google có Lamda với cảm xúc giống người hơn nhiều, nhưng người bình thường thì chưa thể tương tác với nó mà chỉ có thể đọc script.

Gần đây tôi dùng ChatGPT nhiều. Đầu tuần ChatGPT giúp tôi viết một đoạn VBA, hôm nay nó giúp tôi viết một đoạn Matlab. Những đoạn code đó đều chạy được luôn mà không phải chỉnh sửa gì, tức là ChatGPT về cơ bản “giỏi” hơn một kĩ sư bình thường khi làm những công việc như vậy. Điều làm tôi thấy ấn tượng là ngay cả câu hỏi mà tôi đã dùng để nhờ ChatGPT viết code Matlab cũng rất khó hiểu, chưa nói đến việc nó trả lời được. Tôi nghĩ ChatGPT có thể giúp mình làm được nhiều điều hơn, chỉ là tôi không thể giải thích cho nó điều tôi muốn làm một cách dễ hiểu. Khó mà nói về tương lai xa, nhưng trong tương lai gần rất nhiều người có thể trở thành lập trình viên bằng cách học cách ra lệnh cho ChatGPT, chứ không phải là học lập trình. Điều này cũng giống như có thời có những người đã học cách tra cứu Google hiệu quả để viết báo.

Tôi đã không nghĩ AI có thể trở nên thông minh như vậy trong một thời gian ngắn như vậy. Nghe nói Sam Altman lúc nào cũng chuẩn bị sẵn sàng cho ngày tận thế. Ngày mà AI “xâm chiếm thế giới” có thể sẽ tới sớm hơn nhiều so với hình dung của rất nhiều người.

Magic

“Any sufficiently advanced technology is indistinguishable from magic” – Arthur C. Clarke’s famous quote continues to ring true in our modern era. The concept of “sufficiently advanced” means that the technology is more advanced than what is currently available. As human beings, we are constantly amazed and bewildered by technological advancements that seem like magic to us.

Take a look at the past, for instance. To prehistoric people, the processes of making silk, cultivating rice, and constructing wooden homes were mysterious and beyond their comprehension. To them, these things would have seemed like magic. Similarly, those who lived in medieval period would be in awe of the innovations of the first industrial revolution such as motors, trains, electricity, and machines if they had ever had a chance to see them. In more recent times, people have been amazed by the invention of spacecraft, cars, mobile phones, and the internet. While we may take these things for granted now, for previous generations, they were nothing short of magic.

For someone like me, born in the 90s, the gadgets in the anime “Doraemon” seemed like magic when I was a child. But now, many of these gadgets have become a reality, with instant translation devices, self-driving cars, and virtual assistants. A lot of stuff that used to exist only in Doraemon’s pocket or our imagination are now readily available on platforms like eBay and Amazon.

As technology continues to advance, the line between what seems like magic and what is considered normal will continue to shift. It’s exciting to think about what the future holds and what new forms of “magic” technology will bring us.

Lastly, and most interestingly, could you guess? Most of the text above was written by ChatGPT with my prompts.

Trúng số

Người ta hay nói rằng trúng số đem lại vận xui. Nhiều người tan cửa nát nhà, hay ít nhất là gia đình mâu thuẫn hay cũng khó khăn hơn trước, sau khi trúng số. Nhưng trúng số không phải là một bản án. Tôi có nghe chuyện về những người khi trúng số thì dành tiền mua đất, hoặc bắt đầu kinh doanh. Có lẽ việc trúng số sẽ không đem lại điều gì tồi tệ cho họ.

Nhưng, tại sao lại có nhiều câu chuyện về sự xui xẻo sau khi trúng số như thế? Tôi cho rằng nguyên nhân phần lớn là khách quan.

Hãy bắt đầu với một câu chuyện có vẻ không liên quan lắm. Sau khi chiến tranh Triều Tiên tạm dừng, Bắc Triều Tiên nhận được những khoản hỗ trợ khổng lồ từ khối XHCN. Trong những năm 50-60, nền công nghiệp của họ tăng trưởng với tốc độ vào hàng cao nhất trên thế giới. Nhưng như chúng ta thấy, ngày nay Triều Tiên không phải là một cường quốc. Nếu coi những khoản viện trợ mà họ nhận được là những tấm vé số trúng giải độc đắc, thì Triều Tiên cũng đã trúng phải “lời nguyền kẻ trúng số”.

Nhận được nhiều sự giúp đỡ hay tự nhiên trúng số không phải là một vấn đề. Vấn đề phát sinh khi người ta có trong tay nhiều tài nguyên hơn so với khả năng quản lý của họ. Triều Tiên đã không có đủ năng lực để điều hành và phát triển nền kinh tế của họ. Họ đã đưa ra những kế hoạch bất khả thi, có những dự báo và chỉ đạo sai lầm. Cũng giống như vậy, một người bình thường chỉ quản lý và sử dụng vài chục hay vài trăm triệu đồng, về cơ bản sẽ không có khả năng sử dụng vài chục hay vài trăm tỷ đồng một cách hiệu quả. Họ không biết cách đầu tư, và không biết cả cách tiêu xài.

Đôi khi người ta muốn những thứ nằm ngoài khả năng của mình. Đó là một sai lầm. Trước đây, người ta đưa nông dân vào quản lý nhà máy, bắt các giáo sư nghe những người mới được xóa mù giảng về chính trị, kết quả rất tai hại. Trong một tổ chức, nếu một người không đủ năng lực lên nắm những vị trí cao, anh ta trước tiên sẽ đẩy bản thân vào một cuộc sống căng thẳng và không hạnh phúc, sau đó là gây tổn hại đến tổ chức. Không kể những con người phi thường, người ta thường trải qua nhiều vị trí thấp rồi mới lên vị trí cao, vì đó là quá trình để họ trưởng thành, và để họ và những người xung quanh biết họ nên dừng ở đâu.

Để có một cuộc sống tốt, chúng ta nên hướng tới những thứ tốt nhất đối với bản thân, không nên hướng tới những thứ tốt nhất có thể. Nếu chúng ta nghèo, có thể mơ giàu, nhưng không nên mơ trúng số. Nếu ta là nhân viên, có thể mơ làm giám đốc, nhưng không nên mơ tự nhiên được cất nhắc. Nếu ta là binh sĩ, có thể mơ làm tướng, nhưng không phải chỉ qua một đêm, vì không phải ai cũng là Võ Nguyên Giáp. Nếu học không giỏi, ta vẫn có thể mơ ước vào Harvard, nhưng không phải vì được ưu tiên. Nếu ta mong có được những thứ tốt đẹp mà ta không xứng đáng, ta sẽ chỉ hại mình hại người. Ước mơ chỉ tốt khi nó khiến ta cố gắng và trở thành một người tốt đẹp hơn, một người hoàn toàn xứng đáng với điều mà bản thân ta mơ ước.

Một con ếch có thể to như con bò, nếu nó trở thành con bò. Nhưng nếu con ếch chỉ cố phình ra để to như một con bò trong khi nó vẫn là một con ếch, nó sẽ nổ tung.

Quan điểm của thầy Phan Văn Trường

Thầy Phan Văn Trường nhiều lần khuyên các bạn trẻ tận hưởng cuộc sống, làm những gì các bạn muốn, đừng tranh thủ hay thi đua, rồi cuối cùng các bạn cũng sẽ có được những gì các bạn muốn.

Tôi nghĩ thầy đã lầm.

Vì thầy rút ra kinh nghiệm từ chính cuộc đời mình, nên có lẽ lời khuyên đó sẽ đúng với thầy. Nếu thầy áp dụng nó từ khi còn trẻ, có thể thầy vẫn sẽ có những gì thầy đang có, mà không cần phải mất những gì thầy đã mất. Nhưng, trên đời này có bao nhiêu người như thầy? Có bao nhiêu người có xuất thân giống như thầy có, trí tuệ và thể trạng như thầy có, có những cơ hội mà thầy đã có?

Thầy hay đưa ra ví dụ là các bạn trẻ ở Pháp sống rất hồn nhiên, rồi đến tuổi này thì vẫn được thăng chức, đến tuổi kia thì vẫn làm giám đốc.

Rõ ràng là không phải bất kì người nào muốn trở thành giám đốc cũng đã trở thành giám đốc. Ví dụ của thầy không có tính phổ quát lắm.

Chu Tân Ninh có đưa ra một ví dụ thế này trong cuốn Mặt Dày Tâm Đen, vì tâm đắc với ví dụ ấy mà tôi không thể nào đồng ý với thầy Phan Văn Trường: Nếu bước vào chuồng sư tử chỉ với một cây roi, có người luyện thú sẽ khiến con thú bị thuần phục, có người thì sẽ biến thành một đống bầy nhầy. Nguyên nhân có thể gói gọn lại là, không phải ai cũng giống ai.

Muốn trở thành người Nhật

Tôi vừa nghe một đoạn nói chuyện của một bạn trẻ người Italia. Bạn nói mục tiêu trong cuộc đời là trở thành người Nhật. Trở thành người Nhật không có nghĩa là có ngoại hình như người Nhật, hay có quốc tịch Nhật, mà là được đối xử như người Nhật.

Người nước ngoài ở Nhật thường được đối xử rất lịch sự, và khách sáo. Nếu sống ở Nhật nhiều năm và vẫn được, hay bị đối xử như vậy, có lẽ nhiều người sẽ phát chán, và mơ ước giống bạn trẻ ở trên.

Người ta có thể khách sáo với người mà họ quý mến, nhưng không ai khách sáo với người mà họ thân thiết.

Không biết không có tội

SBF đã bị bắt. Cho tới gần đây thì SBF vẫn nói rằng anh ta không nghĩ mình sẽ phải chịu trách nhiệm gì, bởi vì anh ta gây ra thảm họa chỉ vì thiếu hiểu biết và thiếu tập trung vào công việc (theo lời anh ta nói). (Thực ra có bằng chứng cho thấy SBF đã lừa đảo ngay từ đầu.)

SBF nên bị bắt. Nếu ai cũng có thể làm ra những chuyện tồi tệ rồi chối bỏ trách nhiệm bằng cách nói rằng bản thân không biết chuyện sẽ tồi tệ như thế, thì xã hội đã không thể vận hành như chúng ta thấy nó.

Người ta, đặc biệt là khi còn trẻ, đôi khi có xu hướng cho rằng mình có thể làm mọi thứ, rằng “cứ sai đi vì cuộc đời cho phép,” nhưng chắc chắn là cuộc đời chưa bao giờ nói cho phép. Mọi sai lầm đều sẽ phải trả giá, dù đắt hay rẻ, nhất là khi sai lầm ấy gây hại đến người khác.

Tôi nghĩ rằng khi còn trẻ, chúng ta nên thử thách bản thân với nhiều thứ, nhưng khi ấy nên tâm niệm rằng “mình sẽ chịu trách nhiệm nếu mọi việc không như ý muốn”, thay vì “nếu có sai lầm cũng không sao”. Đôi khi, sai lầm lớn đến mức cuộc đời của một người bị hủy hoại hoàn toàn và không còn gì sau đó nữa.

Những doanh nhân nói dối

Vào năm 2017, Kane Bodiam nhận được offer 2.5 triệu đô từ Andrew Banks cho 22.5% cổ phần của công ty mà anh ta sáng lập. Đó là khoản đầu tư lớn nhất trong lịch sử Shark Tank Úc cho đến thời điểm đó. Banks đã rất kỳ vọng vào khoản đầu tư này, chỉ để hoàn toàn thất vọng không lâu sau đó.

Bodiam đã hoàn toàn dối trá về công ty của anh ta khi gọi vốn.

Cách đây ít ngày, một nhà khởi nghiệp khác là Elizabeth Holmes đã nhận án tù cho hành vi tương tự với Bodiam, chỉ khác là cô làm với quy mô lớn hơn, lừa được nhiều nhân vật quyền lực hơn, và những việc cô làm còn thiếu đạo đức hơn, đồng thời nguy hại đối với xã hội.

Giống như Bodiam, Holmes chưa bao giờ thừa nhận mình lừa đảo. Theo những gì báo chí mô tả về cô, Holmes chỉ đơn giản thấy rằng mình đã bị chèn ép, và đã không gặp may. Mặc dù cô nói dối về mọi thứ, kể cả những câu chuyện tuổi thơ cảm động để lấy nước mắt khán giả, cô nghĩ rằng mọi thứ có thể thành sự thật, Theranos có thể thành công, tiếc là cô đã không gặp may.

Người nhà của những bệnh nhân đã nhận kết quả xét nghiệm từ Theranos có thể nghĩ Holmes là một kẻ thái nhân cách, một con quỷ máu lạnh, nhưng những điều cô ta nghĩ không hẳn là sai.

Có những người nói dối và vẫn thành công, vẫn được ngưỡng mộ. Họ thậm chí thành công vì đã dám nói dối. Có một đặc điểm tâm lý của loài người tạo điều kiện cho sự thành công của họ.

Ford từng nói rằng dù ta tin rằng mình có thể hay không thể, ta đều đúng. Ở rất nhiều trường hợp, dù người ta nói dối hay nói thật, điều họ nói cũng sẽ thành sự thật.

Rất có thể thần tượng của Holmes là Steve Jobs. Cô ta mặc trang phục như Jobs, học cách nói chuyện như Jobs, khiến cho người ta gọi cô là Steve Jobs phiên bản nữ. Và Jobs thì không ít lần nói dối. Khi ra mắt iPhone, ông đã từng nói về những tính năng tưởng tượng như thể nó có thực, nhưng những lời nói dối của ông lại thành hiện thực vào ngày iPhone đến tay người dùng. CEO của BPhone cũng học theo cách của Jobs, nhưng có vẻ không thành công lắm. Còn Holmes thì nói về Edison hệt như Jobs nói về iPhone, cũng là một kỳ quan công nghệ đậm tính tương lai, chỉ có điều không như tương lai của iPhone ngày trước, tương lai của Edison còn xa hơn cả ngày mà tất cả sự thật được phơi bày và Holmes phải ngồi tù.

Có phải những trường hợp như Bodiam hay Holmes là cá biệt? Có lẽ là không. Trong thế giới ngày nay, khi mà start up mọc lên như nấm, để có thể có được vốn đầu tư thì có một cách tương đối hiệu quả là đánh bóng hình ảnh, tức là làm như thể CEO rất có năng lực, và công ty rất có tiềm năng.

Thường thì những điều các vị CEO này vẽ ra không khó để bóc mẽ, nhưng không hiểu sao họ vẫn thành công (ít nhất thì họ gọi vốn thành công). Nếu điều tra thì người ta sẽ thấy ngay là con số mà Bodiam đưa ra là giả. Holmes đã liên tục nói dối trước khi bị vạch trần. SBF tuyên bố kiếm tiền để làm từ thiện nhưng tỷ lệ tài sản được dùng để làm từ thiện lại quá nhỏ, đối với một người có tuyên bố như vậy. Elon Musk nói dối vô số lần, nổi bật nhất là khi ông ta nói bản thân là co-founder của Tesla (và thực tế là đã “mua” được danh hiệu này, một thứ rất có giá trị để gọi vốn và quảng bá cho công ty và những hoạt động của ông ta sau này), nói rằng xe tự hành 100% sẽ sẵn sàng vào năm 2021, hay những lần ông ta nói gì đó về crypto. Sau một thời gian đọc các bài báo về Musk thì mỗi khi thấy ông ta tranh cãi với một chuyên gia công nghệ, tôi gần như chắc chắn phát biểu của Musk không đúng, có điều nó giúp ông ta kiếm tiền bằng một cách nào đó.

Chúng ta biết rằng có thể họ đang nói dối, nhưng gần như không có người nào có thói quen kiểm chứng khi nghe một thứ gì đó ấn tượng, trong khi hầu hết mọi người có thói quen thán phục khi nghe những thứ đó. Dù nói dối hết lần này đến lần khác, Musk vẫn có một số lớn fan. Dù Holmes nói dối trắng trợn, nhưng nếu trước cái ngày định mệnh mà kế hoạch của cô bị cho lên báo, một nhân viên nào đó trong bộ phận nghiên cứu của Theranos thành công với một chức năng nào đó của Edison, thì gần như chắc chắn ngày hôm nay cô vẫn là tỷ phú, và đang được gọi là Steve Jobs phiên bản nữ.

Và Holmes có lý khi nghĩ rằng cô ấy chỉ không may mắn. Cô ấy cũng nói dối như Jobs, chỉ có điều khi sản phẩm ra mắt thì lời nói dối chưa thành hiện thực. Cô ấy cũng theo đuổi một công nghệ tương lai như Musk với SpaceX, chỉ khác là vì lời nói dối bị phát hiện, cô không thể theo đuổi cho đến khi nó thành hiện thực. Tất nhiên, cô ấy xấu xa hơn hai tiền bối nhiều, bởi vì dù iPhone có thiếu một vài tính năng, hay tên lửa có không sử dụng lại được, thì cũng không có tính mạng nào bị đe dọa giống như khi nhận kết quả xét nghiệm sai.

Có những quy luật chi phối sự vận hành của thế giới này. Chúng ta không thể trách những người như Bodiam hay Holmes nhiều hơn trách những người có thể tin vào họ, aka – chúng ta. Bởi vì chúng ta tin vào những lời nói dối, nên hành vi của Bodiam hay Holmes mới xuất hiện. Thực tế là trong lịch sử, có rất nhiều người tiến lên được trên con đường sự nghiệp của họ là nhờ một hay nhiều lời nói dối mà họ đã, hoặc vẫn không hóa giải. Tôi nghĩ rằng nếu một người thần tượng người như Musk, thì anh ta không có tư cách lên án người như Bodiam. Bodiam chỉ thiếu may mắn, và có thể là một chút năng lực mà thôi. Về bản chất, anh ta đã không làm điều gì tồi tệ hơn.

Sự tự hào vô lý

Gần đây tôi xem một bài nói chuyện trong Strange Loop Conference và thấy một đoạn rất thấm thía. Diễn giả nói rằng hầu hết các ngôn ngữ bắt lập trình viên phải thực hiện những thao tác không liên quan gì đến việc mà họ muốn thực hiện. Thế mà mọi người lại thấy đó là điều tự nhiên, và thậm chí tự hào và tự cảm thấy sung sướng vì mình đã học được và làm được những thao tác đó, như người dùng Peter Harkins đã phát biểu trong một tweet.

Thật vô lý.

Hình như mọi người cảm thấy vui vẻ và thỏa mãn khi biết được hoặc làm được một điều gì đó khó. Đó là tâm lý của con người. Nhưng điều đó không chỉ vô lý, nó thậm chí còn nguy hại.

Hãy thử tưởng tượng rằng thay vì hợp ngữ, người ta viết toàn 0 với 1 cho máy dễ đọc, hoặc không gõ phím mà đục lỗ rồi đưa thẻ vào máy tính. Nếu chuyện đó xảy ra vào khoảng hai ba mươi năm trước, đó là một thảm họa. Ngày nay, nếu ở tất cả mọi nơi người ta phải dùng hợp ngữ thay vì các ngôn ngữ bậc cao, đó cũng là một thảm họa. Tất nhiên hiểu biết về kiến trúc máy tính và ngôn ngữ máy thì cũng đáng tự hào thật, nhưng ngày nay người ta có thể làm hầu hết mọi việc mà không cần biết những thứ đó.

Khi còn học đại học, tôi nhớ đã từng dành nhiều thời gian mày mò cài compiler trên Windows, viết code bằng notepad rồi biên dịch với command line. Đó đúng là biểu hiện của căn bệnh mà Harkins nói tới. Tôi cảm thấy thật tuyệt khi mình có thể tự biên dịch, nhưng lẽ ra nên dùng IDE. Người khổng lồ cho mình đứng trên vai, mà mình không chịu và cố tự bơm mình to lên cho bằng người khổng lồ thì thật là ngốc nghếch, và nhiều khi là không thể.

Mỗi khi làm những thứ như thế tôi đã tự nhủ như vậy là để giúp mình hiểu cặn kẽ và bài bản. Tôi không để ý rằng chúng đã làm mình mất đi bao nhiêu thời gian quý giá để làm những thứ khác, và thực sự tới giờ cũng không giúp ích được gì nhiều.

Có những thứ chúng ta ăn ngon lành, để rồi một vài chục năm sau mới biết là có độc.

Phát minh

Trong phần lớn trường hợp, các phát minh khiến cho con người trở thành một sinh vật hiệu quả hơn khi sử dụng phát minh ấy, nhưng một năng lực tương ứng với phát minh ấy lại trở nên suy yếu.

Việc tính nhẩm là khó, vì thế người ta phát minh ra máy tính. Bây giờ thì một người bình thường có lẽ có khả năng tính nhẩm kém hơn so với một người bình thường trước khi máy tính bỏ túi được phát minh.

Người ta thường hay quên vị trí đồ đạc, vì thế những thứ như air tag được phát minh. Có lẽ những người dùng air tag sẽ bớt lý do để luyện trí nhớ, và nếu không dùng air tag nữa họ sẽ quên đồ nhiều hơn trước.

Con người khó di chuyển nhanh bằng đôi chân, vì thế chúng ta phát minh ra xe cộ. Có lẽ sức mạnh đôi chân của một người không còn được như trước khi chúng ta có những chiếc xe.

Các phát minh là tốt, nhưng sẽ là sai lầm nếu nghĩ rằng không có mặt xấu nào. Với bất cứ thứ gì, khi chúng ta hiểu rõ cả mặt tốt và không tốt, bản thân thứ ấy đối với chúng ta lập tức trở nên tốt hơn.

The genius of Elon Musk

A minute ago I read an article stating that people are underestimating the genius of Musk, and that his companies are all ahead of time. I can help but question the opinion. All of his companies? There is no doubt that NeuralLink is “futuristic”, and SpaceX is great, but how about The Boring Company? Anyone could easily realize that the combination of a normal metro system and a high level autonomous car like Zoox would be a much better solution for the problem The Boring Company is trying to solve. Why awkwardly putting a Tesla with the maximum capacity of 4 people, instead of a train, on rail? The answer is, he wants to use Tesla, it is the genius of Musk. He is a genius of making money.

Cờ vua

Trong phần lớn lịch sử thì cờ vua Nga xếp thứ nhất trên thế giới. Các nước theo sau là các nước từng thuộc Liên Xô. Gần đây thì Nga xếp thứ nhất, theo sau là Trung Quốc, Mỹ xếp thứ ba.

Xếp hạng của một quốc gia được tính dựa trên Elo trung bình của 10 kỳ thủ mạnh nhất quốc gia ấy. Elo thay đổi dựa trên kết quả thi đấu.

Trong mấy tháng gần đây, Mỹ vượt TQ và Nga để xếp thứ nhất. Có lẽ thứ tự cũ sẽ không quay trở lại chừng nào còn Zero-Covid và chiến sự ở Ukraine.

Bí mật

Năm 2014, tôi đến Nhật Bản lần đầu tiên. Chúng tôi được dẫn đi tham quan một vài công ty và nhà máy của họ. Ở một công ty nhỏ, giám đốc đã nói với chúng tôi một điều mà tôi nhớ tới tận bây giờ:

Muốn thành công trong kinh doanh, cần phải biết điều mà người khác không biết. Việc kinh doanh có thể hoàn toàn dựa trên hiểu biết đó.

Công ty đó nắm giữ một công nghệ cho phép chuyển các thực phẩm rất mềm và xốp từ băng chuyền này sang băng chuyền khác mà không làm chúng vỡ vụn. Toàn bộ nhà máy của họ là để sản xuất các máy móc với công nghệ ấy.

“Điều mà người khác không biết” có thể là một công nghệ, cũng có thể chỉ là một thông tin. Peter Thiel trong Zero to One nói rằng những doanh nghiệp thành công được xây dựng dựa trên một bí mật nào đó. Đó là một bí mật mà họ biết, và người khác thì không. Davidowitz trong cuốn Everybody lies đưa ra nhiều ví dụ về sự thành công trong kinh doanh và chính trị do biết được điều mà người khác không biết. Chẳng hạn, Mark Zuckerberg biết rằng người ta thích tọc mạch chuyện đời tư của người khác, và dù người ta có phản đối nhiều tính năng của FB, họ vẫn click. Anh ta chỉ cần biết có vậy và tiếp tục phát triển FB. Donald Trump thì biết rằng mặc dù nhiều người ngại nói ra rằng họ ủng hộ chủ nghĩa da trắng thượng đẳng, trong thâm tâm họ nghĩ vậy. Ông ta đã thắng cử.

Không phải chỉ những nhà sáng lập các công ty khởi nghiệp mới cần biết một bí mật. Ai cũng cần. Nếu chúng ta không biết những điều mà người khác không biết, nói chung chúng ta sẽ không làm được những điều người khác không làm được, không có được những thứ người khác không có được, tức là sẽ sống một cuộc đời bình thường và dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố không kiểm soát được.

Tìm được một bí mật khiến bản thân muốn xây dựng sự nghiệp với nó là một điều thật hạnh phúc.

Tocqueville effect

Hiệu ứng này còn được biết đến là một nghịch lý. Nó nói rằng khi điều kiện kinh tế xã hội được cải thiện thì con người lại có nhiều bất mãn hơn. Một ví dụ đơn giản là chúng ta thường nghĩ cách mạng xảy ra khi con người bị dồn đến đường cùng, nhưng thực ra nếu trước khi người ta bị dồn đến đường cùng mà có nhà cải cách nào đó cải cách xã hội, thì cách mạng cũng rất có khả năng xảy ra.

Lý do là khi người ta hết cái ăn thì người ta sẽ phải đứng lên, nhưng cũng khi hết cái ăn, ai cho người ta một bát cám lợn người ta cũng thấy thỏa mãn. Ngược lại, khi đời sống được nâng cao mà lỡ vẫn còn người đói, ai cho người ta một bát cám lợn thì người ta sẽ thấy bị xúc phạm, và sau đó là khởi nghĩa.

Tại mọi quốc gia thì thế hệ trước có nhiều cơ hội để bất ngờ về sự kém cỏi hoặc sự dốt nát của thế hệ sau. Chẳng hạn, thời vài chục năm trước ở Âu Mỹ có vắc xin để tiêm là một điều hạnh phúc, còn bây giờ nhiều phụ huynh trẻ tham gia phong trào antivax. Ở nước ta, chỉ đôi chục năm trước, mọi người còn phải làm việc quần quật, và hạnh phúc khi mỗi ngày đều có đủ cơm ăn. Bây giờ thì có những đứa trẻ tủi thân vì không có iPhone như các bạn, hay trầm cảm vì áp lực xã hội. Có những người (gồm cả tôi) thấy điều đó khá kỳ lạ, nhưng hóa ra cách giải thích cũng không khó hiểu lắm. Lúc đất nước còn nghèo, có ăn là hạnh phúc rồi, không cần phải ngon, được tiêm vắc xin là hạnh phúc rồi, có sốt một hai ngày hay đau nhức ở chỗ tiêm cũng không phải vấn đề. Khi xã hội tiến thêm vài bước thì ăn không ngon trở thành vấn đề, mặc không đẹp trở thành vấn đề, chỗ ở không sang chảnh cũng thành vấn đề, tiêm vắc xin bị đau tay cũng thành vấn đề, có khi là vấn đề rất nghiêm trọng. Và đó hoàn toàn là tâm lý của con người, có thể được giải thích bởi Tocqueville effect.

Nhiều người nói rằng học sinh giàu vượt sướng cũng đáng trân trọng như học sinh nghèo vượt khó, tôi thấy điều đó hoàn toàn hợp lý. Trong cả hai trường hợp, đứa trẻ đều phải nỗ lực về mặt tâm lý như nhau, dù về mặt vật chất thì đứa trẻ giàu có lợi thế hơn. Hay có nhiều người thành công nói rằng thủa hàn vi, lúc còn nghèo cũng là lúc họ hạnh phúc nhất, thì đó là họ hoàn toàn nói thật, chứ không phải họ nói để làm màu hay là vì “người giàu nói gì cũng đúng”. Có những điều họ nói đúng thật.

Khác biệt

Trước lúc vào đại học tôi có gặp người phát triển phần mềm Lạc Việt trong một buổi hội thảo. Điều đầu tiên làm tôi chú ý là anh ta để tóc dài. Anh ta chia sẻ rằng lý do quan trọng nhất khiến anh ta để tóc dài là anh ta muốn bản thân khác biệt. Khi một nhà tuyển dụng phỏng vấn 10 người có năng lực như anh ta, có lẽ họ sẽ nhớ anh ta nhất, chỉ vì anh ta để tóc dài.

Đôi khi việc gây ấn tượng đặc biệt có thể làm thay đổi cuộc đời một người. Có thể sự đặc biệt làm người ta được chọn trong rất nhiều lựa chọn tương tự, và vì được chọn nên họ có cơ hội chứng tỏ bản thân và làm nên sự nghiệp. Tôi nghĩ rằng trong cuộc sống có rất nhiều cơ hội mà có nhiều người có thể thành công nếu nắm được, nhưng chỉ có ít người được trao cơ hội. Có nhiều người không thành công không phải vì họ tầm thường, mà vì họ xuất sắc một cách bình thường.

Đôi khi sự khác biệt được tạo thành do một đặc tính cố hữu nào khác, đôi khi đó chỉ là một sự lựa chọn. Chẳng hạn, Twitter giới hạn số lượng ký tự ở 128/ một bài đăng. Đó là do họ chọn con số đó. Bất kỳ một nền tảng mạng xã hội nào cũng có thể hạn chế độ dài của một bài đăng, chỉ là họ không làm mà thôi. Hay Tiktok giới hạn độ dài video, và đó là một trong một vài yếu tố quan trọng khiến họ trở nên phổ biến hơn các nền tảng chia sẻ video khác. Con người dễ bị thu hút bởi những thứ sặc sỡ, ngắn, và không bắt người ta phải suy nghĩ. Không phải là các nền tảng khác không làm được như Tiktok, chỉ là họ đã chọn không làm thế, bằng chứng là bây giờ ai cũng làm video ngắn. Tiktok thì đã chọn như vậy từ đầu, và thành công.

Ảo

Chỉ trong vòng một tuần SBF đã mất sạch 16 tỷ còn FTX thì phá sản. Thế giới tiền số đúng là ảo. Nhiều người vẫn gọi nó là tiền ảo quả không sai.

Trong lúc thị trường đang đi xuống thì tôi thấy tài sản của các tỷ phú cũng ảo không kém. Lúc nhỏ khi nghe nói ai đó sở hữu vài chục vài trăm tỷ thì tôi thấy họ giàu quá, nhưng giờ thì thấy cũng không hẳn. Phần lớn tài sản của người giàu nằm ở cổ phiếu, mà cổ phiếu thì có thể lên xuống rất thất thường, và phần lớn thời gian giá trị cổ phiếu không phản ánh giá trị thực. Chẳng hạn, giá trị tài sản thực của SBF vào đầu tuần và lúc này có lẽ không khác nhau nhiều lắm, vì FTX hình như đã thực hiện vài động tác với sổ sách kế toán, nên giá trị mười mấy tỷ vào đầu tuần vốn là ảo. Hay khi Tesla trở thành công ty xe có giá trị lớn nhất thế giới, rất nhiều người (gồm cả tôi) vẫn nghĩ rằng đó là vì nó đã được định giá quá cao, và rằng tại thời điểm đó (và cả bây giờ), giá trị thực của nó không bằng những công ty lâu đời khác, chẳng hạn Toyota. Gần như chắc chắn không có tỷ phú nào có thể quy hoàn toàn cổ phiếu của mình ra tiền mặt với giá trị tương đương, vì ngay khi người ta bắt đầu bán thì giá trị cổ phiếu sẽ giảm.

Nói chung người giàu thì vẫn thật sự giàu, nhưng trong phần lớn trường hợp thì dù có tài sản hàng tỷ đô mà muốn mua thứ gì có giá vài triệu đô, họ vẫn sẽ vay ngân hàng. Trong mắt một người không có nhiều tiền thì việc ấy khiến sự giàu có của những người siêu giàu có vẻ “ảo”.

Twitter (2)

Vậy là Musk đã mua lại Twitter. Tôi đã nghĩ chuyện đó sẽ không xảy ra, hóa ra là năng lực phán đoán của tôi quá tệ.

Nhiều người thần tượng Musk và ngưỡng mộ ông ta như trẻ em ngưỡng mộ Iron Man. Tôi thì không thể nghĩ như họ được, tôi nghĩ Musk khác Iron Man ở một điểm rất cơ bản, đó là Iron Man không chạy theo tiền.

Ảo tưởng của tôi về Musk trước đây đã vỡ vụn sau khi ông ta làm vài động tác với Dogecoin và Bitcoin, sau đó là những phát biểu bợ đỡ Trung Quốc (tất nhiên TQ có nhiều điều đáng khen ngợi, nhưng mà nhìn vào hành động của Musk thì cứ có gì đó không ổn lắm). Mỗi lần như vậy Musk kiếm một khoản kha khá, hoặc tránh được thiệt hại lớn.

Vậy nên khi Musk tuyên bố sẽ mua Twitter nhiều tháng trước, tôi đoán là ông ta chỉ định kiếm thêm một chút tiền nữa thôi. Quả nhiên, vì tuyên bố sẽ mua Twitter nên khi bán khá nhiều cổ phiếu Tesla Musk vẫn không gây nhiều lo lắng lắm, ông ta có lý do là cần tiền mặt. Một lúc lâu sau thì cổ phiếu rớt giá, nhưng lúc đó thì nhà đầu tư chịu. Khi Musk tuyên bố muốn rút khỏi thương vụ này với lý do Twitter không kiểm soát được tài khoản ảo, tôi lại càng chắc chắn hơn về chuyện ngay từ đầu ông ta đã không nghiêm túc có ý định mua lại nó.

Hóa ra tôi nhầm. Với đầu óc xét đoán như thế này thì chắc không làm kinh doanh được.

Twitter

Cho tới nay thì độ dài của mỗi tweet là có giới hạn, hình như là 128 chữ cái. Nghe nói rằng Musk sẽ thử nghiệm rất nhiều thứ trên Twitter, có thể bao gồm cả việc không giới hạn độ dài của mỗi tweet.

Sự thay đổi đó, nếu có, không biết là tốt hay xấu. Cá nhân tôi thấy giới hạn độ dài là một điều tốt, nó làm cho người viết chủ động viết một cách ngắn gọn và súc tích. Nếu bỏ giới hạn độ dài, người dùng có thể sẽ phải đọc khá nhiều thứ không cần thiết trong tương lai.

Ở đây, hoặc ở trên blog, tôi thường viết mọi điều mình muốn viết, và đôi khi viết xong thì thấy để nói ra điều mình muốn nói thì không cần phải viết nhiều như vậy. Vì không có giới hạn gì cả, nên cứ để vậy cũng không sao. Thực ra thì tôi nghĩ, nếu có giới hạn thì sẽ tốt hơn cho cả người viết và người đọc. Người viết thì biết cách viết ngắn gọn hơn, người đọc thì nhanh nắm được thông tin hơn.

Tuy nhiên, nếu giới hạn “thô bạo” quá thì có lẽ sẽ phản tác dụng, khi mà người ta không thể nói hết mọi điều muốn nói. Trên Twitter thỉnh thoảng vẫn có người chia một nội dung ra vài tweet vì lẽ đó. Có lẽ cách tốt nhất là giới hạn độ dài mỗi đoạn văn, nhưng không giới hạn số đoạn.

Nguyên nhân

Trước đây có lần tôi đọc tiểu sử của một nhà toán học nổi tiếng. Có đoạn nói ông lên án học trò của mình sau khi người học trò giành được một giải thưởng danh giá nhờ việc chứng minh một thứ gì đó không theo phong cách của ông. Phong cách của ông là chia tách vấn đề, hiểu đến tận cùng, rồi thứ cần chứng minh sẽ hiện ra. Người học trò thì bằng cách nào đó chứng minh được điều cần phải chứng minh, nhưng có một số điểm liên quan thì vẫn không hiểu. Đối với ông ta thì điều đó không chấp nhận được.

Tôi từng làm việc giống như ông ấy, tức là cố gắng hiểu cặn kẽ mọi vấn đề. Và giờ tôi rất hối hận vì đã làm như thế. Trong phần lớn trường hợp, chúng ta chỉ cần biết điều gì là đúng, chắc chắn đúng, là đủ. Dù biết tại sao điều đó đúng, chúng ta cũng không làm được gì nhiều hơn ngoài đời thực (trên lý thuyết thì có thể). Cố gắng hiểu cặn kẽ mọi chuyện nhiều khi chỉ mang đến một kết quả duy nhất là làm chậm tiến độ, mặc dù trong một số ít trường hợp nó giúp ta có những cải cách căn bản.

Hôm trước tôi vừa đọc được một đoạn trong Everybody lies về A/B test. Nguyên lý đằng sau tất cả những phép thử đó là, chỉ cần làm thí nghiệm nhanh để biết kết quả (hầu hết là về hành vi của người dùng, chẳng hạn như người dùng thích giao diện nào hơn), không bao giờ cần tìm hiểu nguyên nhân. A/B test giúp các công ty công nghệ kiếm thêm cả núi tiền và các nhà chính trị có thêm rất nhiều người ủng hộ, và họ cũng chẳng biết tại sao. Họ chỉ biết rằng nếu làm thế này thì sẽ có kết quả này, làm thế kia sẽ có kết quả kia.

Tôi còn nhớ khi học về điều khiển PID (một phương pháp rất sơ cấp), thầy tôi kể rằng ban đầu các kỹ sư không hiểu tại sao không đạt được ổn định, họ thay đổi tham số cho đến khi mọi thứ hoạt động, dù họ không hiểu tại sao. Thực tế là, trong phần lớn tình huống, chúng ta chỉ cần kết quả chứ không cần hiểu lý do.

Có khi người ta có lý do sai, nhưng chỉ cần hành động đúng thì vẫn có kết quả tốt. Chẳng hạn trong nạn dịch hạch ở châu Âu, các y sỹ mặc áo phủ sáp vì tin rằng nó ngăn được khí xấu xâm nhập vào người họ. Thực ra là không có khí xấu nào cả, mà chỉ có bọ chét thôi, nhưng áo phủ sáp ngăn được lũ bọ bám vào người họ, và thật sự giảm nguy cơ nhiễm bệnh. Trong những trường hợp như thế, không biết lý do cũng đâu có vấn đề gì, thậm chí họ đã biết “lý do” sai. Như vậy thì có cần phải biết lý do không?

Cuối cùng, cá nhân tôi thấy hầu hết các kết quả thu được bằng statistical test hoặc phân tích dữ liệu lớn thì đúng, nhưng cách giải thích thì hoàn toàn chủ quan Dữ liệu chỉ nói một xu hướng có tồn tại, chứ không nói tại sao nó tồn tại. Vậy thì có cần phải giải thích không, khi mà dù sao người ta cũng vẫn thu được những kết quả có độ tin cậy cao.

Benford’s Law

Một trong số các định luật xuất hiện phổ biến trong thế giới quanh ta là Benford’s Law. Định luật này nói rằng trong một bộ dữ liệu bất kỳ trong hệ đếm cơ số b thì xác suất xuất hiện của một chữ số d ở một vị trí xác định bằng với loga cơ số b của 1 cộng với 1/d. Chẳng hạn, trong hệ cơ số 10, xác suất xuất hiện của chữ số 1 là log(1+1/1) 30.1%. Ví dụ cụ thể là khi đo chiều cao của các tòa nhà cao nhất thế giới, ta sẽ thấy rằng chữ số 1 xuất hiện với tần suất khoảng 30%.

Benford’s Law xuất hiện ở rất nhiều trường hợp mà số liệu là hoàn toàn ngẫu nhiên, tức là người ta có thể dùng định luật này để kiểm tra xem một bộ số liệu là ngẫu nhiên hay nhân tạo. Chẳng hạn, nếu một thành phố có luật rằng mọi tòa nhà đều phải xây cao từ 100 đến 200m thì luật Benford sẽ không còn đúng với chữ số đầu tiên nữa (nhưng có khả năng rất cao nó sẽ vẫn đúng với các chữ số từ vị trí thứ hai trở đi.)

Có một câu chuyện thú vị về định luật này, liên quan đến tác dụng kiểm tra tính ngẫu nhiên của nó. Có một nhân viên công ty đi công tác rất nhiều và được công ty chi trả công tác phí dựa trên các hóa đơn. Vì các hóa đơn có vẻ bất thường nên người ta dùng định luật Benford để kiểm tra và phát hiện các chữ số không được phân bố theo định luật này. Điều này làm dấy lên nghi ngờ rằng các con số trong hóa đơn là “nhân tạo” và các cuộc điều tra chi tiết về sau đã cho thấy nhân viên trên thực sự làm giả hóa đơn.

Ngay cả khi người ta nghĩ rằng mình có thể làm những việc hoàn toàn ngẫu nhiên mà chỉ có bản thân và “trời” hay “đất” mới biết được, thì thực ra họ vẫn bị “theo dõi” bởi những quy luật phổ biến và khách quan. Thế giới này hỗn độn nhưng hóa ra lại có hướng đi, và biết được hướng đi ấy là một niềm vui khó tả.

Giới thiệu sách

Trong cuốn Everybody lies, tác giả nói đến nhiều sự thật mà có thể chúng ta sẽ không bao giờ được biết nếu như không có dữ liệu của các tập đoàn lớn. Có những thứ con người không bao giờ nói ra dù là trong các cuộc khảo sát ẩn danh, nhưng lại rất thật lòng chia sẻ với các công ty công nghệ. Cũng có những thứ tồn tại nhưng người ta không để ý tới, hoặc không có cách nào để có thể để ý tới cho tới khi có dữ liệu đủ lớn.

Trong cuốn Factfulness, tác giả nói đến nhiều sự thật mà nhiều người có thể sẽ không bao giờ được biết, không phải vì chúng không được công khai, mà là vì người ta tưởng rằng họ đã biết. Người ta thường giữ trong đầu một thế giới và trong đó phương Tây là văn minh phát triển còn phần còn lại của thế giới, đặc biệt là châu Phi, thì phải đói nghèo và lạc hậu.

Trong cả hai trường hợp, người ta có những nhận định sai lầm. Dù cho nhận định sai lầm là do không có cơ hội tiếp cận thông tin, hay là cố tình phủ nhận thông tin, thì chúng cũng sẽ dẫn đến những hành động sai lầm. Có thể hành động sai lầm ấy không gây ảnh hưởng nghiêm trọng lắm, nhưng cũng rất có thể những hành động sai lầm ấy sẽ làm cho một vài công ty đa quốc gia mất đi lợi nhuận đáng kể, hoặc phá sản, cũng có thể những hành động sai lầm ấy sẽ làm hòa bình thế giới thêm lung lay.

Chúng ta không cần thiết phải làm sai, vì lẽ đó sẽ thật tốt nếu nhiều người có thể tiếp cận những cuốn sách như trên.

Về Đắc nhân tâm

Có lần trên một trang web tên là Noron có một cuộc thi viết về cuốn sách Đắc Nhân Tâm. Một nửa người tham gia cho rằng đó là nghệ thuật xử thế, một nửa thì cho rằng đó chỉ là thủ đoạn để lấy lòng người khác. Tôi cảm thấy buồn vì có nhiều người ở nửa thứ hai.

Tôi nghĩ rằng cuộc đời này vận hành theo những quy luật nhất định. Dù là người tốt hay kẻ xấu, chỉ cần biết được là người ta có thể vận dụng. Điều đó cũng giống hệt như việc một học sinh chỉ cần được dạy là có thể làm toán, dù học sinh đó có ngoan hay không. Những điều mà tác giả Đắc nhân tâm viết ra thật sự có thể dùng để lấy lòng người khác, dù người sử dụng có ý tốt hay không. Gần như chắc chắn tác giả hiểu điều đó, nên rất thường xuyên trong cuốn sách có từ “thật lòng”, dù nó có vẻ thừa thãi. Chẳng hạn, thay vì nói “khen ngợi người khác”, ông ta nói “thật lòng khen ngợi người khác.”

Rất khó để nói cuốn sách về bản chất là nói về nghệ thuật hay nói về thủ đoạn. Tuy nhiên, nếu xem cuốn sách, cũng như mọi thứ khác trên đời này, chỉ là tấm gương phản chiếu nội tâm con người, thì rất có thể những người cho rằng cuốn sách ấy giả dối, sâu thẳm trong tâm hồn họ cũng có thứ gì đó giả dối.

Nếu bạn tìm một cuốn sách dạy mình cách sống chan hòa với mọi người, bạn sẽ hạnh phúc với Đắc nhân tâm. Nếu bạn tìm một cuốn sách dạy bạn những thủ thuật trong giao tiếp để đạt được mục đích của mình, bạn cũng sẽ hạnh phúc với Đắc nhân tâm. Cuốn sách vốn không có lỗi.

Quy luật

Tôi tin rằng thế giới này bị chi phối bởi những quy luật, mà dù muốn hay không, chúng ta cũng phải tuân thủ. Nếu muốn, người ta có thể vi phạm luật giao thông, nhưng chắc chắn không có cách nào để vi phạm luật nhân quả.

Luật nhân quả thì dễ hiểu, nhưng khó chứng minh. Trước khi thấm nhuần được quy luật ấy, tôi muốn hiểu những quy luật dễ chứng minh hơn, chẳng hạn như Noether’s Theorem, Law of Large Numbers hay Central Limit Theorem. Có hàng trăm, hàng ngàn quy luật “dễ” như thế. Hiểu được chúng thì cũng không hiểu được thế giới, nhưng sẽ làm cuộc sống dễ hiểu hơn rất nhiều.

Có lần tôi đọc một bài phỏng vấn một anh ở khóa trên. Anh ấy nói lúc du học đã cảm thấy vẻ đẹp của toán học, đã thấy ngạc nhiên, và hạnh phúc khi hiểu cách mà toán học giải thích các hệ thống của con người. Tôi thực sự cảm thấy ghen tỵ. Đó là thứ ghen tỵ khi nhìn thấy thứ mà mình muốn trở thành nhưng đã không trở thành. Giá mà tôi đã chăm chỉ học hành hơn.

読解

Trong bài thi đọc hiểu tiếng Nhật luôn có dạng câu hỏi: “Ý của tác giả là gì?” Phần lớn người học tiếng Nhật một thời gian đủ dài sẽ hiểu toàn bộ những điều tác giả viết, nhưng không hiểu ý tác giả là gì.

Tình cờ tôi thấy bài viết ngày 29-10 rất gần với những bài đọc tiếng Nhật trong bài thi. Nếu câu hỏi là “Ý tác giả là gì?” thì sẽ có hai đáp án có thể làm người đọc phân vân.

i) Năng lực quan trọng nhất của một người thầy là năng lực dạy học.

ii) Mỗi người nên nhận thức đúng về vai trò của mình.

Hai đáp án về cơ bản chỉ khác nhau ở “người thầy” và “con người nói chung”. Mặc dù 90% bài viết nói về người thầy, nhưng nếu đây là một bài đọc tiếng Nhật điển hình thì đáp án là ii).

Ranking

Khi hỏi người Nhật trường đại học nào tốt nhất Nhật Bản, hầu hết sẽ trả lời đó là Todai, dù thỉnh thoảng Kyodai xếp cao hơn Todai ở một vài bảng xếp hạng. Phụ huynh và học sinh khi cân nhắc trường đại học thì không quan tâm đến các bảng xếp hạng (thường do Mỹ tạo ra).

Dù vậy, các bảng xếp hạng với nhiều tiêu chí phức tạp cũng phản ánh tương đối đúng vị trí của các trường đại học Nhật trong suy nghĩ của người Nhật. Chẳng hạn, ba trường tốt nhất đối với người Nhật là Todai, Kyodai và Handai thì thường cũng là ba trường tốt nhất ở Nhật trong các bảng xếp hạng đó.

Câu chuyện ở VN thì khác hẳn. Hai trường tốt nhất theo các bảng xếp hạng và hai trường tốt nhất trong suy nghĩ của người Việt hoàn toàn khác nhau. Hầu hết mọi người đều nghĩ các trường tốt nhất VN là các Đại học Quốc gia và Bách Khoa hai miền, nhưng trong các bảng xếp hạng thế giới thì hai trường tốt nhất VN là ĐH Tôn Đức Thắng và ĐH Duy Tân. Hai trường này xếp cao hơn rất nhiều trường ở Nhật, Mỹ, Úc, và châu Âu.

Tôi từng đến ĐH Duy Tân và quen biết một vài anh chị làm việc ở ĐH Duy Tân và ĐH Tôn Đức Thắng (TDTU). Họ trẻ, giỏi, và nhiệt huyết. Tôi từng nghĩ rằng các đại học đó xếp hạng cao bởi họ có chiến lược hợp lý, và họ đáng để các đại học lâu đời học hỏi để đổi mới.

Hóa ra không hẳn là vậy. Chiến lược của họ, hay ít nhất là của ĐH Tôn Đức Thắng có thể nói là “hiếu chiến”. Họ tăng xếp hạng bằng mọi cách. Trong một cuộc điều tra về liêm chính khoa học gần đây ở VN, người ta phát hiện ra rằng ĐH Tôn Đức Thắng hợp tác với nhiều nhà khoa học trên thế giới chỉ với mục đích duy nhất là tăng lượng công bố khoa học, một tiêu chí xếp hạng quan trọng. Hoạt động hợp tác quan trọng nhất là trả tiền cho mỗi bài báo của các tác giả quốc tế có ghi địa chỉ TDTU. Các tác giả không được “tuyển chọn”, ngành của họ có khi không liên quan gì đến ngành đào tạo của TDTU, cá biệt có tác giả còn vướng đến bê bối khoa học lớn.

Khi còn ở VNU, tôi có cảm nhận là anh em không thích TDTU lắm và thường phản đối kịch liệt mỗi khi TDTU đề xuất thứ gì đó mới mẻ, chẳng hạn như tự phong giáo sư. Tôi từng nghĩ đó một phần là kết quả của sự ghen tỵ, nhưng hóa ra sự “không thích” đó còn những lý do chính đáng hơn.

Đấu trường

Một thầy giáo bồi dưỡng học sinh thi quốc tế nói với tiền bối của mình: “Có những bài toán học sinh làm được mà tôi không làm được. Tôi cảm thấy xấu hổ vô cùng.” Người tiền bối nói: “Tôi tự hào khi những học sinh mà tôi đào tạo làm được những bài toán mà tôi không làm được. Là một người thầy, tôi coi đó là một thành công lớn.”

Tôi tin rằng cách nghĩ của người thầy thứ hai đúng, và cách nghĩ của người thầy thứ nhất rất sai. Một người thầy mà xấu hổ khi thấy trò giỏi hơn mình là một người thầy cảm thấy nhân loại không nên tiến lên phía trước, vì trò không nên giỏi hơn thầy.

Cái sai lớn nhất của người thầy thứ nhất là xác định sai vai trò của mình. Người thầy trước hết là người truyền thụ kiến thức. Giữa hai người thầy, người giỏi hơn không phải là người giỏi giải quyết những vấn đề họ dạy, mà là người làm cho học sinh của họ giỏi hơn.

Cũng giống như vậy, huấn luyện viên không cần phải giỏi hơn vận động viên. Huấn luyện viên thường không, và không thể vượt qua vận động viên bởi vì bản thân họ đã đi qua thời kỳ đỉnh cao của sự nghiệp. Phẩm chất của một huấn luyện viên tốt, cũng như của một người thầy tốt, nằm ở kinh nghiệm và khả năng dẫn dắt thế hệ tương lai, chứ không phải khả năng trong lĩnh vực của họ trên một thang đo tuyệt đối nào đó.

Ngày nay có một giải đấu cờ vua dành cho các thuật toán cờ vua tên là “Top Chess Engine Championship.” Tất nhiên các kỹ sư làm ra chess engine không thể thắng máy tính, nhưng không có họ thì không có chess engine. Điều này cũng giống như không có thầy thì không có học trò (không ai có thể tự nghĩ ra mọi thứ từ con số không), nhưng đối với chess engine, ai cũng hiểu rõ rằng việc của kỹ sư là xây dựng engine, việc của engine là đánh cờ, trong khi đôi khi chúng ta không hiểu rằng việc của những người thầy là dạy, còn việc của học trò là làm bài.

Rất nhiều tình huống trong thế giới ngày nay có thể được mô hình hóa giống như những đấu trường. Khi người ta không hiểu vai trò của mình, người ta cũng sẽ đánh giá sai cục diện của trò chơi và dễ thất bại. Một thầy giáo dạy toán nên học toán hay nghiên cứu toán để dạy toán giỏi hơn. Nếu nghiên cứu toán để hiểu về toán học hơn, ông ta trước hết là một nhà toán học, rồi sau đó mới là một người thầy.

Trọng dụng nhân tài (1)

Có lần anh Đinh Đức Hoàng nói về meritocracy ở TEDx, rằng đó không phải là chế độ trọng thực lực, mà là trọng thành tựu (hình như anh ấy dùng một từ khác): thật ra xã hội không đánh giá được tài năng của con người, mà chỉ có thể đánh giá họ qua những gì họ đã đạt được. Những gì một người đạt được thì có thể bị ảnh hưởng bởi gia đình, địa lý, hay nhiều yếu tố ngẫu nhiên khác, chứ không phải chỉ là thực lực. Một ví dụ đơn giản là với cùng một năng lực, một học sinh nghèo phải bỏ học có thể sẽ sống một cuộc đời rất khác so với một học sinh may mắn được đi học. Trong chế độ meritocracy, nói chung người được đi học, có bằng cấp, sẽ có nhiều cơ hội hơn, nhưng đó không phải là chế độ trọng nhân tài theo nghĩa đen của từ đó.

Đó là một ý kiến rất đáng suy nghĩ. Tôi nghĩ rằng xã hội trọng nhân tài thực sự là xã hội mà ai cũng có cơ hội, chứ không phải là xã hội mà chỉ có những người có “bằng chứng” về tài năng của mình mới được trao cơ hội.

Khi trả lời thầy dạy tiếng Nhật câu hỏi về việc có nên chỉ tuyển người “giỏi” không, tôi tưởng mình là người ủng hộ meritocracy, nhưng có lẽ tôi trả lời như vậy chỉ vì đã không hiểu rõ về meritocracy.

Công ty Nhật

Tháng này công ty chuyển khoản cho tôi thêm 5 man để “giảm gánh nặng của lạm phát”. Hình như không phải một mình tôi, mà gần 1000 người của công ty trên khắp nước Nhật được nhận khoản hỗ trợ này.

Đây không phải là lần đầu tiên công ty làm những việc như thế này. Thật ra khi lựa chọn công ty để ứng tuyển, tôi thích công ty hiện tại một phần vì cảm thấy đây là một công ty có trách nhiệm với xã hội, và với chính nhân viên của mình. Video đầu tiên tôi xem về công ty không phải là video giới thiệu công nghệ hay sản phẩm, mà là video giới thiệu các hoạt động xã hội và thiện nguyện của chi nhánh Philippines. Tôi có ấn tượng tốt đẹp với công ty từ lúc đó.

Tôi có cảm giác rằng công ty Nhật có trách nhiệm đối với nhân viên của chính mình hơn so với các công ty Âu Mỹ. Không phải chỉ công ty tôi, mà các công ty khác cũng vậy, chỉ là tôi không biết cụ thể. Trước đây, người Nhật thường làm việc suốt đời ở một công ty, nên họ coi công ty như gia đình, và công ty cũng coi họ như gia đình. Ngày nay chế độ như vậy dần dần không còn nữa, nhưng nhân viên nói chung vẫn rất gắn bó với công ty và ngược lại. Nghe nói trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2008, rất nhiều công ty Mỹ đã sa thải nhân viên, nhưng các công ty Nhật thì không làm như vậy. Chính phủ thậm chí hỗ trợ tài chính để các công ty có thể duy trì đội ngũ nhân viên. Ngay trong đợt dịch Covid này, khi kinh tế chưa bắt đầu phục hồi, có một chế độ nghỉ đặc biệt do thiếu việc làm vì Covid mà người nhận ngày nghỉ sẽ được nhận 80% lương từ chính phủ.

Cách tư duy về việc sử dụng lao động của người Nhật khác với những nơi khác mà tôi biết. Có lần thầy giáo dạy tiếng Nhật hỏi tôi rằng có phải luôn luôn nên chọn người giỏi, trả lương cao cho họ, và bỏ qua những người “không được việc” không. Tôi trả lời rằng nên. Thầy nói rằng câu trả lời không đơn giản như vậy. Cần phải làm rõ thế nào là giỏi. Mỗi người có sở trường của riêng mình, việc của công ty là cho người ta cơ hội được làm một công việc phù hợp, để không có ai bị bỏ lại. Điều đó rất quan trọng cho việc duy trì ổn định xã hội.

(Sự thật là ở nhiều công ty Nhật, những người học các ngành nhân văn thường được điều chuyển xoay vòng qua rất nhiều vị trí trước khi làm việc lâu dài hơn ở một vị trí, hoặc được thăng chức.)

Chịu nhục

Tôi đang đọc Đồ Nhiên Thảo của Thiền sư Urabe Kenko. Có một đoạn ông viết:

Người muốn nắm vững một ngành nghệ thuật nào đó hay có khuynh hướng nói : « Lúc còn chưa giỏi thì không nên cho thiên hạ biết chỗ yếu của mình làm gì. Âm thầm luyện tập cho đến thành thuộc đợi ngày ra trước công chúng, lúc đó thiên hạ mới tán thưởng cái tài của mình».

Tuy nhiên những kẻ ăn nói kiểu đó sẽ không bao giờ học một nghệ thuật cho đến nơi đến chốn. Những người nào trong lúc nghệ thuật của mình hãy còn non kém mà chịu khó chen chân vào đám người giỏi, phải nghe thiên hạ chê chỗ này, cười chỗ nọ nhưng không lấy đó làm phiền, kiên tâm đeo đuổi nhiều năm, cho dù không có khả năng thiên phú nhưng không bao giờ chịu bỏ dở nửa chừng, không nổi hứng làm theo ý mình thì sẽ vượt trội những người tuy có tài trời cho nhưng thiếu sự tập trung trong luyện tập. Theo được như thế, cuối cùng sẽ đạt đến độ cao diệu trong nghề, phát triển hết sở trường, được mọi người nhìn nhận và có tiếng tăm.

Cho dù là những bậc đại sư trong thiên hạ, lúc mới vào nghề vẫn thường bị coi là kẻ vụng về, và trên thực tế , họ cũng đầy khuyết điểm. Thế nhưng nếu tuân thủ một cách trung thực những qui phạm của nghề nghiệp, coi nó là quan trọng và không hề tách ra theo ý riêng như ngựa lồng thì đến lúc nào đó, họ sẽ có tiếng nói và trở thành vị thầy của muôn người.

Bất kỳ áp dụng vào lãnh vực nghệ thuật nào, nguyên lý đó vẫn đúng.

Tôi là một người có suy nghĩ như ông đã chỉ ra. Tôi thường “âm thầm luyện tập”, và chưa từng để “thiên hạ tán thưởng cái tài của mình”, vì đúng như lời thiền sư nói, tôi chưa từng đạt đến đỉnh cao của một nghệ thuật hay kỹ thuật nào. Nếu được quay trở lại quá khứ, tôi sẽ va chạm nhiều hơn, sẽ thi thố nhiều hơn. Đến giờ này, tôi thấy những cuộc thi đấu là những lúc tuyệt vời để rèn luyện, và tham gia chỉ để rèn luyện mà thôi là một điều tốt. Tôi đã tự dối bản thân rằng tôi không ham hư danh nên không thi thố, sự thật là tôi không chịu được cảm giác thiên hạ nhìn thấy điểm yếu của mình. Tôi đã không hiểu đó là điều kiện cần thiết để trở nên mạnh hơn.

Thầy Vọng Tây Cư Sĩ có lần nói trong bài giảng rằng, nếu không có những năm tháng cúi đầu, sẽ không thể có ngày ngẩng đầu. Nghe bài học ấy thì người ta rất dễ nghĩ rằng những lời ấy chỉ sự miệt mài luyện tập, nhưng sau khi đọc Đồ Nhiên Thảo, tôi nghĩ những lời ấy có một ý nghĩa khác. Cúi đầu là khi bị chỉ ra điểm yếu, nhưng vẫn lắng nghe và kiên tâm theo đuổi con đường đã chọn, biết cúi đầu thì sẽ có ngày ngẩng đầu.

Lúc tôi về VN, anh rể có rủ đi học một khóa học làm giàu. Mức độ lịch sự của diễn giả ở rất sâu dưới mức lịch sự trung bình của những người trong thế giới của tôi. Diễn giả đôi khi chửi học viên như cãi nhau ngoài chợ. Tôi biết chuyện đó, và quyết định không đi. Nhưng, có một sự thật là, trong số học viên có nhiều chủ doanh nghiệp, và có vài người thật sự giàu có. Chị tôi nói rằng có thể tôi nghĩ nghe diễn giả chửi là chịu nhục, nhưng nhiều người không giàu chỉ vì không chịu nhục được.

Chọn nghề

Có nhiều bạn trẻ băn khoăn khi chọn ngành, chọn nghề. Nếu cần đưa ra lời khuyên với con em của chính mình, tôi sẽ khuyên chúng rằng làm gì cũng được.

Thầy Phan Văn Trường trong nhiều bài nói chuyện và nhiều đoạn trong các cuốn sách của mình nói rằng lựa chọn không quan trọng (nhiều khi con đường ta đi là do Đấng Bề Trên dẫn vào, chứ không phải là ta lựa chọn), điều quan trọng là hết mình với lựa chọn của bản thân. Tôi hoàn toàn đồng ý.

Có nhiều tiêu chí để chọn nghề nghiệp cho bản thân, tôi nghĩ rằng một tiêu chí mà các bạn trẻ nên nghĩ đến là với sự nghiệp ấy bạn có giúp ích được cho người khác không. Bạn có thể nghe nhiều cách nói để diễn tả việc “giúp ích cho người khác”. Có thể là “tạo ra giá trị cho cộng đồng”, “cống hiến cho nhân loại”, “có ảnh hưởng sâu sắc và tích cực đến mọi người/thế giới/cộng đồng”, v.v. Tất cả chỉ để diễn tả một điều mà thôi, và ta nên nghĩ về điều đó khi lựa chọn hướng đi cho mình.

Tesla

Khi nghe đến cái tên Tesla Motors, bạn nghĩ về ai? Chắc là Elon Musk.

Thường thì khi nói về một công ty, người ta nhớ đến người sáng lập, điều này đặc biệt đúng ở Nhật, khi mà tên của công ty thường là tên người sáng lập, hay tên lab thường là tên giáo sư.

Có điều, hình như hiếm ai biết người sáng lập Tesla là ai. Điều đó không kỳ lạ. Chúng ta không phải là nhớ về người sáng lập, mà là nhớ về người nổi bật nhất và có ảnh hưởng nhất. Ở Tesla thì Musk là người nổi bật nhất.

Tôi nghĩ thiên tài của Musk nằm ở khả năng quản trị và quan hệ công chúng. Ông ấy là một kỹ sư giỏi, nhưng hầu hết những kỹ sư giỏi như ông ấy không được mọi người biết đến.

Đạo đức

Trong một (vài) chục năm trở lại đây, các quốc gia châu Âu thường hướng các quốc gia khác tới việc từ bỏ năng lượng hóa thạch bằng nhiều cách, thường là các khuyến khích (hoặc đe dọa) liên quan tới tài chính hoặc ngoại giao.

Trung Quốc và Ấn Độ bày tỏ quan điểm tương đối rõ ràng. Mặc dù có một số nhượng bộ, hai chàng khổng lồ nói với phương Tây rằng: Chúng tôi sẽ cắt giảm việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch vào lúc chúng tôi cảm thấy phù hợp.

Nếu xét về lượng phát thải do sử dụng nhiên liệu hóa thạch, có lẽ phương Tây vượt xa tất cả các nước đang phát triển. Họ đã đốt dầu và than trước các quốc gia đang phát triển cả trăm năm, và khi họ đạt đến trình độ không cần phải đốt những thứ đó nữa, họ yêu cầu các quốc gia khác cũng phải làm như vậy.

Có một vài vấn đề ở đây.

  1. Báo chí phương Tây thường nói các quốc gia đang phát triển đang hủy hoại môi trường, và ít khi nói về việc chính họ hủy hoại môi trường, hay góp phần làm cho môi trường bị hủy hoại. Như vậy là khá xấu tính.
  2. Phương Tây cũng vẫn đang sử dụng năng lượng hóa thạch.
  3. Yêu cầu các quốc gia đang phát triển chuyển sang năng lượng sạch mà không hỗ trợ đầy đủ, về bản chất là làm chậm quá trình phát triển của các quốc gia này, vì quá trình đó đòi hỏi nhiều nhân lực, vật lực và vốn. Tóm tắt lại thì bằng cách này, phương Tây giữ các quốc gia khác ở “cửa dưới” lâu hơn, làm cho các quốc gia đó chịu đựng trạng thái “đang phát triển” lâu hơn, trong khi đó bản thân lại được tiếng là văn minh và quan tâm đến môi trường.

Lịch sử cho thấy mức độ quan tâm đến môi trường của một quốc gia liên quan mật thiết đến trình độ kinh tế của quốc gia đó. Vài chục năm trước, Nhật Bản từng ô nhiễm đến mức người ta lo ngại như đang lo ngại TQ hiện tại. Nếu GDP per capita của Ấn Độ vượt 60000 USD thì có khả năng cao không khí của họ sẽ trong lành hơn cả ở Phần Lan.

Cách tốt nhất là phương Tây có thể hỗ trợ các quốc gia đang phát triển sử dụng năng lượng sạch với chi phí ngang với chi phí dành cho năng lượng hóa thạch, và gần như hiển nhiên phương Tây sẽ không, và không thể, hỗ trợ như vậy.

Mọi quốc gia đang phát triển hiểu những điều trên, nhưng không phải ai cũng đủ lớn để trả lời dõng dạc như Trung Quốc hay Ấn Độ.

Trong khi ấy, Mỹ cố gắng duy trì ảnh hưởng ở các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất. Châu Âu thì đang cung cấp dịch vụ và hạ tầng năng lượng hóa thạch cho châu Phi (trớ trêu làm sao).

Gần đây nhất, chúng ta thấy rằng châu Âu cảm thấy không có vấn đề gì với việc đốt than hay củi qua mùa đông. Rõ ràng, phần lớn trong số họ chỉ nói về môi trường khi điều đó không có hại gì đến họ.

Groundhog day

Trong một bộ phim, nhân vật chính phải sống trong một vòng lặp thời gian dường như vô hạn. Anh ta luôn thức dậy vào lúc 6 giờ sáng ngày 2/2. Đầu tiên anh ta cảm thấy kỳ lạ, anh ta tự hỏi có vấn đề gì với mình hay mọi người có đang lỡm anh ta không, rồi anh ta thích thú và lợi dụng việc có thể biết trước mọi điều sẽ xảy ra trong ngày để thỏa mãn những ham muốn nhất thời, rồi anh ta thấy chán nản và tuyệt vọng vì không thể thoát ra khỏi vòng lặp, và không bao giờ đạt được điều anh ta muốn nhất – cô bạn gái Rita – bằng những cách anh ta thường làm. Dù anh ta có làm gì, dù có tự tử bao nhiêu lần, anh ta vẫn luôn thức dậy vào lúc 6 giờ sáng.

Thế rồi anh ta dường như giác ngộ. Anh ta không còn nghĩ về bản thân nữa mà đã sống vì người khác, và biết dành mỗi ngày để biến bản thân thành một con người tốt hơn. Và rồi Rita đã thật sự trở thành người yêu của anh, vòng lặp kết thúc.

Tôi tự hỏi chẳng phải cuộc đời chúng ta cũng như vậy sao. Có rất nhiều người thấy mỗi ngày đều lặp đi lặp lại, không phải là một sự lặp lại chắc chắn đến 100% như nhân vật trong phim, nhưng cũng là lặp đi lặp lại, và nhiều người cảm thấy tuyệt vọng vì không thể thoát ra.

Tôi cũng thấy mỗi ngày của mình lặp đi lặp lại.

Dù không bị căn bệnh ích kỷ như nhân vật chính, tôi thấy cuộc đời mình lặp lại. Tôi nghĩ mình có thể học theo anh ấy, mỗi ngày đều biến mình trở thành một con người tốt hơn, cho đến khi vòng lặp bị phá vỡ.

Mâu thuẫn

Tôi từng nghe câu chuyện về một cô gái. Cô yêu một chàng trai vì sự chung thủy của anh ấy … với một người con gái khác.

Đó là một tình huống bi kịch. Cô gái ấy không bao giờ có thể hạnh phúc. Nhà triết học không thể bị chém đầu, cũng không thể bị treo cổ. Cô gái thì không bao giờ yêu được một người yêu cô ấy, hay được yêu bởi một người mà cô yêu.

Tinder là một ứng dụng nổi tiếng, và sự tồn tại của nó là một điều kỳ diệu. Tinder có hai sứ mệnh. Một là giúp người ta tìm được một nửa của mình, và hai là kiếm tiền. Một khi người ta tìm được bạn đời và thật sự hạnh phúc, người ta sẽ ngừng dùng Tinder, và ngừng trả tiền cho nó. Điều đáng ngưỡng mộ của Tinder là nó có thể vật lộn trong cái nghịch lý đó và vẫn kiếm bộn.

Morning speech at PEC last July

During the weekend before last week, I had the opportunity to visit Tokyo and engage in a fascinating game with a group of friends. Today, I would like to share some of my thoughts following this game.

To begin, let me provide a brief introduction to the game. It is a card game centered around the Sustainable Development Goals (SDGs). The game consists of two types of cards: trade-off cards and resource cards. Trade-off cards depict the choices we encounter when pursuing SDG goals. For instance, installing solar panels to promote green energy may reduce the availability of usable land for other purposes. On the other hand, resource cards represent the means through which we address these trade-offs. Resources could encompass a wide range of elements such as satellites, 3D printing technology, sports, land, and even human talent. Essentially, anything accessible to humanity can be considered a resource.

Players are divided into groups, and in the first round, each group is given a trade-off card. Additionally, groups receive a selection of random resource cards and must devise a solution for the trade-off using these resources. Starting from the second round, we are required to utilize resource cards that align with our actual expertise. For example, because I know about heuristic algorithm and automation, they could become our group’s resource cards.

Although it may initially seem like a mundane game, I found it to be genuinely captivating and immensely enjoyable. Today, I won’t delve into further specifics about the game. Instead, I would like to share a few thoughts that emerged from my experience.

Firstly, many of today’s problems necessitate interdisciplinary solutions. When confronted with a challenge, it is highly probable that knowledge from seemingly unrelated fields can contribute to its resolution. In the game, we were compelled to employ diverse resources and construct solutions that integrated insights from various disciplines.

Secondly, by leveraging our existing resources to the fullest extent, we can achieve better results than anticipated. Despite being assigned random resource cards and being regrouped randomly, we managed to generate impressive proposals.

I believe that the aforementioned observations hold relevance in developing an improved problem-solving approach, which can benefit us not only in our professional endeavors but also in our personal lives.

Về những lá thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới nước Mỹ

Gần đây tôi nghe nói một cơ quan ngôn luận chính thống của Ukraine có bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi không có ý định xác minh, nhưng nhìn vào thành phần chính phủ Ukraine hiện giờ, tôi nghĩ là họ hoàn toàn có thể làm thế thật. Tôi biết nhiều người có những quan điểm khác nhau về Hồ Chủ tịch, một phần nguyên nhân là do khi còn nhỏ họ đã phải học những điều khá khó tin mà tới khi lớn lên một chút họ mới nhận ra. Tôi hoàn toàn hiều điều đó. Có điều, nếu dẹp bỏ hết thành kiến mà tìm hiểu lịch sử và đánh giá một cách công bằng, thì người ta sẽ nhận ra rằng lòng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là không cần bàn cãi. Chúng ta biết rằng trong số những điều mà chúng ta tin, thì những điều ta tin lần thứ hai, tức là sau khi một sự hiểu lầm được giải tỏa, hay một mối nghi ngờ bị phá bỏ, là những điều mà ta tin tưởng mạnh mẽ nhất. Với ý nghĩa đó thì bài của đài (báo? TV?) Ukraine cũng có giá trị của nó.

Nhân dịp này tôi muốn giới thiệu tới các bạn một vài tài liệu (những bức thư) mà trước đây đã giúp tôi có cái nhìn sâu sắc hơn về Hồ Chủ tịch, và về nghệ thuật tuyên truyền của phương Tây. Các bạn có thể bỏ qua những bình luận trong phần tiếp theo của bài viết này, nhưng nếu chưa thì rất nên đọc những tài liệu gốc, vì chúng thật sự có giá trị. Các tài liệu quan trọng đều có thể truy cập trực tiếp từ những liên kết ở phần tham khảo.


Từ năm 1945 cho tới cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi hàng chục lá thư cho các chính trị gia và nhân dân Mỹ. Những bức thư ấy, mặc dù là tư liệu quý giá giúp chúng ta hiểu về hoàn cảnh lịch sử và lập trường và của cả hai phía từ khi VNDCCH giành độc lập cho tới khi đất nước hoàn toàn thống nhất, nhưng lại ít hoặc không được đề cập đến trong chương trình phổ thông. Bài viết này nói về một vài bức thư trong những năm 1945-1946, theo trình tự thời gian.

Ngày 17/10/1945, hơn một tháng sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một bức thư cho Tổng thống Truman [1]. Bức thư khẳng định tính chính danh của chính quyền lâm thời do người Việt Nam làm chủ, dựa trên Hiến chương Đại Tây Dương, đồng thời chỉ ra một cách thuyết phục rằng người Pháp đã không còn tư cách gì ở Việt Nam sau khi đầu hàng Nhật.

Hồ Chủ tịch đã thể hiện rõ ràng mong muốn có quan hệ thân thiện và sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Việc bản Tuyên ngôn Độc lập 1945 được bắt đầu bằng những lời trong bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ được coi là một sự thể hiện rõ ràng của mong muốn này. Đối với chính quyền lâm thời VNDCCH khi ấy, một mối quan hệ tốt với Mỹ là hoàn toàn có cơ sở, khi mà chính OSS – tiền thân của CIA – đã từng sát cánh với Việt Minh chống lại quân Nhật ở Đông Dương vào cuối Thế chiến II [2].

Người Mỹ vào thời điểm đó cũng đã nhận ra thiện ý của chính quyền lâm thời VNDCCH. Patti, một sỹ quan OSS, người đã giúp kiểm tra những dòng đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập, vào đúng ngày 2/9 đã liên lạc về Mỹ. Ông ta nói rằng những người Việt Minh quyết tâm giành lại chủ quyền Việt Nam, và vì thế người Pháp, cũng như tất cả các thế lực khác sẽ phải đối phó với họ [3]. Patti cũng nói rằng chính quyền lâm thời của VN mong muốn được hợp tác với Mỹ về giáo dục và công nghiệp.

Trong tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục gửi hai bức thư cho ngoại trưởng Mỹ. Ngày 1/11/1945, trong bức thư gửi ngoại trưởng Mỹ James Byrnes, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa bày tỏ thiện chí, mong muốn hợp tác với Mỹ về nhiều mặt, giống như những gì Patti đã liên lạc [4]. Đặc biệt, trong thư, Hồ Chủ tịch đề nghị gửi 50 thanh niên Việt Nam ưu tú sang Mỹ để thúc đẩy tình hữu nghị giữa thanh niên hai nước, và để những thanh niên này học về các ngành Nông nghiệp và Kỹ thuật.

Để đáp lại thiện chí của Hồ Chủ tịch, người Mỹ đã … im lặng. Những bức thư trên không bao giờ được hồi đáp. Việc OSS hợp tác với Việt Minh với người Mỹ có thể chỉ là sự hợp tác nhất thời với kẻ thù của kẻ thù, giống như cách họ vẫn dùng cho tới tận ngày nay khi hậu thuẫn cho người Kurd ở Syria hay các lực lượng đối lập ở các quốc gia mà Mỹ có can thiệp quân sự. Tóm lại, người Mỹ đã từ chối cơ hội có quan hệ thân thiết với một quốc gia có vị trí chiến lược ở Đông Nam Á, hoặc là họ đã luôn muốn nhiều hơn thế.

Về phía người Pháp, chỉ vài tuần sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, họ đã quay trở lại và xúc tiến quá trình kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trên danh nghĩa giải giáp quân Nhật thay cho quân Tưởng. Họ không hề che giấu ý định một lần nữa biến Việt Nam thành thuộc địa, sau khi chính họ đã đầu hàng Nhật, qua đó tự xóa bỏ mọi hiệp định và từ bỏ mọi quyền trên đất Việt Nam. Lòng tham của người Pháp đã hủy hoại khả năng hiểu được lý lẽ của họ và khiến mọi nỗ lực ngoại giao của VNDCCH để ngăn chặn chiến tranh trở nên vô vọng. Các tài liệu thường nói rằng chính quyền thực dân của Pháp không thực tâm đàm phán, nhưng xét đến thực tế là cho đến ngày nay 14 cựu thuộc địa của Pháp ở châu Phi vẫn phải đóng thuế thuộc địa và về cơ bản phụ thuộc vào Pháp, thì có thể nói rằng dù là chính quyền nào của Pháp thì một cuộc chiến tranh cũng là không thể tránh khỏi nếu Việt Nam muốn có được độc lập.

Tháng 2/1946, một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Truman, yêu cầu can thiệp khẩn cấp để ngăn chặn người Pháp khi cuộc chiến đã cận kề, sau khi đã gửi thư cho tất cả các quốc gia thuộc Hội đồng Bảo an, trừ Pháp. Một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy Hiến chương Đại Tây Dương và Hiến chương Liên Hợp Quốc làm cơ sở cho những yêu cầu của mình, nhưng đáng tiếc là khi quyền lợi của các cường quốc không bị ảnh hưởng thì những hiến chương ấy vô nghĩa. Đáng tiếc hơn, người Mỹ yêu tự do, nhưng chính quyền Mỹ không yêu tự do của những dân tộc khác. Dân tộc Việt Nam đã bị đẩy vào một chặng đường lịch sử đau thương, đã buộc phải trở thành một trong những dân tộc anh hùng nhất trong thế kỷ XX dù không hề có mong muốn chứng minh điều đó.

Lời tựa của bản Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945) có nói: “Chúng tôi, nhân dân các quốc gia liên hiệp quyết tâm: Phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh đã hai lần trong đời chúng ta gây cho nhân loại đau thương không kể xiết […]” [6], và Truman đã nói về những thành tựu ở Hội nghị Cựu Kim Sơn như là “Một sự nghiệp vĩ đại để tạ ơn Thiên Chúa toàn năng…” Giá như họ thật sự nghĩ những điều mà họ đã nói ra, thì lịch sử Việt Nam và thế giới có thể đã rất khác.


Tham khảo

[1] “Letter from President Ho Chi Minh to President Harry S. Truman,”, 17 October 1945. History is a Weapon

[2] Bartholomew-Feis, D.R., 2007. The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan.

[3] “Operational Priority Communication from Archimedes Patti,” U.S. Office of Strategic Services, 2 September 1945. Courtesy of National Archives

[4] “Letter from President Ho Chi Minh to Secretary of State James Byrnes”, 1 November 1945. History is a Weapon

[5] “Letter from President Ho Chi Minh to President Harry S. Truman,” 28 February 1946. Courtesy of National Archives

[6] Hiến chương Liên Hợp Quốc, Thư viện Pháp Luật

Gregor Gysi of the German Party “Die Linke” On the Situation in Ukraine

Gregor Gysi of the German Party “Die Linke” On the Situation in Ukraine.

“The leader of the opposition, Gregor Gysi, will speak now:

Mr. President, ladies and gentlemen. Putin wants to solve the whole crisis in Ukraine militarily. He has not understood that the problems of humanity can neither be solved by soldiers, nor by weapons. The opposite is the case. Russia’s problems also cannot be solved in this way. His thinking and his actions are wrong and we condemn them explicitly. Yet, it is the same thinking that was and is present in the west for Yugoslavia, in Afghanistan, Iraq and Libya. System confrontations [of the past] were replaced by the opposing interests of the USA and Russia. The Cold War is over, but such opposing interests can lead to very similar traits. The USA want to gain more influence and defend existing influence, and Russia wants to gain more influence and defend existing influence. When talking about Russia, I shall only mention Georgia, Syria, Ukraine.

Even when one condemns Putin’s actions, one must also look at how the whole confrontation and intensification came to be. And I shall tell you very clearly: Everything that NATO and the EU could have done in the wrong way, they did in fact do in the wrong way.

I begin with Gorbachev in the year 1990. He suggested to form a common European house: the dissolution of NATO and of the Warsaw Pact, while finding a common security [arrangement] with Russia. This is what NATO rejected. They said: Dissolution of the Warsaw Pact: Yes. The NATO stays… And the defensive [NATO] alliance was transformed into an interventionist alliance. The second error: In the context of the creation of German unity, the US foreign minister and the German foreign minister at the time, [Mr.] Genscher, and other foreign ministers told Gorbachev: No eastwards expansion of NATO will take place. This promise was broken. There was a radical expansion of NATO towards Russia. And the former US foreign minister, Robert Gates, described the rapid inclusion of the East European states into NATO as a grave mistake and the attempt of the West to include Ukraine in NATO as grave provocation – that’s not what I said, this was said by the former US foreign minister! Then, thirdly, the decision was made to station missiles in Poland and the Czech Republic. The Russian government said: This concerns our security interests, we do not want this. The West couldn’t care less, and it was done anyway. And finally, NATO gravely and repeatedly violated international law in the Yugoslavian war. This has by now been confirmed even by former German chancellor Schröder. Serbia had not attacked another state and there was no resolution of the UN Security Council. And yet, bombs were dropped, and for the first time since 1945, there was German involvement in it. The citizens of Kosovo were allowed to decide in favor of the separation from Serbia in a plebiscite.

Back then, I heavily criticised these violations of international law and I have told you regarding the Kosovo case that a Pandora’s Box is being opened. Because if this is allowed in Kosovo, then you must also allow it in other regions. You insulted me. You did not take it seriously. And you did this because you thought you were such victors of the Cold War that all old rules were not applicable to you anymore. I tell you: The Basks ask why they can’t have a plebiscite that asks whether they want to belong to Spain or not. The Catalans ask why they can’t have a plebiscite that asks whether they want to belong to Spain or not. And so do the citizens of Crimea. And through violation of international law, through habitual law, you can create new international law, you know that. Yet, my opinion stands that the detachment of Crimea [from Ukraine] would be violating international law – as was the detachment of Kosovo [from Yugoslavia].

I knew that Putin would refer to Kosovo and that is just what he did. And now you, Ms. Chancellor, tell me that this situation is totally different. [Someone (Ms. Roth?) shouting “It is!”]. Yes, that may be… But you disregard that violation of international law violation is [respectively, remains] violation of international law. My dear Ms. Roth, why don’t you ask a judge if a theft committed due to a noble motive is not a theft, in comparison to a theft committed with a non-noble motive? He will tell you that it stays a theft. That is the problem! That is the problem! And Mr. Struck [the former German secretary of defense] has explained a while ago that the Federal Republic of Germany must defend its security at the Hindukush [i.e. in the frontier region between China, Pakistan, and Afghanistan]. Now Mr. Putin explains Russia must defend its security in the Crimea. Germany, by the way, had no fleet [stationed] in the Hindukush [region] and was considerably further away [from that region than Russia is from the Crimean peninsula where they have a leased naval base]. Still I say, both sentences were and are wrong.

Yet, the following holds: When many international law violators blame the international law violator Russia for violating international law, this is not particularly effective and trustworthy. That is the fact we are facing. Obama spoke, like you, Ms. Chancellor, of the sovereignty and territorial integrity of nations. But these two principles were violated in Serbia, Iraq and Libyia. The West thought it could violate international law because the Cold War was over. Chinese and Russian interests were heavily underestimated. You did not take Russia – under Yeltsin, who was so often even drunk – serious anymore. But the situation changed. Of late, you refer now again to the principles of international law that were established during the Cold War. I am very much in favour of their being [considered] valid again, but if so, this must apply to all! This is the only way.

Then there was the tug of war between the EU and Russia with Ukraine in the middle. Both [parties] thought and acted in the same way. Barroso, head of the European Commission, said [to the Ukrainian government,] EITHER a customs union with Russia OR contracts with us. He did not say, BOTH [is possible]. [It was] Either-or! And Putin said, EITHER contracts with us OR with the EU. Both thought and acted in the same way. It was a gigantic mistake by both sides. No EU foreign minister tried to speak to the Russian government while at least recognising the rightful security interests of Russia. Russia is afraid that in the tracks of the EU, NATO will enter Ukraine. It feels more and more surrounded. But everyone pulled at Ukraine. The EU and NATO foreign ministers completely ignored the history of Ukraine. They never understood the importance of Crimea to Russia. And Ukrainian society is deeply divided. This, too, was not recognised. This deep division already showed in WWII [when units were formed voluntarily by West Ukrainians that fought against America’s war-time ally, the Soviet Union, side by side with the Hitler Wehrmacht, whereas in Eastern Ukraine, a strong partisan movement resisted Hitler Germany, side by side with the Red Army]. And it shows today. Eastern Ukraine tends towards Russia, Western Ukraine tends towards Western Europe. At this moment, there is no single Ukrainian political figure that could represent both parts of society. That is a sad truth.

And then there is the Council of Europe and the Organisation for Security and Cooperation in Europe (OSCE) which you gravely neglected, Ms. Chancellor, [and you,] Mr. foreign minister. The funding for these organisations was cut more and more in the past because you thought they were not important. Yet they are the only organisations in which both Russia and Ukraine also take part. Thus we must strengthen these organisations and should not discuss Russia’s exclusion. That [latter proposal] is completely missing the point.

Then we saw a massive intensification on Maidan. Then we saw snipers and many deaths. There are various rumours. In such situations, people lie a lot. And that is why, in such situations, we propose an international investigating committee. We and the Ukrainians have a right to know what happened there, who is responsible… And I am happy that you support this, Ms. Chancellor. On Maidan, there were many democratic forces. But also fascists. The West was directly and indirectly involved. And at the time, [German] foreign minister Steinmeier, [as well as] the French and Polish foreign ministers, reached an agreement with Janukovych and the opposition. And now you, Mr. foreign minister, are saying that [President] Janukovych scrapped the agreement by fleeing [the country]. That is wrong. The people on Maidan rejected this agreement by a great majority. And you, Mr. foreign minister, also did not speak in favor of this agreement on that square. And only after its rejection did Janukovych leave Kiev. Then, parliament had a meeting, and they voted him out of office with 72.88% [in favor of it]. Yet, the constitution dictates 75%. Now Mr. Röttgen and others say, well, during a revolution you can’t take the constitution literally, what are a few percentiles more or less?… But Putin references this and says there was no constitutional majority to vote him out of office, and refers to documents received from Janukovych. By the way, during the poll, armed soldiers were present. Not very democratic. During the plebiscite in Crimea on Sunday, there will also be armed soldiers. Also not very democratic. Interesting is also that you, Ms. Chancellor, say, that such a plebiscite is forbidden by the Ukrainian constitution. So, when is the constitution to be upheld, and when isn’t it [to be upheld]? When it’s about voting the [elected] president out of office, it is not [to be upheld], and with regard to the plebiscite in Crimea, it is [to be upheld]? You should decide whether you accept the constitution as a whole or only in specific cases when you feel like it. The latter is the way I have seen [you doing it], and I don’t like.

Then a new government was formed. [It was] immediately recognized by President Obama, also by the EU, [and] also by Germany. Ms. Merkel! This [new Ukrainian] government’s vice premier minister, [as well as] the defence minister, the agricultural minister, the environmental minister, the Attorney General… are fascists! The head of the national security committee was co-founder of the fascist Swoboda party. Fascists have important positions and dominate, for example, the security sector. And never have fascists voluntarily given up power once they had conquered a part of it. At least Germany should have drawn the line here, especially because of our history. When Haider’s FPÖ joined the government in Austra, there were even contact barriers! Andin the case of the fascists in Ukraine, we do nothing?! Swoboda [one of the Ukrainian party’s that form the new government in Kiev] has close contacts to the NPD [the German neo-Nazi party] and other Nazi parties in Europe. The chairman of this party, Olek Tyahnybok, has stated the following. I am going to quote him now. You need to grasp this, what he has said, literally: “Grab your weapons. Fight the Russian pigs, the Germans and the Jew swines and others pests”. End of quote. I repeat. This man has said “Grab your weapons. Fight the Russian pigs, the Germans and the Jew swines and others pests”. Attacks on jews and left-wingers are now common, and to all of this you say nothing? You talk with these Swoboda people? I think this is a scandal. I have to tell you this clearly.

Now you want, as you said, to impose sanctions, if all else fails. But they will not impress Putin. They will only make the situation worse. Kissinger, the former US foreign minister, is right. He says sanctions do not express a strategy but the lack of a strategy. That also holds for the escalating military flights over Poland and the Baltic states: What’s the point? Accounts of Janukovych and his supporters are blocked because they contain stolen state funds. My question: You did not know this [when you talked to him, and reached agreements with him]? Second question: Why only their accounts? What about the billions of oligarchic money used to support others [in Ukraine now], why aren’t you interfering there? Why is this going on in such a one-sided way?

There is only the way of diplomacy! First: The West must recognise the legitimate security interests of Russia on the Crimea[n peninsula], which is – by the way – also how US foreign minister Kerry sees it. We must find a status for Crimea that Ukraine, Russia and we can live with. We have to give guarantees to Russia that Ukraine will not become a member of NATO. Secondly: The perspective of Ukraine lies in its bridge function between the EU and Russia. Thirdly: A process of understanding between the East and the West [of that country] must be initiated in Ukraine, maybe through a federal or confederated status, maybe even through two presidents. What I accuse the EU and NATO of is this: Until today, no [positive] relationship with Russia has been sought or found. This has to change dramatically. Security in Europe is not possible against or without Russia but only with Russia. And if the [present] crisis is overcome one day, the one [noteworthy] advantage could be that international law is finally recognised again by all sides. Thank you. “

March 13, 2014, Bundestag [Federal Diet, i.e. the German parliament], Berlin, Germany.

Source:

http://www.art-in-society.de/AS14/Gysi/Ukraine-crisis-debated.html

Eponymous laws

1.インターネットで正しい答えを得る最良の方法は、質問を投稿することではなく、間違った答えを投稿することです。

2.好みの相反性 :誰かが私たちを好きな時、私たちも彼らを好きになる傾向があります。誰かに好きになってほしい時、その最良[さいりょう]の方法は、まず彼らを好きになる事です。

3.懸命に働くほど、達成感は大きくなります。 ->簡単な仕事より難しい仕事の方が好きです。

4.人々は、真実であるかどうかにかかわらず、自信を持って話す人々を信じる傾向[けいこう]があります。だからこそ、エセ科学の政治家がたくさんいるのです。

5. 人を助ける人は幸せです。ですから、他人を助けることは実際に自分自身を助けることです。

    Vì sao người ta không theo lẽ phải

    Hôm trước có một bạn nhỏ đặt câu hỏi trên Noron rằng, tại sao cai ngục ở nhà tù Phú Quốc lại có thể đối xử tàn ác với đồng bào của chính mình.

    Chỉ đọc câu hỏi thôi thì có thể hiểu là trong đầu bạn nhỏ ấy, những người tù ở Phú Quốc là những người yêu nước, và ai cũng biết họ là những người đại diện cho chính nghĩa. Khi mọi chuyện đã xong xuôi thì trắng đen nhìn rất rõ ràng, còn lúc đương thời thì chưa bao giờ như vậy.

    Tôi cảm thấy giáo viên lịch sử ở vào một hoàn cảnh rất khó khăn. Nếu họ không nói hết những điều cần nói thì học sinh không hiểu, nhưng có một số điều cần nói họ lại không có quyền nói. Vì thế họ buộc phải nói sao cho học sinh hiểu nhiều hơn những điều họ nói, tức là ta cần những học sinh nghe một hiểu mười. Em học sinh nào hiểu được mười thì trở thành học sinh giỏi, em nào hiểu đủ mọi điều giáo viên và sách nói, tức là một, thì lên lớp đều, và chỉ vậy thôi. Nội dung của một khi người nói biết mười, rất thú vị là lại khác với nội dung của một khi người nói biết một. Tự nhiên tôi nhớ khi xưa lúc học Nhiệt học, có chuyện thú vị là cùng một nhiệt lượng, nếu là truyền từ một vật có nhiệt độ cao hơn thì có chất lượng cao hơn so với truyền từ một vật có nhiệt độ thấp hơn. Thú vị!

    Những em học sinh hiểu mười ấy, sau này khi trở thành giáo viên, lại nói một cho học sinh của mình.

    Để giải thích cho em nhỏ trên, tôi cũng không có cách nào tốt hơn là nói một và mong em hiểu mười. Dưới dây là câu trả lời.


    Câu hỏi của em không ngốc nghếch. Chỉ riêng việc em có thể đặt câu hỏi cũng thể hiện rằng em có hiểu biết và có tiềm năng. Có những người không thể đặt câu hỏi, vì họ không biết rằng họ không biết.

    Ở câu trả lời này, anh sẽ không nói về nhà tù Phú Quốc. Anh nghĩ sẽ có ích với em hơn nếu em hiểu tại sao lại có người lại chống lại đồng bào của mình. Có nhiều lý do cho việc đó.

    i) Một người bình thường cũng có thể trở thành người độc ác khi nắm quyền lực và có thể hành xử như họ muốn mà không sợ hậu quả.

    Nói đơn giản hơn là có thể có những điều kiện bên ngoài làm cho một người trở nên tàn nhẫn. Có một thí nghiệm nổi tiếng mà trong đó sinh viên đóng vai tù nhân và cai ngục. Các “cai ngục” sau đó đã có những hành vi độc ác như cai ngục thực sự.

    Có nhiều tranh cãi về thí nghiệm đó, nhưng nó đáng được tham khảo. Em có thể đọc về nó ở đây:

    Thí nghiệm nhà tù Stanford – Wikipedia tiếng Việtvi.wikipedia.org

    “Quyền lực sẽ dẫn đến tha hóa. Quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến tha hóa tuyệt đối.”

    ii) Sự phục tùng có thể khiến người ta có những hành động đi ngược lại các chuẩn mực đạo đức thông thường, mà không cảm thấy có lỗi lầm.

    Chúng ta biết rằng giết người là tội ác, nhưng nói chung trong chiến tranh, nếu một người lính giết địch, anh ta không bị lên án. Người bị lên án, nếu có, là chỉ huy của anh ta, là chính phủ của anh ta. Người lính chỉ cần nghe lệnh, và giết người.

    Khi người ta đã quyết định phục tùng trước uy quyền, và có một “lý tưởng”, họ có thể có quan điểm rất khác về nhân tính.

    Trong Đệ nhị Thế chiến, người Đức đã phạm những tội ác khủng khiếp. Nhưng những cai ngục tàn ác ở các trại tập trung không phải sinh ra đã tàn ác. Không có cách nào để có thể tìm ra nhiều kẻ ác như thế, nhưng có thể dễ dàng tạo ra những kẻ ác. Những cai ngục ấy khi về nhà có thể là những người con ngoan ngoãn, những người chồng tình cảm, người cha ấm áp, nhưng ở nơi họ làm việc, họ có thể giết người mà không thấy ghê tay.

    Có một thí nghiệm đã được thực hiện để chứng minh điều này. Một nhóm người bình thường (không phải là những kẻ độc ác dã man) được yêu cầu thực hiện thí nghiệm bằng cách sốc điện một nhóm khác, cũng là những người bình thường tham gia thí nghiệm. Tất cả những người tham gia đã sẵn sàng sốc điện người khác ở mức 300V. Có người sốc điện mức 450V. (Điện áp tiêu chuẩn ở VN là 220V và đủ làm chết người. Thí nghiệm chỉ kiểm tra xem người ta có sẵn sàng làm một việc nguy hiểm cho người khác hay không chứ không thật sự dùng điện áp cao, người bị sốc điện chỉ giả vờ bị sốc.)

    Cũng như mọi thí nghiệm tâm lý khác, có nhiều ý kiến xoay quanh thí nghiệm này, nhưng nó đáng được tham khảo.

    Milgram experiment – Wikipediaen.wikipedia.org

    Có một ví dụ rất tiêu biểu cho hai mục i) và ii) này, đó là cải cách ruộng đất vào những năm 50 ở VN. Nếu chưa biết thì em rất nên tìm hiểu.

    iii) Ai là đồng bào

    Điều mà em đang băn khoăn là tại sao người Việt lại tàn nhẫn với người Việt phải không? Trước tiên em phải hiểu câu hỏi của chính mình đã. Anh đọc câu hỏi của em và có cảm nhận là em nghĩ rằng những người sinh ra ở Việt Nam thì nói chung đều là người Việt. Nghĩ như vậy không hẳn là sai, nhưng không đúng.

    Em không nhất thiết phải giống người sinh ra ở cùng quốc gia với em. Chúng ta có một ngàn năm Bắc thuộc, khi ấy VN ngày nay là một phần của TQ. Thế thì người VN sinh ra vào thời điểm ấy có phải là người TQ không? Em nghĩ rằng những người sinh ra ở nước ta vào thời điểm ấy có nghĩ họ là người TQ không, và trong sổ sách thì họ sẽ được coi là người nước nào?

    Đất nước VN mà em thấy bây giờ không phải lúc nào cũng như vậy. Điều này đúng với hầu như mọi quốc gia trên thế giới. Biên giới quốc gia luôn thay đổi, nên nói về dân tộc thì dễ, nói về quốc gia thì khó. Lãnh thổ VN bây giờ gồm những vùng đã từng thuộc về TQ, Khmer, Chăm Pa, v.v. Vào thế kỷ XIX, có những vùng của VN ngày nay vẫn còn là nước Chăm Pa. Em nghĩ rằng những người ở vùng đất ấy và con cháu của họ, vào thế kỷ XX, có nghĩ rằng họ là người VN không? Cùng thế kỷ ấy, chính quyền VN đã ép người gốc Hoa phải về nước, dù họ đã có nhiều đời sinh sống ở VN. Em có nghĩ là chính quyền VN khi đó coi những người ấy là người VN không?

    Khi em đọc về cai ngục và tù nhân người Việt, thì có thể giữa họ chẳng có quan hệ gì liên quan tới dân tộc hay quốc gia. Thậm chí, giữa họ có thể còn có những mối thù sâu sắc hơn là giữa những người ở những vùng xa lạ.

    iv) Chính nghĩa thuộc về ai?

    Nếu những người trong cùng một quốc gia chống lại nhau, thì yêu nước nghĩa là theo bên nào? Chẳng có câu trả lời nào đúng cả. Bên nào thắng cuộc thì sau đó sẽ gọi họ là chính nghĩa, theo họ là yêu nước. Bên thắng cuộc là bên viết sách lịch sử, và con cháu của bên thua cuộc, dù muốn dù không, cũng sẽ phải học thứ lịch sử ấy.

    Để đỡ nhạy cảm hơn, anh sẽ lấy một ví dụ ở TQ thay vì ở VN. Trước đây TQ là của Quốc dân Đảng (QD), và TQ ở LHQ là TQ của QD. Sau đó mới có chiến tranh Quốc Cộng giữa QD với Đảng Cộng sản (DS). Ngày nay những gì còn lại của QD là ở Đài Loan. Có một câu hỏi anh muốn em suy nghĩ. Nếu trong chiến tranh, người của DS bị bắt và bị tra tấn trong nhà tù của QD thì cai ngục có phải là kẻ nhẫn tâm với đồng bào của mình không? Cai ngục của QD có bị coi là chống lại Tổ quốc không? Nếu ngược lại thì thế nào? Khi ấy QD vẫn danh chính ngôn thuận cầm quyền ở TQ, có phải DS sẽ bị gọi là phản loạn không?

    Câu hỏi đơn giản hơn là, giữa TQ và Đài Loan, bên nào chính danh hơn?

    Lịch sử VN thì hơi khác, nhưng em hãy thử tìm hiểu xem có bao nhiêu lực lượng có mục tiêu giải phóng dân tộc, và trong số đó thì ai chính danh hơn ai. Chính nghĩa có phải được quyết định bằng chiến thắng cuối cùng không?

    Cách mà chúng ta nhìn các sự kiện lịch sử vào thời điểm hiện tại, nói chung không giống với cách mà những người đương thời nhìn những gì đang diễn ra vào thời điểm đó. Lịch sử có những điểm rất xấu xí. Có khi nhóm người yêu nước này đi giết một nhóm người yêu nước khác, nhân danh lòng yêu nước. Người ta có thể vừa yêu nước vừa tàn độc. Sự yêu nước trong thời chiến không giống như sự yêu nước mà những đứa trẻ trong thời bình được dạy ở nhà trường.

    v) Theo ai mới là yêu nước

    Em hãy đặt mình vào hoàn cảnh dưới đây, và suy nghĩ thật kỹ. Giả sử em là một người dân bình thường sống trong thời phong kiến. Triều đại hiện tại đã đến bước suy tàn. Họ có một hệ thống quản lý tồi, khiến nhân dân khổ cực. Họ không lo được cho đời sống của nhân dân, nhưng lại bắt người dân phục dịch, và chỉ sống bằng sưu thuế của dân. Giả sử có một nhóm người làm phản, chống lại triều đình và chiếm vùng đất của em. Nhóm người đó thu thuế ít hơn triều đình, và không nhũng nhiễu dân chúng như triều đình.

    Em sẽ làm gì? Chấp nhận chính quyền mới của nhóm người đó và sống một cuộc sống giống như em đã từng sống, thậm chí có phần thoải mái hơn, hay là thể hiện lòng yêu nước và trung thành với triều đình bằng cách liều chết chống lại nhóm người đó?

    Tư tưởng Nho giáo khuyến khích người ta trung thành với triều đình. Không phải vì Nho giáo đề cao lòng yêu nước và lòng trung thành, Nho giáo không đề cao phẩm giá con người, mà nó đề cao những thứ giúp chính quyền phong kiến có thể duy trì sự cai trị của mình. Không phải Nho giáo đề cao sự ái quốc, mà là nó định nghĩa sự ái quốc và trung thành theo hướng có lợi cho giai cấp cầm quyền, và nhồi sọ toàn bộ người dân những thứ mà nó định nghĩa.

    Vì thế, trong ví dụ nêu trên, nếu một người quá thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, dù nhóm nổi dậy có cho họ một cuộc sống tốt hơn, họ cũng vẫn sẽ theo triều đình một cách mù quáng. Ngày nay khi chúng ta nghe những câu như “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.”, chúng ta sẽ thấy nó thật ngu xuẩn. Nhưng người xưa từng coi đó là lẽ đương nhiên. Không ai có thể tự nhiên mà ngu xuẩn như vậy được, trừ khi họ được nhào nặn để trở nên như vậy. Con người ta nếu biết suy nghĩ sẽ không thể tin những thứ nhảm nhí đó, nhưng nếu người ta bị tiêm vào đầu một thứ gì đó từ khi còn chưa biết nghĩ, họ sẽ tin theo nó mà không nghi ngờ, không lập luận, không kiểm chứng. Ai để cho những tư tưởng kiểu ấy đi vào đầu, họ sẽ trở thành một thứ công cụ, bị lợi dụng mà không biết rằng mình bị lợi dụng.

    Nếu có thời gian, hãy dành một phút suy nghĩ xem có điều gì em luôn tin là đúng nhưng chỉ vì người khác nói với em như vậy, và em chưa từng đặt câu hỏi về tính xác đáng của nó không.

    Bây giờ, hãy quay lại ví dụ ở trên, và thay nhóm nổi dậy địa phương bằng một thế lực ngoại bang. Nếu thế lực này đem lại cho em, gia đình em, làng xóm của em một cuộc sống tốt đẹp hơn, thì em sẽ theo họ hay theo cái triều đình mục nát vốn không hề làm gì cho cuộc sống của em tốt đẹp hơn?

    Tất nhiên, các thế lực nước ngoài đến chỗ em cũng vì lợi ích quốc gia dân tộc của họ, chứ chưa bao giờ là vì hạnh phúc của em. Em vẫn bị bóc lột. Có điều, họ cho em thêm một sự lựa chọn, và giờ em có thể lựa chọn thứ bớt tệ hơn giữa hai thứ tồi tệ. Thêm nữa, các thế lực nước ngoài bao giờ cũng cần sự hỗ trợ của người trong nước, vì thế họ sẽ làm cho một bộ phận nhỏ có cuộc sống hạnh phúc. Theo lẽ thường, người ta sẽ yêu quý gia đình, làng xóm, phủ huyện trước rồi mới tới đất nước. Nếu người ta thấy thế lực mới tốt với gia đình hay làng xóm của họ hơn, họ sẽ ít thấy hổ thẹn khi theo thế lực đó. Đó là chuyện của một nhóm người, một thành phố. Phần còn lại thì có thể khổ cực lầm than bằng, hơn, hoặc kém so với thời của chính quyền trước.

    Hãy thay đổi một chi tiết nữa. Nếu thế lực nước ngoài kia có thể thao túng một chính quyền của người bản xứ, họ thậm chí trở nên danh chính ngôn thuận hơn. Có những người bản xứ làm việc cho chính quyền đó. Lợi ích của họ gắn với lợi ích của chính quyền đó. Bây giờ em hãy đọc lại mục i) và ii).

    Chính quyền này sẽ tiêu diệt bất kỳ lực lượng nào muốn chống lại họ, đó là lẽ thường tình. Em hãy lưu ý rằng người thời đó không nhìn nhận lịch sử như chúng ta nhìn nhận. Chính quyền đó cũng nói rằng nó phục vụ cho đất nước. Lực lượng của những người tù cũng tuyên bố rằng họ chiến đấu vì đất nước. Em có thể tưởng là mọi chuyện rất rõ ràng vào thời điểm này vì em được dạy nhiều thứ, nhưng những người cai ngục thì không. Có rất nhiều đảng phái chính trị hoạt động trong thời điểm đó, có khi họ hợp tác, có khi họ tấn công lẫn nhau, và nhóm nào cũng nói rằng họ yêu nước. Tất cả những gì họ nói chỉ đơn giản được coi là luận điệu chính trị, và em không cần phải tin các chính trị gia, dù là cộng sản hay tư bản. Tới tận ngày nay người ta vẫn tranh cãi về những điều đã xảy ra, thì những người cai ngục thời đó tất nhiên không thể hiểu như em được. Lựa chọn tự nhiên nhất của họ là vâng lệnh cấp trên.

    Anh hoàn toàn không biết về những cai ngục ở Phú Quốc, nhưng nếu họ là người Việt và tàn bạo với đồng bào thì, do những nguyên nhân kể trên, cũng không phải là điều khó hiểu.

    Mối quan hệ Phi Pháp

    Vào những năm 60, làn sóng đấu tranh chống thực dân ở các thuộc địa (mà VN góp phần với chiến thắng ĐBP) khiến cho Pháp buộc phải nhả miếng bánh châu Phi, nhưng thay vì trả lại độc lập cho các thuộc địa, Pháp trao cho họ “tự do trong nô lệ.” Pháp tiếp tục một vài hành vi bẩn thỉu đến mức khó diễn tả thành lời với các cựu thuộc địa này cho tới tận ngày nay.

    Cho tới nay thì các cường quốc đều không hành xử theo cái gọi là đạo đức, còn các quốc gia yếu hơn một chút thì đơn giản là chưa ở vào địa vị để có thể hành xử vô đạo đức như các nước lớn. Nếu bạn thấy các cường quốc sống rất tốt đẹp, thì đó là bởi vì quyền lợi của họ chưa bị đụng chạm, hoặc họ bị kẻ khác kiềm chế, và thường bạn không thấy hết được những gì họ làm. Khi cơ hội tới, hoặc khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn, chẳng hạn như chiến tranh, hay đại dịch, bộ mặt thật của họ sẽ lộ ra.

    Ở đâu cũng có người tốt kẻ xấu, kể cả trong các Đảng và Chính phủ. Tuy nhiên kẻ xấu thường thắng, vì thủ đoạn thường hiệu quả hơn là đạo lý. Thầy dạy Quốc phòng của chúng tôi trước đây có nói rằng, trên thế giới này không có bạn hay thù, chỉ có lợi ích quốc gia và dân tộc mới là mãi mãi. Và thứ lợi ích ấy, rất tiếc, thường là ích kỷ.

    Tôi đã dùng Google dịch để dịch một bài viết về chế độ thuộc địa mới của Pháp ở Châu Phi. Tôi nghĩ rằng những thông tin như thế này sẽ giúp chúng ta nhìn thế giới một cách thực tế hơn. Nếu quan tâm bạn có thể đọc ở link dưới đây:

    https://noron.vn/post/moi-quan-he-phi-phap-7a0jnik65k3?nrclid=98638123138812546

    Một ngôn ngữ khó

    Người ta nói tiếng Nhật khó. Điều đó thường chỉ có nghĩa là nó khó với người ta, chứ không hẳn là nó khó với bạn.

    Không có thứ tiếng khó, chỉ có thứ tiếng khó với một người nói một thứ tiếng cụ thể nào đó. Chẳng hạn, tiếng Nhật khó với người nói các thứ tiếng ở châu Âu, nhưng lại dễ với những người nói những thứ tiếng ở Đông Á, hay là cả tiếng Việt. Nói rằng một thứ tiếng dễ hay khó là vô nghĩa, nếu không chỉ ra nó dễ hay khó với ai.

    Rất nhiều người, trong đó có tôi, bắt đầu học tiếng Nhật sau khi đã dùng được tiếng Anh, và học tiếng Nhật với các giáo trình bằng tiếng Anh. Tôi nghĩ đó là một sai lầm. Tôi chưa từng thấy người nào nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ và học tiếng Nhật khi đã trưởng thành nói rằng tiếng Nhật không khó.

    Có nhiều nguyên nhân làm cho tiếng Nhật khó với họ. Hai nguyên nhân nổi bật là sự khác biệt trong văn hóa, trong cách suy nghĩ, và sự khác biệt về cấu trúc ngôn ngữ. Nói chung, các quốc gia càng gần nhau thì càng có nhiều sự gần gũi trong văn hóa và ngôn ngữ, hay nói đơn giản hơn thì người Việt học tiếng Nhật sẽ dễ dàng hơn người Mỹ học tiếng Nhật.

    Về khác biệt văn hóa, có những khái niệm phổ biến trong văn hóa Nhật nhưng lại rất khó hiểu đối với người phương Tây. Trong các ngôn ngữ phương Tây không có khái niệm tương ứng hoàn toàn, và trong tưởng tượng của họ cũng không có những thứ như vậy.

    Chẳng hạn, 天皇 được dịch sang tiếng Anh là Emperor, nhưng đó chỉ là thứ gần với 天皇 nhất mà người ta có thể tìm thấy được mà thôi. Trước đây thường dân Nhật tôn kính Thiên Hoàng như tôn kính một vị thần, trong từ Thiên Hoàng cũng có chữ chỉ trời. Trong tiếng Anh không có thứ gì như thế cả, những từ tương đương trong các ngôn ngữ châu Âu xuất phát từ chữ imperare, tức là thống lĩnh, điều khiển.

    Một ví dụ khác là chữ 龍. Trong văn hóa Nhật và các nước bị ảnh hưởng bởi Trung Hoa, rồng là một con vật quen thuộc. Một người châu Âu bình thường sẽ không hiểu về rồng như một người Nhật hiểu. Từ nhỏ họ đã đọc các bản dịch trong đó 龍 được gọi là Dragon. Có điều, Dragon là chằn tinh, là quái vật và cần tiêu diệt, còn 龍 là rồng, được xếp ngang với thần và được thờ. Người châu Âu không hề biết về một giống loài như thế.

    Những khái niệm nêu trên không phải là cá biệt. Vì sự khác biệt văn hóa là rất lớn, có rất nhiều khái niệm như vậy. Không chỉ có các khái niệm, cách suy nghĩ và giao tiếp của người Nhật cũng rất khác với người phương Tây.

    Hãy lấy một ví dụ đơn giản. Khi bạn ra khỏi nhà và gặp hàng xóm ngoài đường, người hàng xóm có thể sẽ hỏi 「どちらへ」. Với người Nhật, hay người Việt, thì việc nghe người khác hỏi “Bác đi đâu thế?” là rất bình thường. Họ sẽ trả lời đơn giản là “À, tôi ra đằng này một lát.” hoặc tương tự như vậy. Người Nhật thì có thể trả lời là 「ええ、ちょっとそこまで」. Còn người nói tiếng Anh thì sao? Thường thì họ sẽ băn khoăn tại sao người ta lại quan tâm đến việc riêng của mình, họ không hiểu rằng đó chỉ là một câu hỏi có tính xã giao. Nó không dùng để hỏi, mà dùng để duy trì một mối quan hệ hàng xóm gần gũi.

    Ngay cả những câu rất cụ thể, chứ không chỉ mang tính xã giao hay được nói như một thói quen, cũng rất khó dịch. Chẳng hạn 「妻子を養う」thường được dịch với cụm “provide for,” nhưng dịch như thế thì không diễn tả được ý gốc là “nuôi vợ con.” Chữ “nuôi” này trong tiếng Việt gần nghĩa với từ gốc hơn hẳn so với “provide for,” bởi vì lối nghĩ của người Nhật và người Việt (trong vấn đề này) có cùng nguồn gốc, và thực ra là giống nhau.

    Trong tiếng Nhật, có rất nhiều đại từ nhân xưng, chúng được dùng tùy theo tình huống và mối quan hệ. Thậm chí trong cùng một mối quan hệ cũng có nhiều cách xưng hô khác nhau. Người Việt có thể hiểu rất rõ điều đó, vì ngôn ngữ của chúng ta cũng vậy. Với văn hóa của chúng ta, việc có nhiều đại từ nhân xưng là hiển nhiên. Người nói tiếng Anh, rất tiếc, chỉ có thể thấy đó là một yếu tố làm tiếng Nhật đã khó lại càng khó.

    Ngôn ngữ mang trong mình các yếu tố lịch sử, văn hóa, và cách nghĩ của con người, nhưng trước hết nó được tạo thành bởi từ vựng và các quy luật ngữ pháp. Khi học tiếng Nhật, người phương Tây không chỉ gặp bất lợi vì họ không hiểu văn hóa Nhật, không biết các điển tích Trung Quốc, mà họ còn bất lợi vì cấu trúc ngôn ngữ, các quy luật ngữ pháp trong tiếng Nhật cũng khác xa ngôn ngữ của họ.

    Cấu trúc câu của hầu hết các ngôn ngữ phương Tây là subject-predicate (subject prominent), trong khi đó cấu trúc câu tiếng Nhật lại là topic-comment (topic prominent). Để hiểu về hai loại cấu trúc này, hãy xem xét hai câu tiếng Việt dưới đây. Cả hai câu đều rất tự nhiên và thông dụng.

    1. Tên tôi là Việt.
    2. Tôi tên là Nam.

    Bạn có thấy sự khác nhau ở hai câu trên không? Chúng rất khác nhau, và từ chỗ không hiểu sự khác nhau của chúng, cho đến chỗ hiểu, là một bước tiến vô cùng lớn với bất kỳ ai quan tâm tới tiếng Việt (và tiếng Nhật.)

    Trong câu đầu tiên, “tên tôi” là subject, “là Việt” là predicate.

    Trong câu thứ hai, câu chuyện không còn là đâu là subject, đâu là predicate nữa. Chuyện đó không còn quan trọng nữa. Nếu ai đó yêu cầu bạn tìm chủ ngữ và vị ngữ của câu thứ hai, thì tôi không chắc bạn có tìm được không, nhưng bản thân câu hỏi đã không có nhiều ý nghĩa lắm.

    Tại sao? Câu thứ nhất có cấu trúc subject-predicate. Trong các câu như thế, bạn sẽ tìm được một chủ thể, và một tính chất hay hành động của chủ thể đó. Đó tương ứng là chủ ngữ và vị ngữ. Câu thứ hai, ngược lại, có cấu trúc topic-comment. Trong các câu như thế, bạn sẽ tìm được một chủ đề được nói đến trong câu, và một bình luận về chủ đề ấy. Bình luận có thể không phải tính chất, cũng không phải hành động, cũng không nhất thiết là do, hay thuộc về chủ đề, nhưng nó chắc chắn liên quan đến chủ đề.

    Câu thứ hai có thể được nói thế này: Về nhân vật “tôi,” thì nhân vật ấy có cái tên là Nam. Khi chúng ta bàn về chủ đề “tôi,” thì “có cái tên là Nam” là một bình luận.

    Hay một câu khác.

    3a. Tiếng Anh thì anh ấy khá giỏi, nhưng tiếng Nhật thì anh ấy còn phải cố gắng nhiều.

    Đây là một câu phức với hai topic và hai comment. Trong tiếng Nhật thì nó có thể được nói thế này:

    3b. (彼は)英語は上手ですが、日本語はいまいちですね。

    Với những câu có cấu trúc topic-comment, đừng đi tìm chủ ngữ-vị ngữ, đó là việc vô nghĩa.

    Tiếng Nhật là một topic-prominent language, có nghĩa là phần lớn các câu có cấu trúc topic-comment. Như đã nói ở trên, các quốc gia gần nhau thì thường ngôn ngữ cũng có quan hệ gần gũi. Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi nghĩ Tiếng Hàn, tiếng Trung, tiếng Việt đều có thể coi là topic-prominent languages(*). Các ngôn ngữ thuộc nhóm này không phải hoàn toàn chỉ gồm các câu với cấu trúc topic-comment, chúng vẫn có các câu với cấu trúc subject-predicate, nhưng với số lượng nhỏ hơn nhiều.

    Khi hiểu về sự khác biệt giữa topic-comment và subject-predicate, cách tiếp cận với tiếng Nhật của bạn sẽ thay đổi, đó là lý do tôi nói nó quan trọng.

    Hãy lấy một ví dụ đơn giản.

    Câu “Anh Tanaka rất sắc bén (nhanh nhạy).” trong tiếng Nhật sẽ là 「田中さんは頭が切れる。」

    Trong rất nhiều giáo trình, người ta nói với các bạn rằng hãy hiểu 「頭が切れる」như một tính từ, là “sắc bén,” “sắc sảo,” “sharp” hay một từ gì đó tương tự. Không sai, nhưng không đúng. Chúng ta đều có thể nhìn thấy rằng 「頭が切れる」không khác một mệnh đề hoàn chỉnh nào, nếu muốn bạn thậm chí có thể xác định chủ ngữ (cái đầu) và vị ngữ (sắc bén) của nó. Việc hiểu cả cụm như một tính từ chỉ là một cách để những người chỉ quen với subject-predicate dễ tiếp thu. Họ sẽ hiểu 「田中さん」 là chủ ngữ, và 「頭が切れる」= “sắc bén” là vị ngữ.

    Nếu bạn biết về topic-comment, bạn không cần phải chấp nhận cách giải thích đó. Điều thực sự được nói ra ở đây là:

    Nói về anh Tanaka (topic), thì đầu óc anh ấy rất nhanh nhạy (comment).

    Một ví dụ khác.

    Bạn dịch câu 「(私は)雨に降られた」sang tiếng Anh như thế nào?

    Không thể dịch được. Một câu khá gần là “I was troubled by the rain.”, dù nói là gần nhưng nó cũng vẫn khác nhiều so với câu gốc. Lý do? Tiếng Anh là một subject prominent language, và bạn không thể dịch được một câu bị động với động từ chính là nội động từ sang một ngôn ngữ như thế.

    Với tiếng Việt thì câu chuyện khá đơn giản: “Tôi bị mưa ướt.” Cùng là “bị,” nhưng “bị đánh” hay “bị lừa” thì có thể dễ dàng dịch ra tiếng Anh, còn “bị mưa ướt”/”bị dính mưa” thì không.

    Vì sao? Trong cấu trúc subject-predicate, chủ ngữ của câu bị động phải chịu tác động bởi hành động, còn trong cấu trúc topic-comment thì topic chỉ cần bị ảnh hưởng, có khi chỉ là ảnh hưởng tâm lý, bởi điều được nhắc đến trong comment.

    (*) Tại sao khi nói rằng tiếng Việt là một topic prominent language, tôi nói rằng đó là ý kiến cá nhân? Đó là bởi vì điều đó chưa bao giờ được nhắc tới trong sách giáo khoa. Nền ngữ pháp Việt Nam được xây dựng bởi các học giả châu Âu, và người ta có vẻ chỉ đi theo con đường mà người châu Âu đã vẽ ra. Khi người ta cố gắng phân tích một ngôn ngữ phương Đông bằng các khái niệm ngữ pháp dành cho các thứ tiếng phương Tây thì chuyện gì sẽ xảy ra? “Thứ ngữ pháp mà con em chúng ta đang phải học” sẽ xảy ra, giống như “một điều đáng tiếc” sẽ xảy ra. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm, hãy tìm đọc Cao Xuân Hạo.

    Dù chúng ta có được dạy về cấu trúc topic-comment trong tiếng Việt hay không, thì những câu với cấu trúc đó vẫn hiện diện trong đời sống hàng ngày. Nhiều người Việt nói rằng tiếng Nhật khó, và văn hóa Nhật khác biệt so với Việt Nam, nhưng thực ra, nếu những khó khăn hay khác biệt đó với người Việt là 1, thì với người phương Tây là 10. Tôi có cảm giác rằng chúng ta chia sẻ các giá trị cốt lõi giống nhau, học nhiều điển tích giống nhau, và có những câu chuyện cổ tương tự. Ngay cả các âm tiết trong tiếng Nhật, hầu hết cũng có thể được người Việt phát âm dễ dàng. Một cách khách quan, tiếng Nhật dễ với người Việt.

    Nếu bạn quen biết ai mới học tiếng Nhật và kêu khó, hãy nói với họ về những điều này, giúp họ thấy tiếng Nhật thì vẫn khó, nhưng không khó như họ nghĩ.

    LeBlanc’s Law

    Today I came across this law while reading a book. It is so true, and so universal that I was a little surprised that I hadn’t heard of it before. It was about software development, but I think it is applicable in almost any field.

    This is what the law states:

    Later equals never.

    What a piece of wisdom!

    It reminds me of countless times I told myself “I will fix it later.”, and that “it” was never fixed.

    If we think that something need to be done, by ourselves, we should do it ourselves. We could never count on our “future selves,” they are different people, they have new jobs to do and almost never have time to take care of the mess we have created for them.

    Một bài hát

    Tối nay tự nhiên thấy trên Youtube bài hát ngày xưa từng nghe. Mười mấy hai mươi năm trước nghe nhạc không dễ như bây giờ, tôi nhớ đã nghe bài hát đó trên đĩa. Bây giờ nghe nhạc rất dễ, nhưng lại chẳng mấy khi nghe.

    Cũng là mười mấy năm trước, trong một cuốn sách người ta khuyên nên nghe nhạc, mỗi khoảng thời gian nên có một bài hát yêu thích, để sau này khi nghe bài hát ấy những kỷ niệm về thời gian ấy sẽ quay lại.

    Tình cờ, những năm tháng ấy, đã nghe bài hát hôm nay rất nhiều. Hôm nay đúng là những kỷ niệm ngày xưa đã trở về.

    Bây giờ tôi không còn nghe nhạc nữa. Thời gian thì vẫn cứ trôi, trôi rất nhanh. Và rồi sẽ chẳng có gì nhắc lại những tháng ngày đã qua. Mười mấy năm trôi thật nhanh. Lúc còn nhỏ, lũ trẻ không biết được chúng sẽ già đi nhanh đến thế nào.

    Good bye Google Photos

    Google Photos (GP) used to be my favorite app for storing and sharing photos. All of its features were intuitive and smart. The things I like best in GP were the excellent search feature (thanks to its AI and Google Lens integration), the unlimited upload, the simple yet powerful editing feature, and the brilliant sharing feature – actually the best sharing feature among all photo-related services I know.

    Things have changed. In the last several days they made some changes in the interface, added “print order” panel (which is conspicuous and totally irrelevant to me. My printer is better than those in the convenience stores in partnership with them), and showed the percentage of used storage. Probably they want to remind their users that from June, GP is not unlimited anymore.

    Now GP is the default photo app on many android models, but I have used it long before it became a default app, and I introduced it to many friends of mine. The app served me well, and Google was generous with the high quality unlimited upload option. However, when they announced that the option will no longer be available, I felt a little disappointed, as if a promise was broken. Had I known this in the first place, maybe I would have chosen another service. What GP has done is making a lot of people depend on it when it comes to photos, meanwhile using its users’ photos for context-sensitive advertisements and to train its AI. Along the way, probably GP has been holding back the development of small companies in the field of photo storing and sharing by attracting their potential users with the generous unlimited upload. But now, GP is terminating that very option.

    I have used GP for free, so I am not in a good position to criticize or anything, but I am really not a fan of what it did this time. I decided to move my photos to Amazon Photos (AP). Today I have started to back up hundreds of GB of photos to AP. It is just as good as GP, except that if you share photos with a non-prime member, there will be annoying panels inviting them to upgrade, and it would be inconvenient if you relocate to another country. On the other hand, the better thing is, they don’t use our photos for ad, our photos are totally private. So, if you are also finding an alternative to GP, I recommend AP. If you are looking for a service providing free unlimited upload, you may want to try Shuttlefly (but I don’t know how good they are, just heard of them).

    GP used to be perfect for me. Good things don’t usually last long, indeed.

    Recreation

    私は写真が好きです。理由はよくわかりませんが、納得できる写真が撮れた時はとても嬉しいです。

    日によっては徒歩で通勤、途中で写真を撮りますが、天気が良ければ道中が休日感覚、週末を待つ必要もなく、疲れも吹っ飛びます。

    時には私の写真を見た友人から、安らぎや癒しを感じられるよ、と言われることがあります。

    そんな時はいい趣味を持ってよかったと つくづく幸せな気分になります。

    Một buổi chiều mùa xuân

    Kỳ nghỉ lễ dài bắt đầu từ thứ năm tuần trước, nhưng trời mưa suốt nên dù có không ngại corona cũng chẳng muốn đi đâu. Hôm qua, cuối cùng thì thời tiết cũng tốt lên. Tôi vốn chỉ định ngắm cảnh thôi nên không mang theo máy ảnh, nhưng vì cảnh quá đẹp nên đã chụp đến hết cả pin điện thoại.

    Hôm qua là một ngày mát mẻ. Khi ở giữa cánh đồng harumugi này, thỉnh thoảng có những làn gió nhẹ thoảng qua, cảm giác rất dễ chịu. Tôi đã nghĩ nếu có thể ngắm những cảnh này cùng ai đó thì thật tuyệt.

    DSC_0041
    DSC_0591
    DSC_0539
    IMG_20210503_191330
    DSC_0496
    DSC_0328
    DSC_0383
    DSC_0064
    DSC_0488
    DSC_0052

    210227

    Thiên đường

    Có một vài chuyện thường được kể đi kể lại, mỗi lần có một dị bản nào đó, nhưng nội dung về cơ bản không có gì thay đổi. Những câu chuyện như thế nhàm chán, vì một cái kết khó đoán thường là cần thiết cho một câu chuyện hay. Tuy nhiên, đối với những người chưa từng nghe qua, những chuyện như vậy đáng nghe. Đó là lý do quan trọng khiến chúng, chứ không phải những câu chuyện khác, được kể đi kể lại nhiều lần.

    Dưới đây là một mẩu chuyện như vậy, được kể lại ngắn gọn. Hy vọng mọi người chưa biết để việc kể chuyện không phải là vô nghĩa, nhưng thực ra nếu mọi người đều đã biết thì tốt hơn.

    Thiên đường

    Một học trò hỏi thầy mình: Thiên đường và địa ngục khác nhau thế nào? Người thầy liền dẫn anh ta đi xem.

    Khi hai người tới địa ngục, họ thấy nhiều người ngồi quanh một chiếc bàn, trước mặt mỗi người là một bát mỳ. Có điều, đũa của họ dài đến cả sải tay. Khi họ gắp mỳ thì đũa của họ sẽ đâm vào ai đó ở xung quanh. Cứ thế không ai có thể ăn mỳ một cách tử tế. Họ bị đũa đâm vào mặt, họ tức giận chửi bới tất cả mọi người xung quanh. Mỳ ngon nhưng khung cảnh thì hỗn loạn.

    Khi họ tới thiên đường, họ thấy chiếc bàn, những bát mỳ, và những đôi đũa giống hệt dưới địa ngục, nhưng mọi người lại có thể vui vẻ ăn mỳ cùng nhau. Vì sao? Họ dùng đũa của mình để gắp cho người khác.

    The Good Place

    Tôi đang xem một series tên là The Good Place. Season 1 của nó, cũng như season đầu tiên của nhiều show ăn khách khác, rất hay. Chuyện kể về một cô gái tên là Eleanor, sau khi chết đã thấy mình ở The Good Place, nơi mà rất giống với thiên đường.

    Vấn đề là cô ấy ích kỷ, ham vật chất, và ranh mãnh, có thể là giống với nhiều người trong số những người mà bạn biết, vì họ ở khắp mọi nơi. Cô biết là cô đến Good Place là do lỗi hệ thống, và lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị phát hiện, bởi vì bị phát hiện đồng nghĩa với việc phải sống ở The Bad Place vĩnh viễn. Để giúp cô có một cái nhìn về The Bad Place, Janet (một thực thể hơi giống nhưng thú vị hơn thiên thần rất nhiều) đã cho cô nghe một đoạn âm thanh truyền trực tiếp từ Bad Place. Đoạn âm thanh toàn những tiếng gào rú, và kết thúc ở câu duy nhất được nói bằng tiếng người: “Con gấu có hai cái miệng.”

    Soul mate của Eleanor ở The Good Place là Chidi, trước khi chết là một giáo sư Triết, cụ thể là về Luân lý và Đạo đức. Chidi, con người tuân thủ các nguyên tắc đạo đức một cách cứng nhắc đến mức khiến mọi người xung quanh phát phiền ấy lại lỡ hứa với Eleanor rằng sẽ luôn đứng về phía cô, trước khi được Eleanor tiết lộ rằng cô có mặt ở đó chỉ là do nhầm lẫn. Kể từ đó anh ta bị những nguyên tắc đạo đức của chính mình giày vò.

    Phim có vài nhân vật nữa, và ai cũng có thể có mọi thứ mình muốn nhưng vẫn thấy cuộc sống ở The Good Place thật khốn khổ, về mặt tâm lý. Cuối cùng, khi sự khốn khổ của họ lên đến đỉnh điểm, Eleanor phát hiện ra rằng họ thực chất đang sống trong The Bad Place, dưới lớp vỏ thiên đường. “The Good Place” thực ra là một kế hoạch tinh vi được dàn dựng để giày vò tinh thần của những người được chọn, một dạng Bad Place mới đang được thử nghiệm.

    Đó mới chỉ là một phần của season 1. Series này còn rất dài, và còn rất nhiều điểm vô lý, nhưng tới đoạn vừa rồi thì thực sự đáng xem.

    Có một điều thú vị ở The Good Place: mặc dù các nhân vật rõ ràng là bị tra tấn, và họ biết mình khốn khổ, nhưng họ tra tấn lẫn nhau. Các bạn demons chỉ làm nhân vật phụ cho vở kịch. Ngoài đời cũng có nhiều vở kịch như vậy.

    Họ không nhận ra đó không phải thiên đường, vì địa ngục nhìn không khác gì thiên đường.

    Khẩu trang

    Vào thời kỳ đầu của dịch Covid, ở Mỹ có khuyến cáo rằng người dân không nên dùng khẩu trang. Họ đúng và sai.

    Họ đúng vì khẩu trang không giúp người đeo tránh nhiễm virus. Nếu dùng khẩu trang như N95 thì may ra. Các loại khẩu trang thông thường không đủ kín để ngăn virus. Nếu mục tiêu của việc đeo khẩu trang là để tránh nhiễm virus, và có thể chắc chắn là đeo khẩu trang không tránh được, thì đeo để làm gì?

    Họ sai vì vấn đề không phải là làm cho bản thân vượt qua đại dịch, mà là làm cho loài người vượt qua đại dịch. Với cùng một cách tư duy như những người không đeo khẩu trang vì đeo khẩu trang không ngăn được việc nhiễm virus, trong câu chuyện đầu tiên, có lẽ tất cả mọi người ở dưới địa ngục không nên ăn mỳ, nếu mỳ chỉ có thể được ăn bằng đũa và không thể dùng đũa mà gắp mỳ cho bản thân một cách gọn gàng được.

    Câu chuyện là, người ta có thể không làm no bụng mình, nhưng có thể góp phần làm tất cả mọi người, trong đó có bản thân, no bụng. Khi họ hiểu ra điều đó, địa ngục biến thành thiên đường. Hay đúng hơn, nơi họ sống biến thành thiên đường, vốn dĩ nó không phải là địa ngục.

    Đeo khẩu trang không ngăn được virus thâm nhập cơ thể, nhưng lại vô cùng hiệu quả để chặn các giọt bắn của bản thân. Ta đeo khẩu trang là vì sức khỏe của mọi người, rồi mới đến sức khỏe của ta. Dù có hiểu hay không thì đó là việc đang diễn ra. Ở đây, cách tốt nhất để no bụng là gắp thức ăn cho người khác. Càng nhiều người hiểu ra điều ấy, chúng ta càng tiến gần hơn tới thiên đường.

    Bài viết này lại không có tên. Những suy nghĩ lan man lại tình cờ có vẻ rất liên quan.

    21220

    Tiếng Việt

    Tôi dạy tiếng Việt cho một bác người Nhật. Bác ấy hiểu được có lẽ khoảng năm thứ tiếng, nhưng rất khiêm tốn, và rất vui tính. Thỉnh thoảng bác ấy dùng Google dịch và gửi cho tôi những câu mà người Việt không nói, đọc thấy hơi kỳ lạ.

    Chẳng hạn, khi đến chùa để ngắm vườn Nhật mà không có ai ở đó cả (bây giờ vì tránh dịch người ta ít đi chơi), bác ấy nhắn cho tôi: “Một mình bác độc chiếm khu vườn.” Ngày sinh nhật tôi, bác ấy viết: “Chúc mừng sinh nhật, tiền đồ mênh mang.”

    Công nghệ

    Bác Takaoka thích ngắm vườn Nhật, kiểu vườn người ta hay làm trong các dinh thự ngày xưa, hoặc trong các ngôi chùa. Bác nói ngắm vườn làm bác cảm thấy thoải mái.

    Bây giờ vườn hay chùa thường chẳng có người, nhưng trước đây thì rất đông, đặc biệt là ở Kyoto nơi bác ấy sống.
    Bác ấy kể, một lần khi đang ngắm cảnh và thấy mọi người giơ máy ảnh và điện thoại chụp liên tục, bác ấy nghĩ: “Máy móc bây giờ hiện đại thật, điều khiển được con người chụp ảnh. Tuyệt thật.”

    Có những ngày tôi đi ngắm cảnh và chụp gần ngàn tấm. Tôi thì vẫn nghĩ là đi ngắm cảnh, nhưng khách quan mà nói thì đó là ngày những chiếc máy ảnh của tôi đi chụp ảnh, chứ không phải tôi đi ngắm cảnh.

    210213

    Bài viết này từng có tiêu đề là “Những lựa chọn vô thức.” Thực ra ban đầu tôi chỉ viết vì muốn viết, và không có chủ đề nào. Tình cờ một vài suy nghĩ vụn vặt lại có vẻ rất liên quan và được giữ lại thành một bài viết có tên. Tuy nhiên, chúng thật sự là không liên quan đến thế, và vì vậy bài viết này không còn tên nữa.

    Default Option

    Trong một bảng hỏi gửi cho người dân một nước ở châu Âu có câu hỏi về việc hiến tạng. Bảng hỏi đó không phải chỉ khảo sát ý kiến, nó mang tính pháp lý. Ban đầu, câu hỏi rất trực tiếp: Nếu bạn gặp tai nạn giao thông và không qua khỏi, bạn có sẵn sàng hiến tạng không? Nếu đồng ý, người được hỏi sẽ đánh dấu, nếu không họ chỉ cần bỏ qua. Trong nhiều năm chỉ có một vài phần trăm đồng ý.

    Vì một lý do nào đó, người ta thay đổi câu hỏi thành: Nếu bạn gặp tai nạn giao thông và không qua khỏi, bạn có phản đối việc sử dụng nội tạng của bạn để cứu người không? Lần này, vẫn là đất nước đó, vẫn là nền văn hóa đó, tỷ lệ người đồng ý hiến tạng tăng lên thành 80-90%. Kết quả khác nhau, nhưng cách trả lời giống nhau: đa số không đánh dấu tick. Đa số không cảm thấy cần thiết phải thay đổi lựa chọn mặc định.

    Tôi không còn nhớ đất nước đó là nước nào, tôi cũng không còn nhớ tôi đọc được câu chuyện trên trong cuốn sách nào (Tôi từng dành nhiều thời gian đọc sách về tâm lý học.), nhưng bí mật mà “thí nghiệm” đó đã mở ra về hành vi lựa chọn của con người thì tôi không thể quên. Có rất nhiều việc chúng ta làm không phải vì bản chất lương thiện hay ác độc, không phải vì chúng ta là người có ý chí hay bạc nhược, không phải vì ta là người có trách nhiệm hay buông thả, mà chỉ là vì đó là lựa chọn dễ dàng nhất. Thay đổi lúc nào cũng là một lựa chọn khó khăn, dù là thay đổi chỉ một lựa chọn mặc định, đặc biệt là khi ta thấy kết quả cũng chẳng đáng quan tâm lắm. Với một số người trong thí nghiệm ban đầu, khi đã chết rồi thì hiến tạng hay không cũng chẳng quan trọng.

    Human behavior manipulation

    Nếu kết luận từ thí nghiệm ở trên là đúng, thì ta có thể dùng nó để thay đổi hành vi của con người. Có lẽ trong cùng một cuốn sách, họ đã mô tả thí nghiệm tiếp theo: trong một căng tin, lượng tiêu thụ Coca đang lớn hơn lượng tiêu thụ nước rất nhiều. Người ta nghĩ không hẳn vì mọi người thích Coca mà chỉ là vì từ cửa vào đi đến bình nước thì mất công hơn so với đến chỗ máy bán Coca. Họ thay đổi vị trí hai thứ đó, và lượng tiêu thụ nước tăng lên cao hơn cả mức dự đoán. Uống nước trở nên dễ dàng, và trở thành lựa chọn mặc định. Con người thật sự có thể bị thao túng hành vi bởi những lựa chọn mặc định kiểu ấy, ít nhất, cho những quyết định mà người ta không nghĩ rằng có ảnh hưởng sâu sắc. Những người dùng căng tin kia không thấy việc uống gì là quan trọng, nhưng về lâu dài, uống nước thay vì Coca tốt hơn nhiều cho sức khỏe.

    Tôi cũng thử làm những thứ như vậy với bản thân. Tôi để tạ tay gần lò vi sóng, và mỗi lần chờ đồ uống nóng lên tôi lại nâng tạ một chút, vì đó là lựa chọn rất tự nhiên và dễ dàng. Khi tôi mở trình duyệt, tab nhật ký công việc cũng được khởi động cùng, vì thế tôi không quên cập nhật mỗi ngày (nhật ký chỉ bắt buộc cho người mới, nhưng tôi thấy nó hữu ích nên đã tiếp tục viết ngay cả sau khi kết thúc OJT. Vì đó không phải là việc bắt buộc nên tôi có thể quên.)

    Empires built on default options

    Nghe nói rằng một trong số những người tạo ra Android khi phải rời khỏi Google sau những cáo buộc về lạm dụng tình dục đã được trả hàng trăm triệu đô la, như một sự ghi nhận đóng góp của ông ta đối với công ty, dù Google không có nghĩa vụ phải trả khoản đó cho một nhân viên bị đuổi việc.

    Tôi nghĩ ông ta đáng được trả nhiều hơn. Tôi nghĩ rằng thứ giá trị thứ hai mà Google sở hữu, sau công cụ tìm kiếm, là hệ điều hành Android. Máy tìm kiếm của Google giống như những trái táo ngon ngọt giúp công ty hái ra tiền. Nhưng táo ngon mà người tiêu dùng không biết tới thì cũng chẳng ai ăn. Google đảm bảo điều đó không xảy ra bằng cách xếp táo lên những kệ dễ thấy nhất ở siêu thị, để nếu người ta muốn ăn quả gì thì đó sẽ là lựa chọn mặc định. Tầm quan trọng của Android thể hiện ở đây: Nó giống như hệ thống siêu thị nhượng quyền được nhiều người yêu thích. Nhờ việc sở hữu Android mà Google có thể thích xếp táo lên đâu tùy thích và ép bên nhận nhượng quyền (các nhà sản xuất điện thoại) làm nhiều thứ. (Điều này dẫn tới một vài vụ kiện chống độc quyền mà Google đã thua.)

    Google là một đế chế. Chrome hay Android cũng chỉ là công cụ để họ kiểm soát người dùng. Lượng người dùng lớn là mục tiêu dễ hiểu đầu tiên của các tập đoàn công nghệ. Làm thế nào để người dùng chọn dịch vụ của họ? Thay vì cạnh tranh đơn thuần, họ thao túng người dùng chọn dịch vụ của họ bằng một thao tác đơn giản: biến dịch vụ ấy thành mặc định. Chẳng hạn, có lẽ mọi người thích Google Search hơn, nhưng thị phần của Bing cũng không nhỏ. Hay, tôi nghĩ là Chrome thì nhanh hơn Safari, nhưng không có nhiều người dùng Apple thấy cần đổi trình duyệt. Chỉ cần trình duyệt đáp ứng được một số yêu cầu, thì với phần lớn người dùng, cái nào cũng được. Và những yêu cầu ấy đại đa số trình duyệt ngày nay đều đáp ứng được. Ngay cả trình duyệt Internet Explorer, vốn nổi tiếng chậm, cũng đã từng chiếm thị phần cực lớn. Vì sao thế? Nó là trình duyệt mặc định của Windows, “hệ thống siêu thị” của Microsoft. Tất nhiên, nếu mặc định quá tệ thì người ta cũng sẽ thay đổi lựa chọn, vì thế mà Edge ra đời.

    Công ty nào cũng muốn tối đa hóa lợi nhuận với việc giữ người dùng trong vương quốc của mình, nếu có thể, cái thứ họ tạo ra thường được gọi là “hệ sinh thái”. Hệ sinh thái mà một công ty tạo ra thường rất mượt mà, nếu không có thứ gì từ bên ngoài. Nhiều người dùng iPhone đơn giản là vì họ có Macbook, và ngược lại. Windows và Android không được chào đón ở thế giới ấy, hoàn toàn không phải vì lý do kỹ thuật.

    Nắm giữ nền tảng phần mềm thì tốt, nhưng nắm giữ nền tảng phần cứng thì tốt hơn. Tự xây siêu thị của mình còn tốt hơn có nhiều siêu thị trong chuỗi nhượng quyền. Vì thế mà các tập đoàn như Alphabet hay Microsoft rất hào hứng với mảng phần cứng. Amazon tạo ra Fire tablet với cấu hình tầm tầm và giá hủy diệt, chắc mục đích chính không phải là lợi nhuận do việc bán Fire trực tiếp tạo ra. Có lẽ còn rất lâu mới đến ngày cấu hình của Fire được nâng cấp lên đến mức flagship. Nhiệm vụ của Fire có lẽ chỉ là giúp phần cứng của Amazon thâm nhập thế giới của đủ nhiều người, khi ấy thì những thứ “default option” trên Fire có thể đem lại cho Amazon những lợi ích khó mà đo đếm được.

    Titans clash

    Ở phiên bản iOS mới, khi mở Facebook, người dùng sẽ thấy một pop-up hiện lên hỏi họ có cho phép Facebook thu thập thông tin của họ không. Có lẽ không ai muốn bị theo dõi. Fb cũng hiểu như vậy nên họ phản đối kịch liệt và tuyên chiến với Apple. Có điều, nếu mô hình kinh doanh của bạn dựa trên một việc đi ngược lại ý muốn của người dùng, thì vấn đề là ở mô hình kinh doanh của bạn, chứ không phải ở người lôi chuyện đó ra ánh sáng. Hành động của Fb giống như vừa ăn cướp vừa la làng.

    Thực ra, chuyện thu thập dữ liệu người dùng thì Fb đã làm từ ngày xửa ngày xưa, âm thầm và lén lút. Lựa chọn mặc định của đa số mọi người khi đọc điều khoản bảo mật là bỏ qua và chọn đồng ý. Người ta dùng vì muốn dùng, không phải vì người ta đồng ý với điều khoản, thứ mà nếu nghĩ kỹ ai cũng sẽ thấy có điểm ngược với ý muốn của họ. Fb đã lớn mạnh lên như thế. Rồi một ngày, Apple hỏi người dùng của Fb: bạn có thật sự đồng ý cho họ làm những điều mà từ trước đến nay bạn vẫn (vô thức) đồng ý không? Phản ứng của Fb cho thấy rằng đối với họ, sự minh bạch là một sự xâm hại quyền lợi trắng trợn. Biết làm sao được, rất nhiều kẻ ác thật sự không bao giờ nghĩ bản thân là kẻ ác.

    The power of small choices

    Một lựa chọn mặc định, thường bị bỏ qua, của rất nhiều người trong chúng ta, lại liên quan đến một cuộc chiến nhiều trillion đô la như thế. Mỗi ngày, chúng ta thực hiện vô số quyết định mà-không-hề-suy-nghĩ. Trong số ấy rất có thể có những quyết định liên quan đến sự sống chết của người khác, như tùy chọn có hiến tạng hay không, có những quyết định liên quan đến cả một ngành dịch vụ, như những điều khoản ta vẫn chọn đồng ý mỗi ngày. Rất có thể, có những điều nhỏ bé mà nếu dành thời gian suy nghĩ, ta có thể quyết định khác đi, và làm cho thế giới này trở nên một chút tốt đẹp hơn.

    Chặng đường của những bức ảnh năm qua

    Năm 2017, Kim cho phóng tên lửa bay qua Hokkaido.

    Tôi thích chụp ảnh từ lúc còn nhỏ, chụp ảnh lúc nào cũng vui. Nói chung tôi nghĩ không cần chuyên nghiệp hơn, chỉ cần chụp được những bức ảnh (mà mình tự thấy) đẹp là tôi thấy vui. Nhưng rồi tôi tò mò, cảm giác của một photographer lúc chụp ra những bức ảnh mà họ thấy đẹp, những ảnh mà tôi không thể chụp được, liệu có vui hơn cảm giác vui của tôi không.

    Khi Kim phóng tên lửa, tôi nghĩ rằng không thể loại trừ khả năng tôi sẽ không bao giờ biết được cảm giác ấy. Mùa hè năm đó, tôi đã mua chiếc full-frame đầu tiên trong đời, và học chụp ảnh. Chụp nghiêm túc 🙂

    Tôi vẫn không có ý định trở thành nhiếp ảnh gia, nhưng tôi chụp rất nhiều. Khi Cartier-Bresson nói về 10.000 bức ảnh đầu tiên, có lẽ ông ấy không biết rằng sau này sẽ có một thứ gọi là máy ảnh số. Bây giờ, trong tài khoản GG Photos của tôi có hơn 180.000 bức ảnh. Tất nhiên tôi thấy còn nhiều điều phải học, để có thể chụp được những bức ảnh khiến mình hạnh phúc hơn. Nhưng mặt khác, tôi cũng thấy bây giờ so với những ngày đầu, chụp những bức ảnh dở đã trở thành một việc khó hơn nhiều.

    Khi chụp ảnh thì cũng giống như nhiều người, tôi muốn chúng được người khác xem. Tôi tìm được một nơi khá bất ngờ để show ảnh: Google Maps. Mỗi khi bạn chuẩn bị đến một địa điểm mới, bạn có xem ảnh trên gg maps không? Nếu có thì bạn cũng giống rất nhiều người. Thỉnh thoảng tôi đăng ảnh những nơi tôi đã từng đi qua lên gg maps. Căn hộ nơi tôi sống, những công viên gần nhà, trường đại học của tôi, công ty tôi, tất cả những địa điểm đó trên gg maps đều có rất nhiều ảnh của tôi. Tôi hoàn toàn hiểu nếu thỉnh thoảng có ai tưởng công ty tôi là một địa điểm du lịch khi xem ảnh trên gg maps. Tất cả ảnh trên đó, nếu không phải do gg, thì là do tôi chụp. Thỉnh thoảng, những ảnh của tôi được chọn là featured photo của một địa điểm. Trước khi tốt nghiệp, tôi phát hiện featured photo của trường là do tôi chụp. Tất cả mọi người xem ảnh trường tôi trên gg maps đều sẽ xem ảnh tôi chụp đầu tiên. Vì thế, tôi biết khá rõ có bao nhiêu người tìm trường tôi trên gg maps hàng tháng: 1.5 triệu. Sau một năm, riêng bức ảnh campus chính đã được xem 18 triệu lần. Thuật toán của gg maps chọn ảnh như thế nào thì tôi cũng không rõ, nhưng featured photo của campus thứ hai cũng do tôi chụp nốt. Việc ảnh mình chụp trở nên phổ biến không làm tôi giàu lên, nhưng nó làm tôi rất vui.

    Hồi xưa có lần tôi đọc được một bài chia sẻ của một photography enthusiast. Cô ấy rất vui vì ảnh đã được featured trên Unsplash, coi đó như một sự công nhận. Bẵng đi một thời gian, một hôm có một bạn trẻ comment dưới bài viết của tôi rằng nếu cần ảnh chất lượng cao hãy tìm trên Unsplash. Tôi không có nhu cầu ấy, nhưng comment đó nhắc tôi về trang web đó. Thế là tôi làm một phép thử. Tôi đăng vài bức ảnh yêu thích mới chụp vài ngày trước lên Unsplash. Một vài ngày trôi qua, không có thông báo gì. Tôi đã hơi thất vọng. Nhưng mấy hôm trước, tôi phát hiện ra ảnh đã được duyệt, họ chỉ làm việc chậm mà thôi. Bây giờ tôi có một trang profile trên Unsplash. Mặc dù tôi không định dùng trang đó nhiều, phép thử thành công làm tôi rất vui.

    Khi tôi mới bắt đầu học chụp ảnh, tôi thấy có mấy tiền bối trong trường đang dùng DSLR và hỏi họ những thắc mắc của mình. Nhưng câu trả lời điển hình là thế này. Hỏi: “Làm thế nào để chụp được vật ở xa?”, Đáp: “Hãy dùng ống kính dài là được.” Thường thì học từ người đi trước là nhanh nhất, nhưng không phải là trường hợp này, hoặc tôi đã tìm sai người đi trước. Thỉnh thoảng, ta có thể gặp những tiền bối tốt, như anh Josh Ho chẳng hạn, nhưng đó là một điều không chắc chắn. Tôi cũng cố gắng tìm hiểu nhiều thứ trên mạng, và phát hiện ra hướng dẫn bằng tiếng Anh không phải lúc nào cũng dễ tìm, hướng dẫn bằng tiếng Việt thì hoặc là không có, hoặc là khó tìm đến đáng kinh ngạc. Ban đầu tôi đã thử tìm hiểu bằng tiếng Việt, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra các bài viết thường lặp đi lặp lại vài điều cơ bản, chẳng hạn như exposure triangle. Còn những thứ tôi muốn biết, như là tại sao các giá trị khẩu độ lại không tròn, tại sao ISO được gọi là speed, thì khó mà tìm thấy. Vì thế, năm ngoái tôi bắt đầu viết blog về cách chụp ảnh, bằng tiếng Việt.

    Tôi thường giải thích những kiến thức cần thiết, những điều chính tôi từng thắc mắc, và link đến những trang sẽ giải thích sâu hơn, nếu bạn đọc cần. Tôi nghĩ rằng những bài viết ấy sẽ có ích cho những bạn giống tôi khi mới bắt đầu, và đặc biệt có ích cho những bạn không đọc tiếng Anh. Cảm giác có thể giúp ích cho người khác, là một cảm giác rất tốt. Cảm giác dùng hình mình tự tay chụp để làm minh họa, và có nhiều người thấy chúng, cũng là một cảm giác rất tốt. Tôi thích viết blog, một phần vì những cảm giác đó.

    Gần đây, nhiều người khen ảnh tôi chụp đẹp. Yuko nói rằng những bức hình của tôi làm cô ấy thấy bình yên và được chữa lành. Một người bạn ở HoF nói rằng những bức ảnh của tôi làm cô ấy cảm thấy như khám phá ra một thế giới khác. Một người bạn trên WordPress cảm ơn tôi vì ảnh tôi chụp làm cô ấy nhớ lại những bức ảnh trên những quyển lịch ngày xưa. Khi thứ tự tay ta làm ra khiến ta thấy vui, đó là một điều hạnh phúc. Khi những thứ đó cũng làm bạn bè của ta thấy vui và đem đến cho họ một điều gì đó tốt đẹp, đó là hạnh phúc bình phương. Khi một thú vui có thể làm ta vui đến thế, ta còn cần trông đợi gì hơn?

    ISO speed

    ISO speed là một thông số cơ bản cần được thiết lập khi chụp mỗi bức ảnh. Rất nhiều người hiểu nó là gì, nhưng có lẽ không nhiều người hiểu tại sao nó được gọi như vậy. Lần đầu tiên biết tới thông số này, tôi đã băn khoăn không biết ISO có liên quan gì đến tổ chức tiêu chuẩn quốc tế không, và tại sao nó được gọi là speed. Câu hỏi thứ hai không dễ trả lời. Trong bài giảng về các thông số của máy ảnh ở lớp Computer Vision mà tôi đã dự hồi còn đi học, tôi đã hỏi thầy. Câu trả lời không được thấu đáo lắm của thầy làm tôi nghĩ rằng có lẽ ít người thật sự biết tại sao.

    Thực ra thì không biết cũng không sao hết. Người ta hoàn toàn có thể hiểu rõ về ISO speed và cài đặt chính xác khi chụp manual, mà không cần biết tại sao nó được gọi như thế. Chỉ là tôi nghĩ rằng đằng sau cái tên nào cũng có một câu chuyện, và tôi hứng thú với những câu chuyện. Thường xuyên hơn chúng ta tưởng, những câu chuyện dẫn chúng ta đi xa hơn những nơi ta muốn đến trước khi ta nghe chúng. Ta không thể thích một thứ mà ý niệm về sự tồn tại của nó chưa từng xuất hiện trong tâm trí.

    Hãy trở lại với ISO speed. Trong nhiếp ảnh có hai khái niệm mà ta sẽ gặp nhiều lần: speed và stop. Một vài chỗ trong bài viết này tôi sẽ gọi chúng là tốc độ và quãng/điểm dừng (mặc dù có vẻ đó không phải là cách dịch tốt nhất).

    Với cùng một exposure (độ phơi sáng?), thiết bị nào càng tốn ít thời gian càng được coi là có tốc độ cao. Chúng ta có fast lens là những lens có khẩu độ lớn, có khả năng đạt được cùng một độ sáng nhanh hơn so với slow lens là những lens có khẩu độ nhỏ. Với máy ảnh film, fast film là những film nhạy sáng hơn so với slow film, và do đó ảnh của chúng có thể đạt được một độ sáng nhất định nhanh hơn. Shutter speed thì có thể hiểu theo nghĩa đen, và nhanh hơn thì vẫn có nghĩa là tốn ít thời gian hơn.

    Như vậy nếu ta sử dụng các thiết bị tốc độ cao thì sẽ tốn ít thời gian hơn để đạt được cùng một exposure. Độ phơi sáng được đo bằng exposure index (sẽ được giải thích trong một bài viết khác về metering và EV), còn tốc độ được đo bằng các đơn vị khác nhau. Chẳng hạn, khẩu độ được đo dựa vào tỷ lệ với tiêu cự, ví dụ, khẩu độ f/2 có nghĩa là đường kính khẩu bằng một nửa tiêu cự. ISO speed được đo trên một thang giá trị số (không có thứ nguyên).

    Dù các tốc độ khác nhau được đo theo các cách khác nhau, chúng đều dựa trên các stop. Hiểu một cách đơn giản, cứ tăng (hoặc giảm) một stop thì độ sáng sẽ tăng gấp đôi (hoặc giảm một nửa). Việc đo dựa trên các stop giải thích cho các con số không được tròn cho lắm của giá trị ISO hay khẩu độ. Với khẩu độ, để độ sáng tăng gấp đôi thì diện tích khẩu sẽ phải tăng gấp đôi, hay là đường kính của nó phải tăng căn hai lần. Với những máy có khẩu độ không thay đổi theo full stop (hai giá trị liền nhau không chênh nhau hai lần về độ sáng), giá trị ấy cũng dựa trên các ước của một stop, chẳng hạn 1/2 hay 1/3 stop. Vì thế mà thay vì f/1, f/2, f/3, f/4, chúng ta lại thường thấy các giá trị khẩu độ f/1.4, f/2.8, f/3.2, f/4, v.v. Tương tự như vậy, các giá trị ISO liền kề cũng cho độ sáng chênh nhau 1 stop, hoặc một ước của một stop. Trên một máy ảnh mà các giá trị ISO cách nhau 1 full stop, ta sẽ thường thấy ISO 100, 200, 400, 800, … Nếu ISO cách nhau 1/3 stop thì máy sẽ có ISO 128, 164, v.v. Ở đây thì đúng là khi ISO tăng gấp đôi, độ sáng sẽ tăng gấp đôi.

    Chữ ISO trong cái tên của thông số này thật sự có liên quan đến International Standards Organization. Các thông số của ảnh số hầu hết là kế thừa từ ảnh phim. Tuy nhiên, về bản chất thì chúng khác nhau. Người ta phải quy đổi tương đương, tức là chẳng hạn với cùng một giá trị độ nhạy sáng của film (hoặc của máy ảnh) và các thông số khác giữ nguyên thì độ phơi sáng sẽ như nhau. Nói cách khác, cần có một tiêu chuẩn/thang đo dùng được chung cho cả ảnh phim và ảnh số. Độ nhạy sáng được gọi là ISO, về cơ bản là vì tổ chức ISO đã đưa ra chuẩn được dùng ngày nay. Nếu bạn muốn biết chi tiết hơn, hãy đọc ở link này.

    Với máy ảnh số, ta có thể thay đổi ISO tùy ý trước khi chụp mỗi bức ảnh. Với máy ảnh phim, không thể thay đổi ISO, vì đó là thuộc tính của film. Nếu muốn thay đổi độ nhạy sáng, ta phải thay cả cuộn phim. Phim có ISO 100, 200, … là phim có tốc độ thấp, phim có ISO 3200, 1600, …. là phim tốc độ cao. Tôi không dùng máy ảnh phim và không hiểu rõ, nhưng có vẻ phim thường chỉ có ISO đến 3200. Nếu muốn thì có thể tìm phim ISO 6400, và với máy ảnh phim thì đó là ISO rất cao. Ngược lại, máy ảnh số thường có một giá trị native ISO giống với phim, và một dải standard ISO 100 – 12800, nhưng máy có ISO 25600 hay 51200 cũng không phải là khó tìm. Native ISO là giá trị ISO tiêu chuẩn mà ở đó máy ảnh số đạt được độ chi tiết cao nhất, thường các máy Canon có native ISO khoảng 100. Standard ISO là dải ISO tiêu chuẩn, máy số có thể đạt được ISO ngoài dải standard ISO của nó. Để đạt được các giá trị ISO đó, cần phải tăng điện áp của cảm biến. Nếu bạn muốn biết rõ hơn, hãy tham khảo các link ở cuối bài này.

    Khi tăng ISO thì ảnh sẽ sáng hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là ta có thể tăng ISO tùy thích để tăng độ sáng của ảnh. Nói chung luôn có trade-off với mọi thứ, và ISO không phải ngoại lệ. ISO càng tăng thì nhiễu càng rõ, đó là một kiến thức cơ bản mà thường thì ai cũng sẽ học qua khi tìm hiểu về exposure triangle. Nhiễu của ảnh phim là gọi là grain, nhiễu của ảnh số chỉ đơn giản gọi là noise. Bản chất của chúng khác nhau, một bên là có nguồn gốc là thực thể vật lý, một bên là tín hiệu điện tử. Grain trên ảnh phim được tạo bởi các tinh thể bạc hình thành khi phim được phơi sáng, còn nhiễu trên máy ảnh số được tạo ra khi điện áp đặt lên cảm biến tăng. ISO càng cao thì các tinh thể càng lớn hoặc điện áp càng cao, và nhiễu càng hiện rõ hơn dù là ảnh phim hay ảnh số. Nhiễu hạt trên ảnh phim có đôi lúc cho cảm giác dễ chịu và có tính nghệ thuật, còn nhiễu trên ảnh số thì nói chung không bao giờ có tính thẩm mỹ.

    Để tránh nhiễu, nói chung nên đặt ISO càng thấp càng tốt. Trong trường hợp của máy phim thì film có ISO thấp sẽ ít nhiễu, trong trường hợp máy số thì cài đặt ISO ở giá trị native sẽ ít nhiễu nhất. Tuy nhiên, nói chung ta phải điều chỉnh cả shutter speed và aperture để đạt được hiệu quả mong muốn (DoF, độ nét, độ sáng, etc.), vì thế cần phải hiểu rõ về tất cả các thông số.

    Dưới dây là hai hình chụp với cùng hiệu ứng nền đen, hoàn toàn không qua chỉnh sửa mà chỉ dựa vào cài đặt khi chụp.

    2021-02-06_05-27-56
    ƒ/5.6
    1/1000
    107.6 mm
    ISO80
    2021-02-06_05-30-02
    ƒ/5.6
    1/25
     27.2 mm
     ISO1600

    Cả hai bức có nền đen như nhau, nhưng thông số rất khác nhau. Nếu chụp vào cùng một thời điểm, bức thứ hai sẽ sáng gấp 800 lần bức thứ nhất. Lý do khiến bức thứ hai không sáng đến thế là vì nó được chụp vào ban đêm, còn bức thứ nhất được chụp vào ban ngày giữa trời nắng gắt. Cả hai tấm đều không thể chụp được bằng chế độ tự động, đó là lý do mà ta cần tìm hiểu về ISO, cũng như shutter speed và aperture, ba yếu tố quyết định exposure.

    Nếu bạn muốn tìm hiểu nhiều hơn một chút, có thể tham khảo link này hoặc link này.

    Vignette

    Tại sao ống kính hình tròn mà ảnh lại có hình vuông? *

    Có lần tôi nghe câu hỏi này ở đâu đó. Đây là một câu hỏi thú vị, không phải vì nó khó. Nó quá hiển nhiên: Vì cảm biến hình vuông.

    Ảnh có hình vuông không phải là vì màn hình của chúng ta có hình vuông, mà chỉ đơn giản là vì cảm biến chỉ hứng một phần ảnh tạo bởi lens, và phần đó có hình vuông. Trong trường hợp của máy film thì là vì film cũng có hình vuông.

    Câu hỏi này thú vị ở chỗ, nó gợi ra câu hỏi tiếp theo: chuyện gì xảy ra nếu ảnh tạo bởi lens có kích thước nhỏ hơn cảm biến? Tức là, nếu ở trên phần hình tròn màu xanh lọt trong hình vuông màu vàng thì ảnh sẽ thế nào?

    Khi đó ảnh sẽ có hiệu ứng vignette: phần trung tâm sáng rõ, nhưng ảnh sẽ tối dần khi ra tới viền. Sẽ không có một ranh giới sáng tối rõ ràng, vì hình tròn kia cũng không có ranh giới rõ ràng. Lý do giống như khi xảy ra nhật thực, sẽ có vùng nhật thực bán phần, ở đó mặt trời bị che phủ một phần. Diện tích che phủ này tăng từ 0% ở ranh giới với vùng không có nhật thực, tới 100% ở vùng quan sát được nhật thực toàn phần. Đối với ảnh tạo bởi lens cũng vậy, ảnh sẽ tối dần từ tâm ra ngoài.

    Từ vignette bắt nguồn từ từ vigne trong tiếng Pháp, có nghĩa là vine. Một vài thế kỷ trước, họa tiết trang trí bằng cành nho uốn lượn xung quanh viền của trang bìa hoặc trang đề mục của các văn bản in rất phổ biến, đó là xuất xứ của cách dùng này.

    Họa tiết trang trí quanh viền làm nổi bật phần trung tâm, vignette trong nhiếp ảnh cũng giúp làm nổi bật chủ thể ở trung tâm và thêm cảm xúc cho bức ảnh. Có điều, các máy ảnh hiện đại nói chung không chụp được vignette. Hiệu ứng đó vốn dĩ là một hiệu ứng không mong muốn, và đã được loại bỏ. Nếu sử dụng thiết bị theo đúng thiết kế, chẳng hạn không cố tình lắp lens crop vào máy full frame (ví dụ bằng ngàm chuyển), thì sẽ không thấy được vignette. Cách thông thường để tạo ra vignette là can thiệp bằng phần mềm.

    Dưới đây là một vài bức ảnh ở Kyoto, đã được thêm vignette.

    2021-01-30_02-50-13
    Girls in Kimono
    Keage Incline
    2021-01-30_02-48-36
    Couple
    Togetsu Bridge, Arashiyama
    2021-01-30_02-49-09
    Afternoon talk
    Katsura River

    (*) Strictly speaking, camera lenses are cylindrical, their cross sections are circular; and sensors are rectangular, not square, but you get the idea.

    Beyond the canopy

    IMG_2660

    Bức ảnh trên được chụp vào một chiều thu trong một khu rừng nhỏ gần Ishiyama dera, nơi Murasaki Shikibu đã viết Genji Monogatari, cuốn tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới. Với tôi, đó là một bức ảnh đặc biệt, vì đó là lần đầu tiên có người chỉ cho tôi cách chụp ảnh.

    Có những chuyện rất đơn giản, nhưng tự mình làm thì khó khăn vô cùng so với khi được trợ giúp. Sự giúp đỡ có thể chỉ là một thông tin nhỏ, rất nhỏ. Cái chìa khóa cũng nhỏ vô cùng so với ngôi nhà. Khi chúng ta bắt đầu bước vào một lĩnh vực mới, có rất nhiều cánh cửa mà nếu không thể mở bằng cách này hay cách khác, chúng ta sẽ chẳng thể đi đến đâu.

    Khi tôi bắt đầu quan tâm tới nhiếp ảnh, người đã giúp tôi mở những cánh cửa đầu tiên là anh Josh Ho. Anh ấy là một trong những Good people mà tôi đã nói tới, và tôi luôn cảm thấy biết ơn anh ấy.

    Trong bức ảnh trên, có một hiệu ứng gọi là starburst. Đây là hiệu ứng khi mà một nguồn sáng hiện lên trong ảnh với hình dạng như một ngôi sao. Hiệu ứng này là kết quả của hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng, khi ánh sáng bị bẻ cong khi đi qua khe hẹp tạo bởi các lá khẩu.

    Starburst được nhìn thấy rõ nhất khi quanh nguồn sáng là một nền tối màu hơn. Thực tế là các “cánh sao” vẫn tồn tại, nhưng chúng ta sẽ không nhìn thấy chúng nếu nền quá sáng.

    Sunrise

    Ví dụ trong bức ảnh bình minh ở trên, phần cánh sao phía dưới dãy núi được thấy rõ hơn chỉ vì xuất hiện trên nền tối hơn.

    Làm thế nào để tạo ra hiệu ứng này? Chìa khóa ở đây là thu hẹp khẩu độ. Khẩu độ càng nhỏ thì ngôi sao càng hiện lên rõ ràng. Kinh nghiệm của tôi là ngôi sao có thể bắt đầu xuất hiện ở f/10 và đẹp nhất ở f/18 – f/22. Những giá trị này có thể thay đổi với các thiết bị khác nhau, bạn nên làm nhiều “thí nghiệm” nếu mới bắt đầu chụp starburst. Một vài bức ảnh trong bài này được chụp ở f/32.

    Tất nhiên cần phải điều chỉnh ISO và tốc độ màn trập để ảnh không quá tối, nhưng hiệu ứng này được tạo ra bởi khẩu độ chứ không phải hai thứ kia. Chuyện đơn giản này nếu không phải là anh Josh Ho chỉ cho thì không biết tới khi nào tôi mới biết.

    Starburst xuất hiện phổ biến nhất trong ảnh chụp các nguồn sáng vào ban đêm và mặt trời sau tán lá, vì trong những trường hợp ấy ta có một nền tối tự nhiên. Dưới đây là vài tấm ảnh starburst với tán cây mà tôi thấy thích. Vì một sự ngẫu nhiên nào đó mà tất cả đều đã được chụp vào mùa thu.

    momiji-tori-15Nov20--735
    Momiji15Nov20_342
    IMG_4056
    Momiji15Nov20_306
    Momiji15Nov20_319
    Momiji15Nov20_289
    Momiji15Nov20_332-01

    冬の窓

    冬のおかげで、この窓の向こうの部屋は暖かくなった。

    人々がその暖かさの中で一緒に多くの時間を過ごすのを手伝ってくれた雪に感謝する。

    Snow9Jan21_282
    2021-01-17_06-24-37
    2021-01-12_07-24-15
    2021-01-12_07-40-32

    青い空

    日本海側に住んでいます。今年は例年より雪が沢山降っています。空がほとんどいつも白いです。

    空はめったに青くないですが、そういうときには、とても綺麗です。

    白い雪を背景にした青い空が、素晴らしいです。

    snow20_836
    snow20_835
    snow20_834
    snow20_831
    snow20_825
    snow20_831(1)
    Shokuba
    snow20_830
    snow20_828
    snow20_830(1)
    snow20_827
    snow20_826
    snow20_824
    snow20_823
    snow20_822
    snow20_815
    snow20_814
    snow20_813
    snow20_806
    Snow_2020_995
    Snow_2020_008

    季節の移り変わり

    秋がまだ終わっていないけど、

    冬が素晴らしい景色を持ってきた

    早走りで来たけど、贈り物を忘れない

    冬は、本当に、気が利く

    Hatsuyuki_781
    Hatsuyuki_890
    20Dec20_935
    20Dec20_990
    20Dec20_908
    Hatsuyuki_859
    20Dec20_924
    20Dec20_030
    20Dec20_900
    Hatsuyuki_893
    20Dec20_927
    Hatsuyuki_759
    20Dec20_950
    Hatsuyuki_892
    20Dec20_937
    Hatsuyuki_862
    20Dec20_947
    20Dec20_989
    Hatsuyuki_885
    20Dec20_927
    20Dec20_941
    Hatsuyuki_863
    20Dec20_938
    Hatsuyuki_891

    A winter night

    普通の日
    仕事から帰ってきた
    おなじみの駅構内は雪で完全に覆われていた
    雪はすべてをおとぎ話のように変えた

    snow20_885
    snow20_849
    snow20_857
    snow20_870
    snow20_869
    snow20_865
    snow20_868
    snow20_867
    snow20_866
    snow20_864
    snow20_863
    snow20_862
    snow20_860
    snow20_855
    snow20_854
    snow20_847
    snow20_845
    snow20_886_2
    snow20_881
    snow20_880
    snow20_872
    snow20_871
    snow20_873
    snow20_878
    snow20_877
    snow20_876

    Birds

    Mấy tuần trước, khi chị Mitaru đến Toyama, có lần chị ấy hỏi vu vơ không biết người ta làm thế nào mà có thể chụp được chim đang tung cánh hay thế nhỉ. Tôi nghĩ không cần dùng thiết bị gì đặc biệt, và ai cũng chụp được, có điều tôi chưa chụp bao giờ. Cuối tuần của tuần tiếp theo, lúc đi dạo gần bờ sông Ida, tôi thấy rất nhiều Kamo. Đúng là khi ta nghĩ về thứ gì đó thì nó thường hay tự nhiên xuất hiện.

    Fly_1851_2
    Fly_1855_2
    Kamo ở Idagawa

    Hai bức trên chụp những chú chim lúc vừa bay lên khỏi mặt nước. Để chụp được như vậy chỉ cần chú ý tốc độ màn trập và chế độ lấy nét.

    Vì chim thường vỗ cánh nhanh, nên tốt nhất nên để tốc độ màn trập cao. Không giống như khi chụp ảnh mưa, tốc độ thấp trong trường hợp này không tạo ra hiệu ứng gì tốt.

    Tuy nhiên, tốc độ cao đồng nghĩa với ít ánh sáng. Để ảnh sáng hơn ta có thể tăng khẩu độ và tăng ISO. Cả hai giải pháp này đều có giới hạn của nó. Nếu tăng khẩu độ lên quá lớn thì DoF sẽ mỏng và có thể không lấy nét hết được chủ thể. Hình đầu tiên ở trên thực sự bị mờ ở phần cánh do trường ảnh quá mỏng. ISO cũng chỉ tăng được đến một mức nào đó trước khi ảnh bị nhiễu quá nặng. Với DSLR chụp vào ban ngày thì tăng ISO không phải vấn đề lớn lắm. ISO đến 6400 nhìn vẫn chưa thấy nhiễu.

    Để lấy nét chú chim đang chuyển động thì nên dùng thiết bị có khả năng bám vật thể. Trên máy Canon mà tôi dùng có ba chế độ lấy nét là single focus, AI servo và AI focus. Chế độ đầu tiên thích hợp chụp vật thể tĩnh, chế độ thứ hai thích hợp cho vật chuyển động, và chế độ thứ ba là chế độ thông minh, tự động chuyển đổi giữa hai chế độ trên. Ở AI servo, khi vật chuyển động thì điểm lấy nét cũng có thể thay đổi theo và vật luôn được focus.

    Bây giờ tuyết rơi dày và chim đã đi tránh rét. Khi chúng trở lại, tôi sẽ rất vui nếu được đi dạo và chụp ảnh chúng cùng với chị Mitaru. Khi cầm máy ảnh lên, tôi thấy chúng tôi giống hệt nhau. Tìm được một người bạn cùng sở thích hóa ra đã không dễ như tôi tưởng.

    初雪

    昨日から、富山で雪が降っている。富山に引越してから、初めて雪が降るのをみた。初雪だったが、京都で一番強く降った時と同じぐらいです。

    あまり雪を見る機会のないの私にとって、とても楽しいけど、長い間富山に住んでいる同僚は、そうではない。交通機関に影響がでて、とても不便だそうだ。

    それでも、私は、雪を見るのが大好き。雪が綺麗だと思うから。

    Hatsuyuki_863
    Hatsuyuki_791
    Hatsuyuki_799
    Hatsuyuki_808
    Hatsuyuki_810
    Hatsuyuki_812
    Hatsuyuki_831
    Hatsuyuki_813
    Hatsuyuki_817
    Hatsuyuki_818
    Hatsuyuki_820
    Hatsuyuki_819
    Hatsuyuki_823
    Hatsuyuki_902
    Hatsuyuki_825
    Hatsuyuki_790
    Hatsuyuki_830
    Hatsuyuki_833
    Hatsuyuki_869
    Hatsuyuki_834
    Hatsuyuki_792
    Hatsuyuki_835
    Hatsuyuki_836
    Hatsuyuki_841
    Hatsuyuki_842
    Hatsuyuki_843
    DSC_0170
    Hatsuyuki_850 (1)
    Hatsuyuki_877
    Hatsuyuki_851
    Hatsuyuki_849
    Hatsuyuki_853
    Hatsuyuki_854
    Hatsuyuki_796
    Hatsuyuki_855
    Hatsuyuki_859
    Hatsuyuki_865
    Hatsuyuki_868
    Hatsuyuki_832
    Hatsuyuki_856
    Hatsuyuki_880
    Hatsuyuki_879
    Hatsuyuki_885
    Hatsuyuki_907
    DSC_0154
    Hatsuyuki_890
    Hatsuyuki_888
    Hatsuyuki_903
    DSC_0174
    DSC_0134
    DSC_0173
    DSC_0138
    DSC_0155
    DSC_0164
    DSC_0167
    DSC_0175
    Hatsuyuki_766
    Hatsuyuki_759
    Hatsuyuki_775
    Hatsuyuki_780
    Hatsuyuki_781
    Hatsuyuki_783
    Hatsuyuki_789
    Hatsuyuki_784
    Hatsuyuki_891
    DSC_0171

    立山

    11Dec20_619

    Hình trên là Tateyama nhìn từ Yatsuomachi. Tateyama là một trong số những ngọn núi cao nhất Nhật Bản. Cùng với núi Phú Sỹ và núi Haku, Tateyama là một trong ba ngọn núi thiêng của Nhật (三霊山). Vì Tateyama gồm nhiều đỉnh núi, thực ra cách gọi đúng hơn là dãy Tateyama (立山連峰) chứ không phải là ngọn Tateyama (立山), mặc dù danh từ Tateyama thường được dùng hơn.

    Cách thông thường để đến Tateyama từ Toyama là đi đến thị trấn Tateyama, cách ga trung tâm khoảng hai giờ đi tàu. Từ đây có thể đi đến các địa điểm dọc theo dãy Tateyama bằng ropeway, wagon, trolley bus, bus, etc. theo một tuyến cố định. Mỗi điểm dừng đều là điểm du lịch nổi tiếng. Thường mọi người sẽ xuất phát từ Toyama rồi đến Nagano hoặc ngược lại, vì có quá nhiều điểm dừng và không thể đi hết trong ngày. Tôi đã đến Tateyama vào một ngày thu. Dưới mặt đất có nơi lá chưa đổi màu, mà trên núi tuyết đã phủ trắng.

    Tôi may mắn có thể nhìn thấy Tateyama từ phòng mình, nhưng tầm nhìn ở bên ngoài tốt hơn rất nhiều. Tôi thường đi dạo ở gần nhà, và vào những ngày nắng đẹp thường được ngắm Tateyama. Dưới đây là vài bức ảnh chụp trong một ngày như thế.

    11Dec20_548
    11Dec20_527
    11Dec20_535
    11Dec20_544
    11Dec20_604
    11Dec20_590
    11Dec20_607
    11Dec20_579

    Mặc dù những bức ảnh trên nhìn rất bình thường, không thể chụp được chúng nếu không dùng cảm biến đặc biệt, hoặc xử lý bằng phần mềm.

    Nếu bạn thích chụp ảnh, chắc bạn đã từng có kinh nghiệm khi nhìn bên ngoài hoàn toàn bình thường, nhưng lên ảnh thì lại có một phần quá sáng, hoặc một phần quá tối đến mức không còn thấy được chi tiết gì. Chẳng hạn khi chụp ảnh trong nhà mà có một khung cửa sổ, nếu đẹp trời thì khung cửa sẽ trắng toát. Ngược lại, nếu nhìn rõ được chi tiết ngoài cửa sổ, thì bên trong nhà sẽ tối đen. Dù bạn có cài đặt thông số như thế nào đi chăng nữa, bức ảnh trong trường hợp này không thể giống như mắt bạn nhìn được. Vấn đề không phải do kỹ thuật chụp ảnh của bạn, mà là do não người xử lý hình ảnh quá tốt. Trong khi mọi máy ảnh sẽ cho ra ảnh có chênh lệch độ sáng giữa các vùng lớn như vậy, thì não người lại có thể xử lý để nhìn rõ toàn bộ.

    Vậy nếu bạn muốn ghi lại hình ảnh trong những trường hợp như vậy thì làm thế nào?

    Cách đơn giản nhất là dùng một phần mềm bất kỳ, tăng Shadow và giảm Highlight của bức ảnh. Khi tăng Shadow, các vùng tối sẽ sáng lên. Khi giảm Highlight, các vùng sáng sẽ tối đi. Khi đó, bạn có thể sẽ có cảm giác bức ảnh mờ đi, nhưng có thể điều chỉnh Contrast để ảnh có vẻ rõ nét hơn.

    Một cách khác là điều chỉnh cả bức ảnh để tạo ra nhiều bức ảnh (tối thiểu là hai) với độ sáng khác nhau, sao cho mỗi vùng trên ảnh gốc đều có độ sáng phù hợp ở một trong số các bức ảnh mới. Sau đó xếp ảnh thành các layer trên photoshop và dùng layer mask để xóa đi những vùng có độ sáng không phù hợp trên từng bức ảnh, và cuối cùng ghép lại.

    Hai cách trên đơn giản và có thể giải quyết được vấn đề, nhưng nhiều khi bức ảnh cuối cùng sẽ không đẹp như kỳ vọng. Cách giải quyết “chính thống” trong trường hợp này là dùng HDR. Nếu bạn chưa từng nghe về HDR, hãy đọc về nó trên Wikipedia (hoặc ở đâu cũng được) trước.

    Các bức ảnh mà máy ảnh bình thường (các máy ảnh chuyên nghiệp bình thường) chụp có thể hiển thị tốt các vùng mà độ sáng nằm trong một dải (giới hạn) gọi là standard dynamic range. Dải này hẹp hơn so với dải mà con người nhìn được, do đó mới có hiện tượng bên ngoài nhìn rất đẹp nhưng lên ảnh lại có một vùng quá tối hoặc một vùng quá sáng. Để xử lý vấn đề này, người ta dùng kỹ thuật HDR (high dynamic range). Khi ấy một dải sáng rộng hơn có thể được hiển thị trên bức ảnh, và ảnh này giống với mắt người nhìn hơn.

    Có những máy ảnh dùng cảm biến chuyên biệt có thể chụp trực tiếp ảnh HDR, nhưng chúng đắt và ít chức năng. Ở đây sẽ nói về cách thông thường để chụp HDR.

    Nguyên tắc chụp HDR là chụp nhiều tấm với độ sáng (exposure) khác nhau, sau đó ghép lại thành một tấm có dải sáng rộng, thường thì ba tấm sẽ được chụp.

    Có thể chụp HDR trực tiếp trên máy ảnh ở chế độ HDR. Thực tế là máy vẫn chụp nhiều tấm và xử lý để cho ra tấm cuối cùng, nhưng toàn bộ quá trình đó được phần mềm trên máy thực hiện tự động và người chụp chỉ thấy bức ảnh cuối. Thời gian chụp HDR dài hơn so với chụp ảnh bình thường là vì máy tốn thời gian để xử lý.

    Một cách khác tốt hơn để chụp HDR là tự cài đặt vài độ sáng khác nhau, chụp nhiều tấm, sau đó dùng phần mềm để ghép lại thành HDR. Trên Photoshop có công cụ Merge to HDR có thể dùng để làm việc này. Tuy nhiên, nếu bạn dùng máy Canon và xử lý ảnh raw (những ảnh ghi lại toàn bộ thông tin cảm biến nhận được) thì nên dùng HDR Composing Tool trên DPP (digital photo professional) của Canon, hiệu quả vượt xa Photoshop. Có lẽ lý do là vì DPP được phát triển bởi cùng một công ty đã sản xuất ra cảm biến nên khai thác thông tin ghi lại bởi cảm biến tốt hơn.

    Nhân đây cũng xin nói thêm về định dạng jpeg hay jpg, định dạng ảnh phổ biến nhất hiện nay. Khi ảnh được chụp, ánh sáng đi vào cảm biến, được mã hóa thành thông tin, sau đó vi xử lý trên máy ảnh hay điện thoại biến thông tin đó thành hình ảnh. Thông tin cảm biến ghi nhận được lưu ở file raw, còn ảnh cuối cùng sau xử lý là file jpg. Có rất nhiều thông tin bị loại bỏ khi chuyển từ raw sang jpg, nên thường thì ảnh raw có dung lượng lớn hơn ảnh jpg nhiều lần, và xử lý ảnh raw cũng cho ra kết quả tốt hơn. Các máy ảnh tốt cho phép giữ lại ảnh raw ngay cả khi đã xuất ra jpg.

    Tại sao chụp nhiều tấm rồi xử lý sau lại tốt hơn so với dùng chế độ HDR trên máy (dù chụp bằng điện thoại hay máy ảnh cũng vậy)? Bởi vì chế độ HDR hiện nay chưa thông minh lắm, và khi đã ra ảnh bạn không thể điều chỉnh gì thêm. Trên Canon, sau khi ảnh HDR (định dạng jpg) được xuất ra trên máy thì tất cả ảnh raw cũng bị xóa. Ngược lại, nếu chụp nhiều ảnh, ta có thể dùng ảnh raw để tạo HDR, và điều chỉnh thêm nếu cần. Kết quả chắc chắn tốt hơn chế độ HDR tự động.

    Một vấn đề với việc chụp nhiều ảnh rồi tạo ảnh HDR sau là các ảnh được chụp có thể không khớp nhau, mà muốn có ảnh HDR thì các ảnh phải có thể chồng khít được lên nhau. Có thể giải quyết điều này bằng cách dùng tripod, hoặc dùng Exposure Bracketing. (Tất nhiên vẫn có những thay đổi nhỏ, nên sau đó vẫn cần dùng auto align, một chức năng mà phần mềm nào cũng có.) Exposure Bracketing là kỹ thuật chụp nhiều tấm giống hệt nhau, chỉ khác ở độ sáng. Nếu bạn dùng tripod và thay đổi exposure, thì về bản chất đó cũng là kỹ thuật này. Trên các máy ảnh của Canon cũng thường có chế độ này, bạn có thể chọn số ảnh và khoảng cách về độ sáng giữa chúng. Sau đó, chỉ cần chụp liên tiếp thì các bức ảnh sẽ có độ sáng như đã cài đặt trước, không cần thay đổi độ sáng một cách thủ công.

    Các bức ảnh ở trên (trừ bức thứ hai), có chênh lệch độ sáng giữa phần núi và phần rừng khá lớn. Nếu chụp bình thường thì hoặc sẽ nhìn thấy rừng và bầu trời rất sáng, hoặc nhìn thấy núi và phần rừng tối đen. Các ảnh trên đã được tạo ra bằng AEB (auto exposure bracketing) trên Canon 6D và HDR Composing Tool trên DPP4.

    Dewdrop

    Dewdrop photography has become my new favorite genre.

    I bring with me several devices capable of taking photos all the time. Recently I’ve seen dewdrop quite often and am having fun creating photos with them ^^. Actually the photos are not of high quality, as I did not use my best gear, but I do have fun taking them. And, I think, in pursuing a hobby, just being able to have fun and relax is enough.

    dewdrop (7)
    dewdrop__182
    dewdrop__470
    dewdrop__173
    dewdrop_9
    dewdrop__490-01
    dewdrop_8
    dewdrop_7
    dewdrop__499
    dewdrop_6
    dewdrop_6(1)
    dewdrop_4
    dewdrop_3~2
    dewdrop_0
    dewdrop__498
    dewdrop__170
    dewdrop__488
    dewdrop (4)
    dewdrop__491
    dewdrop__479
    dewdrop__169
    dewdrop__474
    dewdrop (2)
    dewdrop__181
    dewdrop__489
    dewdrop__180
    dewdrop (10)
    dewdrop__177
    dewdrop (12)
    dewdrop__175
    dewdrop__480
    dewdrop__471
    dewdrop__172
    dewdrop (14)
    dewdrop (11)
    dewdrop__171
    dewdrop__472
    dewdrop__160
    dewdrop (13)
    dewdrop (9)
    dewdrop (8)
    dewdrop (6)
    dewdrop (5)
    dewdrop (3)
    dewdrop (1)

    Khu vườn trong cơn mưa

    Từ một cửa sổ trong căn hộ của tôi có thể nhìn ra một khu vườn nhỏ rất đẹp. Trước khi mùa đông đến, lúc nào trong vườn cũng có hoa và ong bướm. Tôi vẫn thường ngắm khu vườn ấy từ hành lang, giống như cách mọi người ngắm cảnh từ những băng ghế ở công viên. Cảm giác những lúc ấy rất bình yên.

    Khu vườn đẹp nhất vào những ngày nắng, nhưng ngay cả trong những cơn mưa, nó cũng đẹp theo một cách riêng. Tôi không thể diễn tả vẻ đẹp ấy bằng lời, nhưng hy vọng những bức ảnh có thể giúp bạn hình dung.

    intherain_1
    intherain_11
    intherain_4
    intherain_13
    intherain_7

    intherain_6
    intherain_12
    intherain_9
    intherain_5
    intherain_2
    intherain_8
    intherain_3

    Tôi muốn nói một chút về cách chụp những bức ảnh này. Bạn có thể thấy có lúc có thể nhìn thấy giọt nước như đóng băng (cách chụp ảnh như vậy gọi là motion freezing), có lúc tạo thành một vệt sáng.

    Điều quan trọng nhất cần chú ý khi chụp những ảnh như vậy là tốc độ màn trập. Tốc độ thấp thì vật chuyển động sẽ tạo ra một vệt sáng (long exposure, thường dùng khi chụp pháo hoa, đường phố với xe cộ về đêm, chuyển động của các nguồn sáng, v.v), tốc độ cao (rất cao) sẽ tạo ra hiệu ứng “đóng băng.” Tốc độ màn trập càng cao (thời gian mở càng ngắn) thì chuyển động càng có vẻ như bị “đóng băng.”

    Nguyên tắc rất đơn giản, nhưng trên thực tế không phải chỉ cần điều chỉnh tốc độ màn trập là có thể chụp được bức ảnh như ý muốn. Khẩu độ thường được điều chỉnh cùng với tốc độ màn trập. Chẳng hạn, khi chụp phơi sáng (long exposure), khẩu độ thường được chỉnh rất nhỏ để tránh cháy sáng và tạo hiệu ứng cánh sao (starburst). Khi chụp ở tốc độ cao thì điều chỉnh khẩu độ phức tạp hơn: không được quá nhỏ vì sẽ làm bức ảnh thiếu sáng, cũng không được quá lớn vì sẽ làm nông DoF và có thể khu vực cần chụp không nét hoàn toàn. Có lẽ motion freezing khó hơn so với long exposure, vì ảnh dễ thiếu sáng do thời gian chụp ngắn và người chụp phải giải quyết vấn đề đó. Cách giải quyết thì không chỉ đơn giản là tăng ISO, vì làm thế lại tạo ra nhiễu – một vấn đề khác. Hơn nữa, trong một bức ảnh có thể có nhiều chuyển động với tốc độ khác nhau, ở cùng một tốc độ màn trập các chuyển động đó bị đóng băng ở các mức độ khác nhau, vì thế tính toán tốc độ cũng sẽ khó hơn. Chẳng hạn, trong những bức ảnh ở trên, tốc độ mưa rơi thay đổi theo thời gian, và ở cùng một thời điểm, tốc độ của các giọt nước rơi từ mái nhà và tốc độ mưa rơi lại khác nhau.

    Với thời gian và kinh nghiệm, tất cả những điều đó sẽ dần không còn khó nữa. Dù vậy, tôi chụp hầu hết những bức ảnh (mà tôi cho là) tốt với sự may mắn. Chẳng hạn, bức ảnh đầu tiên được chụp khi trời mưa nhưng lại có nắng khá mạnh.

    Việc chụp ảnh cho chúng ta thấy rằng thế giới không phải như chúng ta thấy, và tôi thấy điều đó thú vị. Nếu ta có thể ghi lại hình ảnh của một giọt nước mưa đang rơi như một giọt nước đứng yên, và cũng có thể ghi lại nó như một vệt sáng, thì thực sự nó là gì? Cả hai thứ đó, một giọt nước đứng yên, và một vệt sáng, đều khác với thứ mà mắt ta nhìn thấy (thời gian lưu ảnh trên võng mạc là khoảng 0.1s, hình ảnh chụp ở tốc độ màn trập đó sẽ có hình dạng gần với thứ mà ta nhìn thấy. Các ảnh ở trên đều được chụp ở tốc độ vài phần trăm/ngàn giây, thông số chính xác của từng ảnh bạn có thể xem bằng cách mở nó trên Flickr).

    Chỉ vì ta thấy một thứ như thế, không có nghĩa bản chất của nó là như thế. Một vài trong số chúng ta thậm chí không thấy, mà chỉ nghĩ, và cho rằng thế giới giống như mình nghĩ. Có lẽ nếu mọi người đều tìm hiểu về nhiếp ảnh, sẽ có ít đi những suy nghĩ như vậy ^ ^

    Morning dew

    Nhiều buổi sớm mai, tôi thấy mình đứng bên một hàng rào, hay một bụi cỏ, ngắm những giọt sương qua ống kính. Đó là sương hay là nước của một cơn mưa đã tạnh trong đêm, tôi không biết nữa. Tôi chỉ biết, chúng tuyệt đẹp. Thế giới của những giọt sương khác xa thế giới mà tôi đang sống, nhưng tôi có thể ngắm nhìn chúng, nghĩ về những bức ảnh, và quên mọi thứ xung quanh. Nếu có một giây phút mà tâm trí ta chỉ tập trung vào một thứ mà thôi, thì đó không phải là tâm trí ta bị chiếm giữ, đó là một sự tự do: tâm trí ta được giải phóng khỏi bất kì điều gì khác. Những giây phút tự do, với tôi giống như liều thuốc chữa lành mọi thứ.

    Và đây là những giọt sương tôi đã thấy 🙂

    Dew (19)
    Dew (14)
    Dew (4)
    Dew25
    Dew (24)
    Dew (22)
    Dew (23)
    Dew (21)
    Dew (3)
    Dew (2)
    Dew (9)
    Dew (8)
    Dew (20)
    Dew (5)
    Dew (18)
    Dew (17)
    Dew (12)
    Dew (15)
    Dew (16)
    Dew (10)
    Dew (11)
    Dew (13)
    Dew (1)
    Dew (7)
    Dew (6)

    Chuyến xe

    Năm ấy, tôi vừa tốt nghiệp. Tôi có một hợp đồng ở trường nhưng vì muốn có kinh nghiệm thực tế nên đã làm bán thời gian ở một công ty phần mềm. Điểm thú vị của việc làm việc ở vị trí của tôi, ở cả hai nơi, là không có ràng buộc về giờ giấc. Được một thời gian ngắn thì có đợt quyên góp ủng hộ trẻ em nghèo và lên từ thiện ở Điện Biên. Làm từ thiện đối với tôi lúc nào cũng là một việc hấp dẫn :), vì thế tôi đã tham gia.

    Đó là một chuyến đi mà tôi nghĩ rằng mình không nên quên. Mọi chuyện đã diễn ra tốt đẹp. Chúng tôi quyên góp được nhiều tiền, quần áo, và sách vở. Đường đi thuận lợi, cảnh núi rừng tuyệt đẹp, mọi người trên xe trò chuyện vui vẻ. Ít nhất, mọi chuyện đã tốt đẹp cho đến khi trời sẩm tối.

    Chúng tôi xuất phát từ buổi sáng, nhưng có lẽ vì nghỉ trưa hơi lâu và hôm ấy trời mưa, nên mãi vẫn chưa tới nơi. Điểm trường mà chúng tôi sẽ đến thực sự nằm ở nơi heo hút giữa những ngọn núi cao. Không biết là khi nào, tôi chợt nhận ra bên cạnh đường đèo mà chiếc ô tô của chúng tôi đang chầm chậm tiến lên là một vực sâu. Trời tối nên tôi không thấy rõ, nhưng đường hẹp hơn tôi tưởng. Trời mưa đã làm cho đất từ trên lở xuống một (vài) đoạn đường. Có lẽ đó là lý do làm tài xế đi chậm hơn dự tính, và chưa đến nơi dù trời đã tối.

    Trong xe cũng không sáng hơn. Giữa lúc ấy, tự nhiên có một bạn trẻ nói “Gần đây có một vụ xe đi từ thiện gặp nạn. Mọi người có thấy khúc này nguy hiểm không …”

    Tất nhiên là bạn ấy muốn pha trò, bạn ấy nói với giọng bông đùa. Dù sự im lặng đáng sợ, nhưng có những lúc cứ để im lặng thì tốt hơn là cố nói một điều gì đó không cần và không nên nói. Hình như là không có ai tiếp tục với câu chuyện của bạn trẻ ấy.

    Thật sự là ánh sáng còn đủ để chúng tôi nhận ra có đất lở. Lúc ấy, rất nhiều suy nghĩ đã vụt qua tâm trí tôi.

    Liệu chuyện đó có xảy ra không? Tôi nghĩ chắc là không. Chúng tôi chỉ là một công ty phần mềm, nhưng đi cùng hôm đó là chị gái của chủ tịch tập đoàn, VVIP, họ không thể để chị ấy (1) tham gia chuyến đi này nếu biết có nguy cơ.

    Đến tận bây giờ tôi vẫn luôn mặc định rằng mỗi người hay tổ chức sẽ luôn làm tốt phần việc của họ, và khi tới phiên tôi thì chỉ đơn giản là tiếp nhận những kết quả hoàn hảo từ một cái black-box. Nhiều lần lối suy nghĩ ấy đã làm tôi khốn đốn, nhưng tôi vẫn không sao bỏ được.

    Tất nhiên họ sẽ không để chị ấy đi, nhưng họ có làm tốt việc chuẩn bị của họ không, tôi không biết. Tôi chỉ nhìn thấy rằng, có lở đất, chỉ là may mắn không ở ngay trước mặt chúng tôi.

    Trên xe có chị Lan, chúng tôi hồi ấy vẫn cùng sống ở nhà Tal. Chị ấy thích làm từ thiện và thích những chuyến đi, nên tôi đã rủ chị ấy đi cùng. Chị Lan trẻ, xinh đẹp, vui tính, yêu đời, nhân hậu, và có vẻ như còn chưa có người yêu. Chị Lan thích làm bánh, và những món ăn ngon. Chị ấy luôn đối tốt với tôi. Nếu chị gái tôi sống cùng tôi, ngày thường có lẽ cũng chỉ có thể quan tâm đến tôi như chị Lan. Ôi, tôi đã rủ chị ấy đi cùng!

    Trên xe ngoài chị Thanh Thanh, chị Hải Vân, và anh tài xế, hình như chưa ai đến 30. Mọi người đều tốt nghiệp trường tốt, làm kỹ sư hay giảng viên trong tập đoàn, tương lai phơi phới.

    Tôi vừa mới tốt nghiệp. Nhiều người kỳ vọng vào tôi, trong số ấy có cả những người mà tôi chưa từng gặp mặt, hay thậm chí là chưa từng biết. Tôi muốn giúp đỡ trẻ em nghèo, còn nhiều trẻ em nghèo lắm. Tôi muốn làm cho thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn.

    Tôi nghĩ về gia đình tôi, về những người thầy của tôi, về những người thương yêu tôi.

    Ngoài trời tối dần, nhưng trong đầu tôi thì lại sáng hơn.

    Cuối cùng thì, nếu chuyện đó xảy ra, cũng chẳng phải là một bi kịch. Tôi tin là tôi đã trải qua nó hàng trăm, hàng ngàn lần, hay thậm chí nhiều hơn nữa, mà không hề có ký ức gì mà thôi.

    Nếu có điều gì đáng tiếc, đó nhất định không phải là chuyện sẽ xảy ra ngày mai, hay một vài phút tới. Điều đáng tiếc là tôi đã không thật sự sống trong từng thời điểm mà tôi đã có. Tôi đã không sống ở hiện tại. Không đến được nơi muốn đến không đáng tiếc, đáng tiếc là không đến được nơi đáng ra đã có thể đến. Nếu mỗi lúc đều sống hết mình và làm những điều tốt nhất có thể, thì chẳng phải là sẽ không có gì làm ta sợ hãi hay hối hận hay sao.

    Vì thế, tôi ngưỡng mộ những người có thể nói, một cách tự nhiên, rằng nếu ngày mai họ chết, mọi chuyện vẫn ổn. Đó cũng là lý do mà khi tôi tham gia lớp học của cô Palihawadana, cô ngay lập tức trở thành người mà tôi kính trọng và yêu mến.

    Tôi nghĩ tôi đã nghĩ về cái không. Giải thích về nó là một việc nằm ngoài khả năng ngôn ngữ của tôi.

    Có điều, tôi đã thấy ổn. Chúng ta là một. Chuyện đến sẽ đến và chuyện không đến thì không thể đến. Quá khứ và những điều ân hận, tất cả đã qua. Tôi không còn thấy cái chết có gì đáng sợ.

    Chỉ là, sự giác ngộ không đến với tôi dễ dàng như thế. Nếu chuyện đó xảy ra, với ký ức lần này của tôi thì vẫn là quá sớm. Khi một ván cờ kết thúc ở khai cuộc thì ngay cả khi là người chiếu hết tôi cũng còn thấy hụt hẫng.

    Dù vẫn còn những nuối tiếc như thế, tôi thấy rất nhiều tảng đá ngáng trên con đường của mình đã được gạt bỏ.

    Chuyện đó rồi sẽ xảy ra, không phải hôm nay thì là ngày mai, không phải ngày mai thì là ngày kia, không phải ngày kia nữa thì cùng lắm cũng chưa đầy một trăm năm. Có thể nó sẽ đến vào lúc mà ta đã sẵn sàng, cũng có thể vào lúc mà ta không lường trước. Dù là khi nào, nó không cần ta phải sợ hãi.

    Khi chúng tôi đã đến nơi, được tiếp đón chu đáo, thì xe chở hàng vẫn chưa tới. Có lẽ họ phải dừng ở đoạn đất lở. Trời đã tối hẳn, tôi đã tình nguyện theo xe trở lại dẫn đường cho họ, và dọn đường nếu cần 🙂 Tôi vốn tự do, nhưng khi ấy tôi cảm nhận được sự tự do vượt trên những sự tự do mà tôi từng biết. May mắn là khi chúng tôi gặp xe chở hàng, họ đã vượt qua đoạn đường khó. Trong ánh đèn pha của ô tô, tôi có thể nhìn thấy nụ cười rạng rỡ của họ khi thấy chúng tôi, và tôi chắc chắn là họ cũng vậy.

    Chuyến đi từ thiện đã, như bạn có thể đoán được, thành công tốt đẹp.



    Note:

    (1) “chị” Thanh Thanh is actually the age of my aunt, and should be called “Aunt Thanh Thanh” according to Vietnamese culture. However, we conformed to our corporation’s culture 🙂 and called just anyone older than us “anh” or “chị.”

    Black background

    DSC00237-01

    Hình trên được chụp vào một trưa hè ở Yatsuomachi. Thi thoảng, ta vẫn bắt gặp những bức ảnh với phông nền đen hoàn toàn như thế ở đâu đó. Những bức ảnh như vậy thường khiến người xem thấy thú vị, và rất có thể sau đó sẽ tự hỏi làm thế nào để có thể chụp được.

    Cảm giác thú vị ở người xem thường xuất hiện khi người ta có thể thấy được trong bức ảnh một câu chuyện gợi nhiều cảm xúc, hoặc cũng có thể chẳng có câu chuyện nào cả, nhưng người chụp sử dụng một kỹ thuật thị giác gây ấn tượng. Tạo phông nền đen là một kỹ thuật như thế.

    Người ta bị thu hút bởi những thứ mới lạ. Có khi những thứ mới lạ ấy không có gì tốt đẹp mà chỉ lạ thôi. Phông nền đen thì không chỉ lạ, nó thường được sử dụng với mục đích rất rõ ràng: làm nổi bật chủ thể. Nếu đã chán với việc làm nổi bật chủ thể bằng cách xóa phông, hãy thử chụp ảnh nền đen xem sao?

    Vậy làm thế nào để có thể chụp ảnh như thế?

    Về mặt nguyên lý, một bức ảnh có phông nền đen được tạo ra khi chủ thể rất sáng so với nền, và người chụp giảm lượng ánh sáng vào cảm biến và độ nhạy sáng xuống tới mức phông nền biến thành màu đen.

    Trong thực hành, người chụp có thể dùng những cách dưới đây:

    1. Dùng phông nền đen. (làm tối background)
    2. Đặt chủ thể gần nguồn sáng, chẳng hạn đưa mẫu đến gần cửa (trong một căn phòng thiếu sáng), hoặc dùng flash. (làm sáng chủ thể)
    3. Dùng phần mềm.

    Vì phông nền trong ảnh gốc càng gần với màu đen thì chỉnh sửa càng đơn giản, nên dù dùng phần mềm thì vẫn nên nắm được cách chụp.

    Như đã nói, điểm quan trọng trong việc chụp ảnh nền đen là i) chênh lệch độ sáng giữa chủ thể và phông nền và ii) lượng ánh sáng vào cảm biến và ISO speed.

    i) Chênh lệch độ sáng thế nào là đủ? Bạn hãy tạo ra chênh lệch càng lớn càng tốt. Mình đọc được đâu đó trên mạng kinh nghiệm rằng chênh lệch 3 stop trong chế độ đo sáng điểm là đủ. (Bạn có thể tham khảo con số này, mình không dùng nó mà chỉ cố gắng tạo ra chênh lệch lớn nhất có thể.) Chênh lệch 3 stop có nghĩa là nếu bạn đo sáng bằng chế độ đo sáng điểm ở nền thì sẽ cần lượng ánh sáng hoặc/và ISO speed gấp 8 lần (2 mũ 3) so với đo sáng ở chủ thể, để nền được lên ảnh với độ sáng tự nhiên. Tham khảo về các chế độ đo sáng ở đây: What is metering?

    ii) Cần giảm lượng ánh sáng hoặc/và ISO speed như thế nào? Cần giảm đến mức nền hoàn toàn không hiện lên trên ảnh. Để làm như vậy có thể theo các bước dưới đây:

    1. Chuyển máy ảnh sang chế độ đo sáng điểm.
    2. Đo sáng ở chủ thể.
    3. Từ từ giảm ISO, tăng tốc độ màn trập, hạ khẩu (giảm khẩu độ). Có thể thay đổi 3 thứ cùng một lúc, điều chỉnh cho tới khi thấy background đen. Nếu có thể, ISO nên được chỉnh càng nhỏ càng tốt.

    Phần trên đã trình bày tất cả những gì chúng ta cần biết để chụp ảnh nền đen. Dưới đây là vài bức ảnh với nền đen mình chụp trong mùa hè này. Tất cả được chụp dưới nắng gắt, với phông nền là bóng râm. (Tất cả đều đã được chỉnh sửa ít nhiều.)

    DSC06989-01
    DSC07355-02
    DSC00248-01
    DSC07390-01-01
    DSC00018-01-01

    Làm thế nào để chụp ảnh xóa phông?

    Một trong số những lý do quan trọng khiến nhiều người muốn chuyển từ chụp ảnh trên điện thoại sang máy ảnh là vì họ muốn chụp được những bức ảnh xóa phông với bokeh lung linh. Cách đây chỉ chừng 5 năm, điện thoại cao cấp cũng không xóa phông tốt bằng một chiếc máy ảnh tầm trung. Ngày nay thì một chiếc điện thoại tầm trung cũng có thể xóa phông ở mức độ làm hài lòng người dùng. Nếu chỉ vì muốn chụp được chân dung xóa phông thì không cần phải mua máy ảnh. Tuy thế, vẫn còn một khoảng cách về khả năng xóa phông giữa điện thoại và máy ảnh chuyên nghiệp.

    Bài viết này nói về cách xóa phông dùng chế độ manual (tùy chỉnh thủ công) trên máy ảnh hoặc điện thoại. Để có thể tùy chỉnh được, trước hết chúng ta cần hiểu về khái niệm khẩu độ (aperture). Đã có rất nhiều nơi giải thích về aperture rất dễ hiểu. Nếu bạn chưa từng nghe tới thuật ngữ này, có thể bắt đầu bằng cách xem video dưới đây. Nếu chỉ muốn chụp được ảnh xóa phông thôi và không cần hiểu về nguyên tắc, bạn có thể bỏ qua tất cả các link trong bài viết này, kể cả video phía dưới, và đọc tiếp.

    Ở hai link dưới đây, khái niệm aperture và f-stop được trình bày kỹ hơn một chút.

    Aperture

    f-stop

    Một vài điều quan trọng cần nhớ về aperture, và tại sao điều chỉnh aperture lại giúp bạn xóa được phông.

    • Aperture là độ mở của màn trập khi chụp ảnh, cho biết đường kính của khoảng mở mà ánh sáng có thể đi qua.
    • Aperture được đo bằng f-stop. f/1.4 có nghĩa là khoảng mở của màn trập có đường kính bằng tiêu cự (focal length) chia cho 1.4. Chữ f hay F trong ký hiệu aperture là viết tắt của focal length. Con số càng lớn thì khoảng mở càng nhỏ (tỉ lệ nghịch), có nghĩa là f/1.4 là một khẩu độ lớn hơn f/2.
    • Chênh lệch độ sáng giữa các f-stop là 2. Các f-stop liên tiếp (tiêu chuẩn) là f/1.4, f/2, f/2.8, f/4,… Nếu tính toán bạn sẽ thấy diện tích khe sáng qua màn trập giữa các f-stop liên tiếp chênh nhau 2 lần. Đó là lý do trên máy ảnh thường bạn sẽ thấy các con số trên, chứ không phải là f/1, f/2, f/3,…
    • Aperture là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định độ sâu trường ảnh (DoF – Depth of field). DoF là độ rộng của vùng không gian sẽ cho ảnh rõ nét trên cảm biến. Aperture càng lớn (con số càng nhỏ) thì trường ảnh càng mỏng, và hiệu ứng xóa phông càng rõ ràng. Chẳng hạn f/1.4 xóa phông tốt hơn f/2, f/2 xóa phông tốt hơn f/2.8, v.v. Chi tiết xem ba hình minh họa phía dưới.
    Via slrlounge.com
    Source: ME5286, University of Minnesota

    Trong thực tế, ta thường nhìn thấy chỉ có một vùng mờ và một vùng nét. Sự thực là vì vùng thứ ba thường nằm giữa không trung nên ta không nhìn thấy. Hoàn toàn có thể chụp rõ cả ba vùng, chẳng hạn như bức ảnh dưới đây (xem thêm trong bài DoF Partitioning trong series này):

    DoF

    Vậy để chụp ảnh xóa phông, cần điều chỉnh camera như thế nào? Rất đơn giản.

    • Đưa chủ thể ra càng xa hậu cảnh (background) càng tốt.
    • Chỉnh đến khẩu độ lớn nhất (số nhỏ nhất) mà máy còn có thể lấy nét được ở chủ thể. (Nếu chưa quen với chế độ manual, nên để ở máy ở chế độ Av – Aperture (value) Priority. Thực ra thì phần lớn thời gian mình để chế độ Av.)

    Chỉ cần làm như vậy, bạn đã chụp được bức ảnh xóa phông với phông nền “mờ ảo” nhất trong khả năng của camera của bạn. Không phải lúc nào mờ ảo nhất cũng là tốt, có những lúc phải điều chỉnh những thứ khác nữa, đặc biệt là khi không có đủ ánh sáng. Tuy nhiên, nếu bạn chỉ chụp chân dung hoặc sản phẩm mẫu thì chỉ cần chỉnh được khẩu độ là đủ.

    Dưới đây là một vài bức ảnh với hậu cảnh được làm mờ. Hầu hết mọi người khi nghe tới xóa phông thì sẽ nghĩ tới ảnh chân dung, nhưng đăng ảnh người hơi phức tạp nên ở đây mình chỉ đăng ảnh hoa lá cây cỏ. Tất cả ảnh được chụp trong 3 năm gần đây.

    c1825e33885576704b0836e50f728b6f_48508744087_o
    Early blossom
    DSC06926
    太陽を迎える
    Top of the tree ^^
    Top of the tree 🙂
    20170910171125_IMG_1592
    Little wishes
    IMG_2876
    Rêu phong
    22Sep20P1000128
    Galaxy
    IMG_20200223_041210_963
    日の影
    IMG_20200603_182523902
    畱戀
    2b0ad6071ae1cc5b1d5fd30e0e5b5c40_48508757927_o
    段階
    180e63884cbc0b7e2a4cbc96d53fa0da_48508568961_o
    世界を包む
    d4f35c9664bb0f4e8619f5b6c8c500f5_48508743352_o
    Limitless
    DSC00400
    In the rain
    IMG_4062
    叶った夢

    209062 | Be true to the best you know

    I often come across “life-changing” pieces of advice that are not anything new. Most of them are obvious. The problem is, to a lot of people, probably including myself, they are actually life-changing. Nonetheless, by and large my life hasn’t changed much throughout the last decade.

    The last time I had a proper conversation with Kramnik was many years ago when we were both undergraduates. He told me: “If I keep studying as hard as we did at our high school, I will graduate summa cum laude for sure.” I thought so, too. The thing is, as undergraduate students, we did not study that hard. It is not that we don’t know what is the right thing to do, it is that we don’t do it although we clearly know.

    The Teacher said: “However many holy words you read, however many you speak, what good will they do you if you do not act on upon them?” and obviously, it is true. Thinking is easy, understanding is easy, making excuses not to do something right is extremely easy, only determinedly acting upon what you believe to be true could distinguish you from the mediocre.

    There is no underlying reason for the fact that you are thinking your life is a mess and feel ashamed when people mention your achievements. It is not the impostor syndrome, your thoughts are simply true. What you have done is nowhere near what someone of such privileged life as yours is supposed to achieve, and deep down you understand that. While you are seeking the meaning of life and trying to be a God, your life has been passing, fast.

    You don’t need new advice. Sit still, stop wandering in the sky, remind yourself of The Principles, stick to them, do what comes to mind, now. Your life is happier than you thought.

    Sky

    地上の星

    冬の渓谷
    暮れ奥座敷の嵐山
    地には早くも天の川

    高岡

    地上の星
    嵐山
    年末の夕方
    天の川でも
    表れてないけど
    川岸
    すでに
    星で輝く

    銀杏黄葉 (いちょうもみじ)

    秋の思い出
    ある秋の日

    銀杏の木
    何回も何回も
    夏にさようならを言って
    秋を迎える
    毎年色を変える
    人も
    来ては去り、来ては去って行く
    それでもなお
    落ちてどこにも行かない黄葉のように
    青春の思い出は
    永遠にここに生きてる

    着物

    The colors of Kimono
    浅草寺 (あさくさてら) 令和元年の夏

    Tokyo, hồn trong xanh
    Ai biết từng chất chứa bao điều buồn tủi
    Em áo lụa kimono
    Phất phơ màu nhân ái
    Đến với nhân gian.

    Nhìn mây nước biển trời bình an
    Chuông chiều vang vọng Thạch Sơn
    Tiếng mõ ni cô nhịp bước lữ hành
    Hồn nhân loại vọng về đâu đây…

    Cảm xúc Tokyo – Xuân Quỳ thơ tuyển

    Làm sao để chăm đọc sách?

    Đây là câu trả lời cho một câu hỏi trên Noron của một bạn trẻ đã mua rất nhiều sách mà chưa kịp đọc, có lẽ cũng là băn khoăn của nhiều người. Có lẽ câu trả lời này sẽ có ích cho một số bạn khác, nên tôi xin đăng lại ở đây.


    Chúng ta có xu hướng làm những việc mà chúng ta cảm thấy dễ dàng. Khi làm những việc đó, thậm chí ta không cần cân nhắc một chút nào, vì hiểu rằng những việc ấy không tiêu tốn nhiều thời gian và sức lực của ta. Chẳng hạn, cùng là báo nhưng lũ trẻ có thể dễ dàng click vào một bài giật tít câu view, hơn là một bài báo phân tích thời sự quốc tế. Dùng đầu óc là khó với một số người.

    Vì thế, để có thể làm gì đó, hãy làm cho nó dễ, hoặc có vẻ dễ.

    Người ta nói bắt đầu có nghĩa là đã hoàn thành một nửa. Sự thật là trở lực lớn nhất khi ta làm việc gì đó là khi ta bắt đầu. Có thể quan sát được điều này trong tự nhiên. Chẳng hạn, khi ta lăn một tảng đá, sức lực phải bỏ ra để nó bắt đầu lăn lớn gấp nhiều lần sức lực cần để giữ cho nó lăn tiếp. Khi bạn nghe người ta nói “Keep the ball rolling,” hãy tự hiểu thêm rằng “or you will have a hard time making it roll again.” Nhiều việc không được hoàn thành chỉ vì người ta không chịu bắt đầu mà thôi. Một khi đã bắt đầu rồi ta sẽ có quán tính. Nếu may mắn ta sẽ làm quên ăn quên ngủ và sống trong trạng thái hạnh phúc mà những người không dám làm việc họ thích không có cơ hội để hiểu.

    Để đọc sách nhiều, bạn phải bắt đầu đọc sách. Chẳng hạn, hãy tự đặt ra cho mình một lịch cố định để đọc sách, và đặt những mục tiêu thấp đến mức chắc chắn không bỏ công sức gì cũng có thể hoàn thành, những mục tiêu thấp đến mức bạn có thể nghĩ là nhảm nhí. Chẳng hạn, hãy thử đọc sách sau khi đã ăn tối và dọn dẹp xong. Việc chọn một khung giờ cố định giúp bạn tạo ra thói quen và không phải lãng phí năng lượng vào việc suy nghĩ và quyết định khi nào thì đọc. Mục tiêu có thể là: “Tôi sẽ đọc nửa trang đầu tiên của cuốn sách mới mua.” Dần dần, bạn sẽ thấy mình đọc nhiều lên. Quan trọng nhất, bạn phải chắc chắn rằng bạn sẽ bắt đầu.

    Đó là sự bắt đầu, nhưng để đi được lâu dài thì con đường nên được làm cho dễ dàng hơn. Nếu con đường quá khó khăn mà bạn vẫn muốn đi thì hãy làm nó trở nên dễ dàng hơn. Nếu biết trước mặt là bụi gai mà cứ đâm đầu vào thì không phải là có ý chí, mà là ngu xuẩn. Phải chặt cái bụi cây ấy đi trước đã.

    Điều gì làm cho việc đọc sách khó khăn, ngay cả khi bạn đã bắt đầu đọc rồi? Trong nhiều yếu tố thì tôi thấy có hai yếu tố quan trọng: Tốc độ đọc và kiến thức nền.

    Nếu bạn đọc quá chậm, bạn sẽ dễ cảm thấy việc đọc là khó khăn, và bạn không thể hình dung được sự tồn tại cũng như niềm vui của những người đọc mỗi ngày một cuốn sách như một cách luyện tập và thưởng thức. Để chăm đọc sách, hãy luyện đọc nhanh.

    Nếu bạn không có đủ kiến thức nền, bạn sẽ cảm thấy khó đọc. Bạn sẽ phải thường xuyên dừng lại trước những khái niệm mới, bạn sẽ cảm thấy khó hiểu những điều mà tác giả cho là hiển nhiên hoặc thông dụng (vì thường các tác giả có một đối tượng độc giả với một trình độ nhất định. Chẳng hạn, câu trả lời này không dành cho đối tượng như các thầy của tôi, đối với họ thì những điều tôi viết quá sơ đẳng.) Khi ấy, bạn sẽ đọc rất chậm, và thỉnh thoảng vật lộn với câu chữ. Trong tình trạng như vậy thì không thể thấy hứng thú với việc đọc được.

    Khi ấy, đọc là khó, nhưng hãy làm việc khó ấy. Thuốc đắng dã tật, chẳng có thứ gì tốt đẹp đến với bạn khi bạn không trải qua khó khăn. Bạn có thể chọn đọc để trở nên một con người giỏi giang hơn, hoặc đọc để giết thời gian và tiêm vào đầu những thông tin vô bổ và có thể xử lý mà không cần trí tuệ. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào bạn. Tôi nghĩ rằng tất cả những vị mà tôi ngưỡng mộ đều đã trải qua thời kỳ mà họ phải đánh vật với những nội dung tưởng chừng quá sức.

    Khi bạn đã có một tốc độ đọc mà bạn thấy ổn, và kiến thức nền tảng đủ để đọc những nội dung bạn quan tâm, bạn sẽ thấy đọc là một việc tuyệt vời, một niềm vui, một sự thưởng thức, một cách để trở thành một con người lớn lao hơn chính bạn ngày hôm qua. Khi ấy, càng đọc bạn càng thấy mở mang, thích thú, và càng thích thú, bạn cảng muốn đọc.

    Chuyện ấy cũng giống như đống lửa giữa trời càng to, gió càng thổi mạnh, mà gió càng thổi mạnh, thì lửa càng to. Trong cuộc đời có những vòng lặp tích cực như thế, ai do may mắn hay cố gắng mà rơi được vào chúng thì trở thành vĩ nhân. Hãy tìm những vòng lặp ấy. Đọc sách – giỏi – đọc sách là một vòng lặp nho nhỏ với tính tích cực ấy. Kẻ nào bất hạnh rơi vào những vòng lặp ngược lại thì có thể mang tiếng xấu muôn đời. Cũng có những người sẽ biến mất mà không để lại dấu vết gì. Những ai chưa từng cố hết sức mình để làm một điều gì đó là những người có định mệnh sống đời tầm thường, như một ngọn lửa nhỏ tắt ngay khi gió nổi lên.

    Chúc bạn đọc được những cuốn sách hay!

    八尾町の小さな生き物

    現在住んでいる八尾町は、美しい自然に恵まれています。

    山や水田の風景だけでなく、小さな虫もきれいです。

    散歩するのがすきです。以下は、この夏に出会った小さな生き物です。

    小さな生き物_
    小さな生き物 (5)
    小さな生き物 (3)
    小さな生き物 (1)
    小さな生き物 (10)
    小さな生き物_
    小さな生き物 (4)
    小さな生き物 (9)
    小さな生き物 (8)
    小さな生き物 (7)
    小さな生き物 (2)
    蜻蛉
    小さな生き物 (6)

    Học

    Thỉnh thoảng tôi đọc được trên mạng những bài báo mà ngoài cách dùng từ ngây thơ ra thì còn phạm phải những lỗi ngữ pháp và chính tả mà ngay cả trước khi tốt nghiệp tiểu học tôi cũng không mắc phải. Khi viết ra từ “tiểu học,” tôi muốn gây ấn tượng. Ấn tượng lớn nhất của câu ấy là, nó hoàn toàn là sự thật.

    Cũng có khi tôi đọc một cuốn sách dịch và không thể chịu đựng được tác phong làm việc của dịch giả, để rồi lại phải tìm sách gốc. Ở trường cũ của tôi, ngoài những người thầy thật sự có tầm, những người có khả năng làm thay đổi Nature Index của trường, hay làm cho học trò ước mơ có những cống hiến lớn lao cho xã hội, còn có thầy làm tôi băn khoăn về động cơ và phương pháp khiến họ trở thành giảng viên.

    Nhận thức méo mó về tầm quan trọng của thực lực kể từ khi những người chỉ có sự trung thành và “cơ bản” được nắm giữ những vị trí quản lý cần sự giỏi giang đã làm biến dạng nền học thuật của ta. Hơn chục năm trước, khi một thầy của tôi nói trước lớp: “Tổ Quốc đang lâm nguy,” lẽ ra tôi không nên cúi xuống bàn mà ôm bụng cười như thế. Vì thầy nói đúng, và không chỉ đúng ở thời điểm ấy, mà còn từ rất lâu trước đó và cả sau này.

    Hai mươi năm trước, về cùng vấn đề này, Cao Xuân Hạo đã có vài lời mà tôi nghĩ rằng chỉ cần sửa lại một vài đoạn nhỏ cho phù hợp thì ai không biết sẽ tưởng ông đang nói về tình trạng hiện nay. Tính thời sự của bài viết có lẽ là điều mà một người quan tâm đến tương lai của đất nước như tác giả của nó không mong muốn nhất. Xin giới thiệu bài viết ấy ở đây.


    Về tính hiếu học của người Việt xưa và nay

    Cao Xuân Hạo

    Tạp chí Xưa và Nay, số 86 (134) II – 2001

    Đó là vấn đề mà bài này muốn đặt ra để các vị dự hội thảo cùng xem xét và bàn bạc. “Hiếu học” là một khái niệm có thể coi như làm thành một bộ phận, một chi tiết, một biểu hiện của sự khát khao tri thức rất tự nhiên của con người. Các động vật khác không có sự khát khao ấy. Việc vươn tới sự tự cải thiện của chúng nhằm thích nghi tốt hơn với hoàn cảnh sống là một bản năng, không phải một ý chí. Con người có ý thức về sự tự cải thiện cũng như sự cải thiện những điều kiện sống của nó. Muốn thế nó phải không ngừng tìm biết, học hỏi để hiểu rõ thêm cái thế giới xung quanh nó, rồi tới cả bản thân nó nữa. Và sau mấy triệu năm tiến hóa, khi loài người đã bắt đầu tạo ra những thiết chế, những tổ chức để truyền đạt và phát triển những tri thức đã tích lũy được, thì cái khái niệm “học” mới ra đời, cùng với chữ viết (văn tự) và những ông đồ dạy chữ. Thoạt tiên, học chính là học văn tự. Tôi không biết xưa kia tiếng Việt cổ đại (hay tiếng Việt-Mường) có từ nào để biểu thị khái niệm “học” không. Chứ ngày nay ta chỉ biết dùng từ học vốn là từ của người Trung Quốc. Tuy ta theo sách thánh hiền (của Trung Quốc) mà nói Tiên học lễ nhi hậu học văn, nhưng sự “học” trước tiên chính là học văn tự. Có văn tự mới có sách. Có sách mới ghi lại được những lời dạy của các bậc thầy thành những tri thức được cố định hóa trong những văn bản mà người học phải thuộc lòng. Hình như mối lo sợ lớn nhất của người xưa là mất văn bản (thất bản). Vì nếu mất nó thì những tri thức cơ bản sẽ thất truyền, và sự nhất trí của tri thức cần thiết cho một xã hội có tổ chức sẽ không còn nữa. Cho nên học trước hết là phải thuộc. Thuộc có nghĩa là “nấu chín”, tức là được tiêu hóa thành của mình (nhân thể cũng xin nhận xét là ngày nay nhiều thầy giáo rất coi nhẹ việc học thuộc lòng, lẫn lộn nó với lối “học vẹt”). Tôi còn nhớ hồi nhỏ học tiếng Anh với một ông thầy tu người Anh, suốt năm năm học ông bắt chúng tôi học thuộc hơn 100 bài dân ca Anh, Tô Cách Lan và Ái Nhĩ Lan (dĩ nhiên là phải thuộc lòng cả lời lẫn nhạc), và chính nhờ đó mà đến ngày nay chúng tôi còn nhớ được những gì chúng tôi học được về thứ tiếng không dễ học này. Có thuộc lòng mới nhớ “như in” được cách hành văn, cách dùng từ của những bài mẫu mực, để khi nói, khi viết bật ngay ra được một cách hầu như bản năng, hồn nhiên, như của chính mình. Học thuộc lòng không phải không cần sáng dạ. Nó chính là cái thước đo chính xác nhất của sự sáng dạ. Người không sáng dạ phải bỏ ra một công sức gấp đôi, nhiều khi gấp mười, một người sáng dạ mới thuộc được. Và công sức bỏ ra trong nhiều năm để học thuộc lòng sẽ luyện cho người không sáng dạ trở thành người sáng dạ.

    Tôi không lý tưởng hóa cách dạy của các ông đồ ngày xưa. Tôi cũng không ca ngợi chế độ thi cử của các triều đại trước. Đó là những sự kiện không lấy gì làm sáng sủa, sản phẩm của một nền giáo dục cổ hủ, lạc hậu. Nhưng chính nền giáo dục ấy đã tôi luyện nên cái đức tính hiếu học của ông cha ta.

    Ngày xưa, ông cha ta vốn không phải vì hiếu học mà học. Họ vì ý chí làm quan mà học. Họ không còn cách nào khác để thoát khỏi cái thân phận tủi cực của kẻ nghèo hèn. Những bà mẹ, những người vợ nhịn đói nhịn khát để nuôi chồng nuôi con ăn học thành tài, không đỗ trạng nguyên thì cũng đỗ ông nghè, ông cử, ông tú. Ông trạng, ông nghè mới được “vinh quy bái tổ”, nhưng một ông tú ít ra cũng có thể vênh mặt lên khi nghe vợ nói: “Không hay sao lại đỗ ngay tú tài?”, và được cả làng trọng vọng. Một ông đồ đi thi nhiều phen không đỗ, đành từ bỏ tham vọng khoa bảng ở nhà gõ đầu trẻ, cũng vẫn được dân làng trọng vọng với tư cách một người thầy của con cái họ, niềm hy vọng cho tương lai của gia đình họ. Và họ cũng biết phân biệt tài năng với vận may: Học tài thi phận. Nhưng tài năng và ý chí vẫn là những cơ sở vững chắc của một tương lai đáng cho người dân mơ ước, và vẫn đáng được trọng vọng vì đó là những giá trị đích thực của con người, vì con người, khác với con vật, vốn khát khao tri thức, mà tri thức thì lại đã từ lâu được loài người coi là giá trị cao nhất, vì đó là nhân tố quan trọng nhất có thể đưa họ đến những thành quả tốt đẹp trong cuộc đấu tranh gian khổ với thiên nhiên để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc.

    Như vậy, tính hiếu học không phải là một đức tính cố hữu của người Việt, nhưng kể từ một thời đại nào đó nó, do chính những yêu cầu có thể là rất ích kỷ của giai cấp thống trị, nó đã trở thành một truyền thống, vì nó được toàn xã hội đồng nhất với những niềm hy vọng tốt đẹp nhất của con người.

    Ngay trong thời Pháp thuộc, cái truyền thống ấy vẫn được giữ vững, bất chấp những ý đồ nô dịch của chủ nghĩa thực dân. Các nhà giáo của ta đều biết lợi dụng những yêu cầu thiển cận của chế độ thuộc địa và, một mặt dựa trên truyền thống hiếu học của dân tộc, một mặt đề cao những yếu tố nhân đạo và dân chủ của nền văn hóa Pháp, ra sức mở mang dân trí đến mức tối đa theo hướng hiện đại hóa và dân chủ hóa.

    Từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, những triển vọng lớn lao đã mở ra trước mắt nền giáo dục của nhân dân ta, và truyền thống hiếu học có được những điều kiện thuận lợi chưa từng thấy để được phát huy lên đến những đỉnh cao mà trước kia không có ai dám hình dung. Cửa nhà trường được mở rộng cho tất cả, và dĩ nhiên các trường đều nhanh chóng chuyển hẳn sang một nền giáo dục mới – nền giáo dục của một dân tộc độc lập. Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954, khi quân dân ta đã giải phóng thủ đô Hà Nội và những trung tâm văn hóa khác của đất nước, các trường đại học khoa học bắt đầu hoạt động chính thức với một quy mô chưa từng có dưới thời Pháp thuộc. Chính đây là lúc sự nghiệp giáo dục đặt ra những vấn đề rất cơ bản về đường lối cũng như về nội dung và chất lượng của chương trình giảng dạy. Một trong những vấn đề cơ bản được đặt ra là tính giai cấp trong nền giáo dục của chế độ mới. Dĩ nhiên, không thể có chủ nghĩa quân bình trong giáo dục. Đành rằng mọi công dân tương lai đều có quyền lợi và bổn phận ngang nhau trong giáo dục. Nhưng các tầng lớp lao động đã thiệt thòi quá nhiều trong dĩ vãng, (dĩ nhiên là do điều kiện kinh tế – quá nghèo để cho con đi học – chứ không phải do thành phần giai cấp) nên nhà nước không thể không có một chính sách ưu đãi để đền bù cho họ những nỗi thiệt thòi mà họ và con cái họ đã phải chịu trong quá khứ. Đó là một chủ trương hết sức công bằng mà chắc hẳn không có một ai phản đối. Nhưng ở đây ta thấy xuất hiện một sự ngộ nhận hết sức trầm trọng.

    Đáng lẽ sự ưu tiên ưu đãi này phải nhằm dồn sức bồi dưỡng cho con em công nông học thật giỏi, giỏi hơn con em các tầng lớp “trên” hay ít nhất cũng giỏi bằng, thì có nhiều người lại quan niệm rằng phải tìm cách tạo ra một sự bất bình đẳng trong cách đánh giá kết quả học tập của học sinh và sinh viên (HS & SV), đặc biệt là qua các kỳ thi. HS & SV công nông và con em cán bộ trung cao cấp, có công với chế độ, hay có quan hệ thân thiết với các cán bộ trung cao cấp, thì được cộng thêm điểm trong học bạ và trong kết quả thi. Do đó có một số HS & SV thi đỗ mặc dầu không đạt yêu cầu tối thiểu và cũng do đó có một số HS & SV giỏi hơn bị loại. Như vậy, nội dung của sự ngộ nhận này là ở cách quan niệm mục đích của giáo dục: theo quan niệm này, được học không phải là được trang bị đủ hiểu biết để ra phục vụ đất nước, mà là để có một cái bằng – được quan niệm như một phẩm hàm đem lại một địa vị xã hội nhất định cho người học, một phần xôi thịt thưởng cho những kẻ may mắn được xếp vào một đẳng cấp nhất định, bất chấp năng lực ra sao. Năng lực phục vụ được gọi là “chuyên”, còn thành phần giai cấp được coi là một tiêu chuẩn của “đỏ”. Trên thực tế, “đỏ” là chính, “chuyên” là phụ, mặc dầu trên lý thuyết hai mặt được coi là cần thiết như nhau.

    Với quan niệm đó, những HS & SV được “ưu tiên” chưa đủ tri thức nghề nghiệp được phát bằng tốt nghiệp và được đưa vào biên chế hay được chọn gửi đi học nước ngoài – hơn nữa, vì những ưu thế về lý lịch, họ rất chóng được vào biên chế, được đề bạt và chẳng bao lâu đã trở thành cán bộ lãnh đạo. Những HS & SV “ưu tiên” khi du học được gửi gắm rất cẩn thận và nhờ mối tình hữu nghị anh em giữa các nước xã hội chủ nghĩa, họ thừa sức đỗ bằng phó tiến sỹ hay tiến sỹ, kể cả những người không hề viết một dòng nào trong bản luận văn mà họ đưa ra bảo vệ. Với những hoạt động thương nghiệp mà họ tiến hành xung quanh căn cứ địa “Đôm 5” ở phố Ulyanova (đó là nhà trọ tập thể của nghiên cứu sinh nước ngoài kiêm kho chứa hàng của họ) họ thừa sức bỏ ra mấy ngàn rúp để thuê những bạn khác viết luận văn thay họ. Vả lại, ở các nước Đông Âu không thiếu gì những người chuyên viết hộ luận văn phó tiến sĩ. Tôi có quen hai vợ chồng tiến sĩ người Do Thái Nga sống bằng nghề viết thuê luận văn, chủ yếu là cho các nghiên cứu sinh châu Phi và Việt Nam.

    Có một điều đáng chú ý là khi gửi các du học sinh này đi, các cán bộ hữu trách thừa biết là những người ấy chính nhờ ô dù của họ, chứ không phải nhờ học lực, mà thành nghiên cứu sinh, nhưng khi điểm lại các cán bộ của cơ quan mình, những người ấy lại thấy quanh mình toàn những nhà bác học tài năng và lấy làm tự hào về chiến lược trọng dụng nhân tài của mình. Tuy vậy, cũng có nhiều người tỉnh táo hơn biết rõ chân giá trị của các tân tiến sĩ, nhưng lại sử dụng đội ngũ này làm một ê-kíp cúc cung tận tụy với cá nhân mình vì lòng biết ơn đối với ô dù nhiều hơn là vì tinh thần kỷ luật đối với cấp lãnh đạo.

    Đã có một thời nhiều giáo sư phản đối kiểu ưu đãi bất công này, vốn rất tai hại cho chính các sinh viên công nông. Họ đòi công bố điểm đích thực của các thí sinh và tình nguyện phụ đạo thêm một hai năm cho các sinh viên công nông chưa đạt trình đọ cần thiết trước khi phát bằng tốt nghiệp cho họ. Các giáo sư này, trong đó có cả giáo sư Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, không thể chấp nhận tính man trá của việc chính thức công nhận những sinh viên này đã đủ sức phục vụ khi họ chỉ có thể làm hỏng các công trình, làm chết các bệnh nhân, làm hại những học trò của họ. Nhưng mới thực hiện ý định được vài lần họ đã bị trấn áp ngay vì việc công bố điểm này và chủ trương đánh giá khách quan kết quả học tập của HS & SV được coi là một “mũi dao găm đâm sau lưng giai cấp công nông”.

    Đó mới chỉ là một bước đầu của quá trình xuống cấp nhanh chóng của công tác giáo dục và đào tạo. Những bước tiếp theo không kém phần ngoạn mục, đặc biệt là trong các ngành khoa học xã hội, nhất là văn học và ngôn ngữ, được coi như những ngành hoàn toàn không cần đến “chuyên”, chỉ cần “đỏ”, cần lập trường “tư tưởng”, mà người đã có tư tưởng tốt thì dù không học giờ nào cũng có thể làm được.

    Nhưng đề tài chính của bài này chỉ có liên quan gián tiếp đến công việc giáo dục ở nhà trường. Một nền giáo dục kém cỏi sẽ không tác hại bao nhiêu đến lòng hiếu học nếu người có học và học sinh giỏi được xã hội quý trọng hay ít nhất cũng có được một tương lai sáng sủa khi tốt nghiệp. Đàng này cái tương lai chắc chắn nhất của người tốt nghiệp đại học là … thất nghiệp (trừ phi có những mối quan hệ xã hội đặc biệt). May ra, chỉ có sinh viên khoa Anh là không phải lo đến cái triển vọng này, vì có thể xin việc khá dễ ở các hãng nước ngoài. Ngay như ở cái thời mà chính sách ngu dân của thực dân Pháp còn ngự trị, tương lai của người đi học còn sáng sủa hơn nhiều: dù chỉ có mảnh bằng “đíp-lôm”, người tốt nghiệp trung học sơ cấp cũng đã có một địa vị vững vàng trong xã hội và một đồng lương đủ nuôi vợ con và báo hiếu cha mẹ. Trong khi đó, một “cử nhân” ngày nay chưa chắc đã kiếm nổi việc làm nếu không chuyển sang một nghề khác hẳn với cái nghề đã học, như nghề gia sư, nghề xích lô, nghề người mẫu hay nghề vũ nữ.

    Trong một thiên truyện ngắn có tính chất hồi ký, một giáo viên cấp III thuật lại lời một học sinh cãi ông khi ông hơi nặng lời quở trách anh ta không nghiêm túc trong học tập: – Thưa thầy, em có học thật nghiêm túc chăng nữa cũng chỉ giỏi bằng thầy là cùng. Thế nhưng thầy cứ thử nhìn lại cái thân thầy mà xem: lương thầy có đủ sắm một chiếc xe đạp để thay cho chiếc xe tàng thầy vẫn đi không?

    Khi đã đủ khôn lớn để hiểu ít nhiều về cuộc đời, người học sinh nào cũng rút ra được một bài học quan trọng: nếu mình học giỏi, chỉ có thầy cô và bạn bè khen mà thôi, chứ bên ngoài cái thế giới hạn hẹp của nhà trường, không có một ai coi mình ra gì hết, và với đồng lương mỗi năm mà mình được lĩnh sau khi tốt nghiệp, còn khuya mới tự thết cho mình được một bữa nhậu hàng ngày của một ông giám đốc doanh nghiệp chỉ học đến hết cấp một. Không có nổi một chiếc Honda để đưa đón bạn gái, thì còn nói gì đến máy tính với sách vở chuyên môn? Có thể đó là cách suy nghĩ của những thanh niên tầm thường, không có mấy lý tưởng. Chỉ tiếc là cái loại người “tầm thường” ấy trong xã hội nào cũng chiếm đa số, và không ai thoát được ra ngoài sức tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng đang lớn tiếng quảng cáo cho một lối sống “sành điệu”, tức cho thói đua đòi theo những người đã nhờ buôn bán hay tham ô mà có đủ tiền để gia nhập cái lớp người tiêu thụ “sành điệu” được gọi là “thượng đế” trong cơ chế kinh tế thị trường, mà dù có gia nhập được chăng nữa, thì họ cũng không tài nào bì kịp các “thượng đế” cao cấp xài mỗi ngày vài triệu như họ vẫn chứng kiến trong đám bạn bè cũ đã thôi học để chuyển sang nghề kinh doanh.

    Tuy thế, cái truyền thống hiếu học xưa kia ngày nay vẫn còn. Nó còn sống sót trong một số người thuộc những gia đình có nền nếp: đó là những gia đình đã có vài đời làm nhà giáo, làm thầy thuốc, làm kỹ sư hay là nghệ sĩ, nghĩa là làm nghề lao động trí óc, mà vẫn còn tin ở giá trị của học vấn mặc dầu những sự thật được chứng kiến hàng ngày hoàn toàn phủ định nó. Nó cũng được tiếp tục trong một số người không có truyền thống gia đình trí thức nhưng nhờ sự giáo dục của nhà trường, của sách vở và nhờ ảnh hưởng của những người thầy ưu tú đối với những người học trò ưu tú nhất của họ. Tuy nhiên, nó đang chịu đựng sức xói mòn rất mạnh của cuộc sống thực tế, khiến cho nó mai một đi một cách chắc chắn và nhanh chóng, đến mức nếu bây giờ ai còn nói đến tính hiếu học của người Việt đều không khỏi cảm thấy ngượng nghịu ít nhiều: không biết có thật là “người Việt có truyền thống hiếu học” không, và nếu có, thì bây giờ nó có còn tồn tại nữa hay không?

    Vốn là người đã làm việc hơn năm mươi năm trong đội ngũ giáo viên trung học và đại học, và hiện đang tiếp tục giảng dạy ở nhiều trường đại học mặc dầu đã về hưu, tôi xin trình bày một số nhỏ trong hàng ngàn biểu hiện không thể chối cãi của sự mai một này, đặc biệt là trong ngành Việt ngữ học mà tôi là một trong những người đã tham gia lâu năm nhất (từ năm 1956 là năm đầu tiên có giảng ngữ âm và ngữ pháp tiếng Việt trong trường đại học). Trước hết, xin nói đến các giáo sư đại học, trong đó có nhiều người tham gia với tính cách người biên soạn, chủ biên hay cố vấn về cơ sở lý thuyết, vào việc soạn sách giáo khoa các cấp, nhất là sách giáo khoa tiếng Việt cấp trung học. Những người này chính là tấm gương cho các sinh viên khoa ngữ văn (về sau sẽ là tác giả sách giáo khoa trung học, giáo viên cấp III hay giảng viên đại học). Những năm đầu, phần lớn các giáo sư này (vốn chưa qua một năm đại học ngôn ngữ học nào hết) còn chịu khó đọc vài chục trang sách dẫn luận ngôn ngữ học bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, hoặc nhờ bạn bè dịch cho, rồi những năm sau, khi đã có giáo án hay đã soạn sách giáo khoa, thì tuyệt nhiên không đọc thêm gì nữa, và nhất là sau khi đã có học hàm học vị, lại càng không thấy cần đọc thêm gì nữa, trừ khi nghe đồn những lý thuyết mới, tưởng là có thể quên tất cả các tri thức cũ, chỉ lo nhờ hay thuê ai dịch cho vài chục câu “tủ” trong những cuốn sách tình cờ kiếm được, và bắt đầu viết hàng pho sách dày pha loãng mấy chục câu ấy ra thành chương thành hồi, cố viết thật nhiều trang để tăng thêm nhuận bút.

    Trong khi đó, hầu hết đều quên hoàn toàn những tri thức ABC mà sinh viên năm thứ nhất phải học từ những giờ đầu. Tôi có tham gia một nhóm chuyên đọc sách giáo khoa và sách nghiên cứu ngôn ngữ học với nhiệm vụ nhặt ra những lỗi của tác giả (hầu hết là Giáo sư ngôn ngữ học) mà lẽ ra sinh viên năm thứ nhất đã học ngôn ngữ học dẫn luận trong ba tháng đầu năm không thể mắc phải (xem mục “Viết nhịu” trong Ngôn ngữ & Đời sống, tạp chí của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, trong đó đã đăng 10 kỳ gồm khoảng vài trăm lỗi về tri thức cơ bản). Trong các sách giáo khoa đại học, chúng tôi đã tìm thấy hơn 2.000 câu chứa đựng những lỗi như thế, và đối với khoảng 72% sách đại học có thể kết luận một cách hoàn toàn có căn cứ rằng có những tác giả chưa bao giờ học ngôn ngữ học hết hoặc đã quên hoàn toàn những tri thức đã học từ năm thứ nhất. Đó là chưa kể những sách giáo khoa “Nhập môn ngôn ngữ học” ngang nhiên phủ nhận tất cả những thành tựu ngôn ngữ học của toàn nhân loại bằng những nhận định “thiên tài” kiểu như “Xưa nay người ta cứ tưởng hai với hai là bốn, trong khi tôi đây đã phát hiện ra rằng 2 với 2 là 7” mà không thấy cần chứng minh lấy một câu nào, và lặp đi lặp lại hàng trăm lần trong một cuốn sách lẽ ra phải giới thiệu cho sinh viên những tri thức cơ bản được toàn thế giới và cả giới ngôn ngữ học Việt Nam công nhận.

    Những lỗi khó tưởng tượng như thế, bất kỳ ai đọc qua cũng thấy ngay, nhưng chưa từng có ai nêu lên, vì hình như nhiều người quan niệm rằng nêu lên như thế thì sẽ gây tranh luận làm mất đoàn kết trong nội bộ ngành ngôn ngữ học.

    Tôi đã có dịp nói điều này nhiều lần với các giáo sư dạy ngành khác. Phản ứng của họ làm tôi rất ngạc nhiên: té ra tất cả các ngành khoa học xã hội và nhân văn đều như vậy cả, và ai cũng tưởng chỉ riêng ngành mình biết mới tồi tệ như thế mà thôi. Về cuốn sách dẫn luận nói trên tôi đã lấy tư cách Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh gửi cho ông giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn (“đồng kính gửi” ông Bộ trưởng Bọ Giáo dục và Đào tạo) một bức thư dài kèm theo hơn 200 trang tư liệu, yêu cầu hai cơ quan này cho thanh tra ngay để kết luận về tác hại khổng lồ của cuốn sách và có biện pháp thu hồi nó lại. Thư và tài liệu gửi bảo đảm cho hai vị hữu trách trên từ năm 1997 mà nay vẫn chưa có hồi âm, kể cả công văn báo đã nhận thư cũng không có. Vậy thử hỏi còn có ai quan tâm đến giáo dục và khoa học nữa không? Và nói chung, những người được giao trách nhiệm và quyền lực để trông nom văn hóa và giáo dục công dân có làm việc ấy không, hay chỉ lo nghĩ đến cái ghế của mình?

    Một trong những bạn đồng nghiệp của tôi là ông Nguyễn Đức Dương, một trong những cán bộ ưu tú của Viện ngôn ngữ học Việt Nam, có viết bài phản đối việc cuốn sách này được xuất bản dưới danh nghĩa Bộ Giáo dục & Đào tạo, và sau khi tác giả phản công bằng những luận cứ cho thấy mình còn tệ hơn nhiều về tri thức ngôn ngữ học so với những điều sai trái trong cuốn sách đầy những chuyện bậy bạ của ông, tôi có viết một bài ngắn bênh vực ông Dương bằng những lý lẽ mà bất cứ ai đã từng đọc qua một cuốn sách nhập môn ngôn ngữ học cũng phải thấy rõ như ban ngày. Lập tức, tôi nhận được một loạt thư tỏ ý “không ngờ” một người như tôi lại “vô đạo đức” đến thế. Trong mấy bức thư ấy không có một lời nào nói rõ tôi đúng hay sai, và tác giả cuốn sách đúng hay sai. Có người còn viết rõ: “Khoa học thì mỗi người một ý, đã chắc gì ai đúng ai sai? Chỉ có chính trị mới có đúng có sai, mới phải thu hồi hay cấm phát hành. “Trong khoa học mà phê phán nhau là “sai” hay “phản khoa học” là một hành động thất đức”. hóa ra khoa học là như thế. Ai muốn nói gì cũng được: dù nói 2+2 là 5.000 hay 30 cũng đều được. Chỉ có trong chính trị mới có thể lên án người này là phản động hay hữu khuynh, người kia là tả khuynh (đây là cái tội nhẹ nhất mà người đi theo cách mạng có thể phạm) và dùng biện pháp chính quyền để trấn áp hay ban thưởng.

    Đây là một quan niệm hiện nay khá phổ biến: trong khoa học không có đúng sai. Ai muốn dạy ra sao thì dạy, ai thích dạy môn gì thì dạy, bất luận đã từng học qua môn ấy hay chưa, miễn là có đủ bằng cấp. Ai đã có những điều kiện và chứng chỉ hợp thức thì thi tiến sĩ hay phó tiến sĩ môn gì cũng đỗ, miễn là làm đủ thủ tục và được các “hội đồng” của trường và của Bộ công nhận.

    Có lần, tôi, với tư cách người phản biện, cho một nghiên cứu sinh đi thi tiến sĩ 1 điểm trên 10 sau khi chứng minh một cách tỉ mỉ rằng anh ta hoàn toàn không hiểu tiếng Việt và thua xa một học sinh tiểu học. Chủ tịch hội đồng (là một trong ba vị giám khảo do Bộ cử vào để cứu anh nghiên cứu sinh nọ khi tôi phản đối việc cho anh ta chính thức bảo vệ luận văn ở cấp nhà nước) kết luận rằng tôi hoàn toàn đúng trong từng chi tiết một. Nhưng vì biết tôi cho điểm thấp và muốn cứu anh thí sinh “dỏm” đó bằng bất cứ giá nào, hội đồng liền cho anh ta toàn điểm 8 và 9 cho nên rốt cục anh ta cũng đủ điểm để đỗ tiến sĩ, để tiếp tục dạy cho những sinh viên giỏi hơn mình rất nhiều. Cho đến nay, tôi vẫn không hiểu tại sao người ta lại phải cứu cho bằng được cái anh nghiên cứu sinh “dỏm” ấy mà không hề nghĩ đến việc cứu hàng chục thế hệ sinh viên vô tội sẽ phải nuốt những bài giảng sai lạc của anh ta.

    Sau buổi “bảo vệ luận văn” kỳ quặc ấy, nhiều người chê cười tôi là bất công mà không biết là mình bất công, vì nếu làm như tôi thì phải sổ toẹt hàng trăm bằng tiến sĩ, vì anh này còn viết được ba trăm trang chuyện tầm bậy, chứ hàng trăm anh khác không hề viết lấy một chữ, chỉ bỏ ra vài chục triệu thuê viết (do toàn thể hội đồng chấm thi bảo đảm), chỉ cần đọc bản tóm tắt, không cần xem lại toàn văn. Người ta còn nói thêm rằng ngay bằng tiến sĩ y khoa hay xây dựng mà cũng còn làm thế được, chứ ngôn ngữ học, văn học, sử học, hay ngay cả toán học nữa thì tiến sĩ có làm chết ai đâu mà sợ! Cái đáng sợ hơn cả là ngày nay những chuyện quái gở như thế đã được mọi người coi là bình thường, còn những người chống lại những hiện tượng tiêu cực tương tự lại bị coi là “hâm”, là “gàn dở”.

    Chẳng lẽ cơ sự bi đát đến thế ư? Tôi không tin rằng Bộ Giáo dục có thể chủ trương đào tạo ra những tiến sĩ “dỏm” để rồi các tiến sĩ này lại đào tạo ra hàng chục thế hệ “cử nhân dỏm”. Để làm gì mới được kia chứ? Để có một con số tiến sĩ và cử nhân hơn hẳn các nước khác (nhất là các nước cùng khu vực) có thể chứng tỏ tính ưu việt của chế độ ta chăng? Nhưng ngày nay ta đã mở cửa, giao lưu giữa các nước ngày càng rộng rãi. Uy tín của nước ta sẽ ra sao nếu những người có bằng tiến sĩ, cử nhân chỉ cần tiếp xúc với người nước ngoài trong năm phút đã lộ rõ ngay là không biết những điều sơ đẳng nhất trong nghề? Ai thèm hợp tác với mình nữa? Tiếc thay, hầu hết các giáo sư chân chính mà tôi hỏi đều mỉm một nụ cười rầu rĩ mà nói rằng thực trạng còn bi đát hơn rất nhiều.

    Có thể tôi chưa biết hết sự thật. Nhưng tôi thấy cái đáng sợ nhất không phải là có bao nhiêu trường hợp gian trá trong thi cử ở cấp đại học, những trường hợp ấy chiếm bao nhiêu phần trăm, mà là ở chỗ mọi người đều coi đó là chuyện bình thường, thậm chí dĩ nhiên, ai mà chẳng biết, chỉ có những người xa thực tế và gàn dở như tôi mới đi quan trọng hóa những chuyện ấy mà thôi. “Đời là thế cả mà!”. Thấy tôi gân cổ lên cãi, mọi người nhìn tôi với một nụ cười thương hại (“chả nhẽ tay này ngu thật, hay hắn giả vờ ?”).

    Nếu quả tôi không biết hết sự thật, thì giờ đây tôi có thể hiểu được những nguyên do khiến các sinh viên nghe tôi giảng đều ngạc nhiên và ngơ ngác. Mời một vài sinh viên học hành nghiêm túc về nhà hỏi chuyện, tôi được nghe hàng trăm chuyện khó tin, đại loại như: – Chỉ có thầy và vài ba thầy nữa dạy đủ số giờ, còn thì đều bắt đầu muộn chừng hai mươi phút, giữa giờ gọi chúng em đi uống nước mất vài mươi phút và thường cho về sớm nửa giờ. Điều đáng buồn nhất không phải là có những giảng viên như thế, mà là có một số lớn sinh viên rất thích học với những thầy như thế. Vì cái họ sợ và ghét nhất lại chính là HỌC. – Phần lớn các thầy cô đều lấy sách ra đọc chính tả cho chúng em chép suốt cả buổi. Em không hiểu tại sao thầy cô không cho chúng em mượn sách về photocopy cho thầy cô đỡ tốn công đọc và chúng em đỡ tốn công chép.

    – Vị giáo sư chuyên giảng môn “Phương pháp dạy đại học” chỉ mới tốt nghiệp trung học bổ túc, chưa bao giờ học đại học, cho nên nói toàn chuyện vớ vẩn (như “ở Mỹ giáo sư đại học chỉ bằng giáo viên cấp hai của ta”; đến khi em đứng dậy hỏi tại sao nhiều giáo sư Mỹ được giải Nobel thế, thì thầy ấy mắng em là “mất lập trường” vì tin một giải thưởng chống Cộng, và dọa đưa em ra Hội đồng kỷ luật).

    – Trong giờ học, thầy X. toàn kể những mối tình thơ mộng của thầy hồi du học bên Nga, cho nên trong giờ của thầy chúng em học được rất nhiều kinh nghiệm về luyến ái quan, nhưng lại không học được bao lăm về khoa học.

    Những chuyện tiếu lâm như thế không sao kể cho hết, và đều cho thấy một điều quan trọng: đại học là một nơi mà người ta tự cho phép muốn làm gì thì làm, cho nên càng làm cho sinh viên mất nốt lòng tin ở sự cần thiết của lao động học tập. Chút ít lòng hiếu học còn sót lại trong người đi học có nguy cơ bị diệt tận gốc.

    Hình như ngày nay chế độ thi cử đã khác, không còn có sự phân biệt thành phần giai cấp như hồi trước (thời những năm 60 – 80). Đó là một sự tiến bộ rất đáng mừng. Nhưng hậu quả của thời ấy chưa hẳn đã mất, vì những sản phẩm của thời ấy – những người thầy, những nhà khoa học có học hàm học vị nhưng không có tri thức, những người lãnh đạo các cơ quan chuyên môn không biết chuyên môn – vẫn còn giữ những vị trí then chốt trong từng ngành. Dù là ở các nhà trường hay ở các cơ quan, những hậu quả nói trên vẫn còn tác động đến xã hội ta. Để có một minh hoạ tiêu biểu, ta hãy lấy những điều mắt thấy tai nghe trên các phương tiện truyền thông đại chúng, vốn là những cơ quan có ảnh hưởng thường xuyên nhất đến và rộng rãi nhất đối với dân trí, và có thể cho thấy rõ cái truyền thống hiếu học trứ danh của dân ta ngày nay ra sao.

    Đài vô tuyến truyền hình có thể coi là nơi tập trung nhiều nhân tài nhất, gồm có đủ các ngành văn hóa, khoa học và nghệ thuật, đủ các ngoại ngữ thông dụng trên thế giới. Thế nhưng, hàng ngày, ta được nghe những lỗi tày trời về đủ các ngành văn hóa, những lỗi về cách dịch và cách phát âm từ đủ các thứ ngoại ngữ, trong đó có những lỗi mà chỉ cần chút ý thức học hỏi là có thể tránh được một cách dễ dàng – chỉ cần hỏi người bên cạnh là biết ngay, chứ chẳng cần đến một trình độ văn hóa phổ thông nào hết. Nhưng người phát thanh viên (hay người biên tập) không thèm hỏi, chính vì tưởng mình cái gì cũng biết rồi, không cần học hỏi gì ai khác nữa, nếu không phải là hoàn toàn vô trách nhiệm đối với công việc chuyên môn của mình. Vả lại, những lỗi này không bao giờ làm cho người phát thanh viên hay biên tập viên bị quở trách hay chê bai, và càng không có ai bị đuổi việc hay cách chức.

    Cứ lấy một vài trường hợp như cái tên Allah của đạo Hồi chẳng hạn, hay tên Jehovah (hay Javeh) của người Do Thái, vốn có nghĩa là “Thượng đế”, là “Trời”, nhưng từ bốn mươi năm nay đều dịch thành “thánh A-la” hay “thánh Giê-hô-va”. Ở nước ta có hàng trăm ngàn người theo Hồi giáo (nhất là ở dân tộc Chăm), sao không chịu hỏi? Ở ta cũng có hàng chục triệu người công giáo, chỉ cần hỏi là biết ngay, nhưng từ mấy chục năm nay, trong tin tức cũng như trong phim ảnh, người ta đều nói “Nhân danh Cha và Con và Các thánh thần, A-men”, không thèm hỏi một người công giáo bất kỳ để biết rằng đó là ba ngôi, ba vị, trong đó vị thứ ba là Thánh Thần, hay chính xác hơn nữa là Thánh Linh (Sanctus Spiritus) cùng làm thành một tổng thể là Thượng đế.

    Hay như tên gọi nước Mỹ (United States of America) cứ bị dịch thành “Hợp chủng quốc” mặc dầu đã có nhiều người lên tiếng mách bảo mấy lần.

    Tên gọi các nhân vật (chính khách, vận động viên, tác giả) người Trung Quốc, khi thì phát âm theo cách đọc Hán Việt, khi thì phát âm theo cách phiên âm La-tinh hóa, nhưng phát thanh viên lại không hề hỏi xem chữ phiên âm của Trung Quốc phải đọc như thế nào, cứ đọc bừa theo tiếng Anh hay tiếng Pháp, nghe hết sức kỳ cục. Có lẽ buồn cười nhất là cách đọc tên nữ cầu thủ quần vợt Nhật Date, được phát thanh viên đọc là “Đây-tờ” theo tiếng Anh, trong khi lẽ ra phải đọc là Đa-tê theo cách đọc chữ Romaji (rất dễ đọc) của người Nhật.

    Nhưng tiêu biểu nhất cho “tinh thần hiếu học” có lẽ là cách đọc chữ “n” của tiếng Tây Ban Nha (như trong el niño, và la niña) mà người ta cương quyết đọc là [n] như thể không hề trông thấy cái dấu “ngã” viết trên chữ cái n. Tôi nói “tiêu biểu” là vì nếu cái tinh thần hiếu học của dân ta còn tồn tại, thì một khi đã biết rằng n đọc là n, thì ñ tất nhiên phải đọc cách khác, chứ người Tây Ban Nha chẳng phải là một thứ người ngu xuẩn đến nỗi phải thêm một cái dấu “ngã” trên chữ n nếu ñ cũng chỉ đọc là n mà thôi. Người trông thấy chữ ñ ắt phải biết rằng đó là một chữ mà mình chưa học, và phải đi hỏi người khác mới biết được – nếu đương sự là một người còn có chút ít tính hiếu học. Đàng này, tuyệt nhiên không có ai thèm hỏi: mọi người đều cứ thế mà đọc “en nino” và “la nin a” như đọc chữ quốc ngữ. Dĩ nhiên, những lỗi như thế không có gì là quan trọng, nhưng nó rất tiêu biểu cho tinh thần hiếu học của đương sự: những điều đơn giản như thế mà còn không buồn hỏi, huống hồ là những chuyện khó hơn? Chỉ riêng một hiện tượng ấy thôi, thiết tưởng cũng đủ cho thấy rằng cái “tinh thần hiếu học” cổ truyền đã hoàn toàn biến mất trong những con người được xã hội đã giao cho một nhiệm vụ quan trọng là truyền bá văn hóa trong đại chúng.

    Đặc biệt là những lỗi về tiếng Việt, những cách dùng từ sai, những câu bất thành cú (thường là vì cách dịch sát từng chữ do tính cẩu thả của những người dịch tin nước ngoài truyền bá), đã được nêu lên không biết bao nhiêu lần từ hơn nửa thế kỷ nay mà các biên tập viên cũng cứ lặp lại hàng mấy chục lần trong một buổi truyền hình hay phát thanh, và cứ mỗi năm lại được bổ sung thêm hàng chục kiểu lỗi mới phát minh. Những người lớn có văn hóa chỉ khinh bỉ nhún vai, nhưng thế hệ trẻ, nhất là học sinh tiểu học hay trung học cơ sở, thì lại tưởng đâu đó là một kiểu nói “hiện đại” hơn, vội vàng bắt chước, hoặc tuy không cố bắt chước nhưng nghe nhiều lần đâm quen, không thấy chướng tai nữa, và cứ thế thói nói ẩu, viết ẩu dần dần phổ biến, và rốt cục tiếng Việt trở thành một thứ tiếng tạp nham không còn có quy tắc ngữ pháp gì nữa. Nhiều nhà ngữ học đã tiên đoán rằng chỉ mươi năm nữa, nhờ ảnh hưởng của những câu văn dịch Tây đặc giống cách nói của những ông Tây mới học tiếng Việt được ba tuần được nghe hàng ngày trên đài truyền hình, tiếng Việt sẽ chết hẳn như những thứ tiếng đang chết hàng mấy chục mỗi năm trên hành tinh chúng ta.

    Để kết luận cho bài tham luận đã khá dài này, tôi chỉ xin bày tỏ một niềm tin rằng chừng nào tính hiếu học hãy còn thoi thóp trong một số người Việt bất chấp sự khinh miệt của xã hội, ta còn có thể hy vọng rằng sẽ có lúc nó được hồi sinh, vì đó là một trong những đức tính cao quý nhất của con người. Nhưng chỉ với điều kiện là chúng ta phải ra sức duy trì nó bằng tất cả tấm lòng, bất chấp xã hội, bất chấp thời cuộc, bất chấp cơ chế thị trường và những thói rởm đời đi đôi với nó, vì coi khinh học thức chính là dấu hiệu chắc chắn nhất của sự suy vong của dân tộc.

    あるのどかな片隅に

    Nodokanayatsuomachi

    子供の時、もし自分が大人になったら、偉い科学者になりたいと思っていました。その科学者は、どこかのどかな山村に住みながら、研究をします。彼の研究は偉大ですが、世間で彼はあまり知られていません。そんな科学者になれたらいいのにと思っていました。

    夢は変わりましたが、現在私は、本当に美しく平和な場所に住んでいます。その場所の写真を見せたいとおもいます。ほとんど会社から家に帰りみちに撮った写真です。時々、カメラを持って散歩することもあります。

    八尾町長閑な山村 (82)
    八尾町長閑な山村 (46)
    八尾町長閑な山村 (49)
    Nodokanayatsuomachi5
    八尾町長閑な山村 (48)
    八尾町長閑な山村 (47)
    八尾町長閑な山村 (45)
    八尾町長閑な山村 (44)
    八尾町長閑な山村 (43)
    八尾町長閑な山村 (42)
    Nodokanayatsuomachi4
    八尾町長閑な山村 (41)
    八尾町長閑な山村 (40)
    八尾町長閑な山村 (39)
    Nodakanayamamura4
    八尾町長閑な山村 (38)
    八尾町長閑な山村 (37)
    八尾町長閑な山村 (36)
    八尾町長閑な山村 (35)
    八尾町長閑な山村 (34)
    八尾町長閑な山村 (33)
    八尾町長閑な山村 (32)
    八尾町長閑な山村 (31)
    八尾町長閑な山村 (30)
    八尾町長閑な山村 (29)
    八尾町長閑な山村 (28)
    八尾町長閑な山村 (27)
    八尾町長閑な山村 (26)
    八尾町長閑な山村 (25)
    Nodokanayatsuomachi2
    八尾町長閑な山村 (24)
    八尾町長閑な山村 (23)
    八尾町長閑な山村 (22)
    八尾町長閑な山村 (21)
    八尾町長閑な山村 (20)
    八尾町長閑な山村 (19)
    八尾町長閑な山村 (18)
    八尾町長閑な山村 (17)
    八尾町長閑な山村 (16)
    八尾町長閑な山村 (15)
    八尾町長閑な山村 (14)
    八尾町長閑な山村 (13)
    八尾町長閑な山村 (12)
    八尾町長閑な山村 (11)
    八尾町長閑な山村 (9)
    八尾町長閑な山村 (8)
    八尾町長閑な山村 (7)
    八尾町長閑な山村 (6)
    八尾町長閑な山村 (5)
    八尾町長閑な山村 (4)
    八尾町長閑な山村 (3)
    八尾町長閑な山村 (2)
    八尾町長閑な山村 (135)
    八尾町長閑な山村 (1)
    八尾町長閑な山村 (150)
    八尾町長閑な山村 (149)
    八尾町長閑な山村 (148)
    八尾町長閑な山村 (147)
    八尾町長閑な山村 (145)
    八尾町長閑な山村 (144)
    八尾町長閑な山村 (70)
    八尾町長閑な山村 (69)
    八尾町長閑な山村 (68)
    八尾町長閑な山村 (67)
    八尾町長閑な山村 (66)

    八尾町長閑な山村 (143)
    八尾町長閑な山村 (142)
    八尾町長閑な山村 (141)
    八尾町長閑な山村 (71)
    八尾町長閑な山村 (72)
    八尾町長閑な山村 (73)
    八尾町長閑な山村 (74)
    八尾町長閑な山村 (75)
    八尾町長閑な山村 (76)
    八尾町長閑な山村 (77)
    八尾町長閑な山村 (78)
    八尾町長閑な山村 (79)
    八尾町長閑な山村 (122)
    八尾町長閑な山村 (80)
    八尾町長閑な山村 (81)
    八尾町長閑な山村 (140)
    八尾町長閑な山村 (119)
    八尾町長閑な山村 (137)
    八尾町長閑な山村 (118)
    八尾町長閑な山村 (136)
    八尾町長閑な山村 (117)
    八尾町長閑な山村 (131)
    八尾町長閑な山村 (116)
    八尾町長閑な山村 (130)
    八尾町長閑な山村 (114)
    八尾町長閑な山村 (129)
    八尾町長閑な山村 (115)
    八尾町長閑な山村 (128)
    八尾町長閑な山村 (123)
    八尾町長閑な山村 (127)
    八尾町長閑な山村 (126)
    八尾町長閑な山村 (125)
    八尾町長閑な山村 (124)
    八尾町長閑な山村 (84)

    八尾町長閑な山村 (132)
    八尾町長閑な山村 (113)
    八尾町長閑な山村 (109)
    八尾町長閑な山村 (120)
    八尾町長閑な山村 (52)
    八尾町長閑な山村 (133)
    八尾町長閑な山村 (51)

    八尾町長閑な山村 (138)
    八尾町長閑な山村 (108)
    八尾町長閑な山村 (53)
    八尾町長閑な山村 (63)
    八尾町長閑な山村 (54)
    八尾町長閑な山村 (62)
    八尾町長閑な山村 (55)
    八尾町長閑な山村 (61)
    八尾町長閑な山村 (56)
    八尾町長閑な山村 (60)
    八尾町長閑な山村 (57)
    八尾町長閑な山村 (59)
    八尾町長閑な山村 (58)
    八尾町長閑な山村 (64)
    八尾町長閑な山村 (65)
    八尾町長閑な山村 (85)
    八尾町長閑な山村 (90)
    八尾町長閑な山村 (105)
    八尾町長閑な山村 (106)
    八尾町長閑な山村 (91)
    八尾町長閑な山村 (94)
    八尾町長閑な山村 (107)
    八尾町長閑な山村 (134)
    八尾町長閑な山村 (111)
    八尾町長閑な山村 (93)
    八尾町長閑な山村 (146)
    八尾町長閑な山村 (86)
    八尾町長閑な山村 (112)
    八尾町長閑な山村 (83)
    八尾町長閑な山村 (100)
    八尾町長閑な山村 (88)
    八尾町長閑な山村 (87)
    八尾町長閑な山村 (95)
    八尾町長閑な山村 (89)
    八尾町長閑な山村 (104)
    八尾町長閑な山村 (103)
    八尾町長閑な山村 (99)
    八尾町長閑な山村 (98)
    八尾町長閑な山村 (97)
    八尾町長閑な山村 (92)
    八尾町長閑な山村 (101)
    八尾町長閑な山村 (96)
    八尾町長閑な山村 (139)
    八尾町長閑な山村 (102)
    八尾町長閑な山村 (1)

    最後まで読んでくれてありがとうございます。いい一日をね  ( ˆᴗˆ )

    故郷

    I was born and raised in Hanam, a small province blessed with beautiful scenery in Northern Vietnam.

    ベトナムの美しい景色に恵まれた小さな省であるハナム県(河南)で生まれ育ちました。


    出典:ウィキペディア

    Spectacular mountain ranges, immense rice paddies, and lotus flower fields are commonplace scenery in Hanam.

    壮大な山脈や広大な水田や蓮の花畑は、ハナムではありふれた風景です。

    On my way home
    Sunset
    Hometown paddy field

    The photos above are the scenery on the way from my house to my grandmother’s, all taken in recent years. The photo of sunset is by my cousin. I wish I had had a decent camera when I was a kid. My hometown was so beautiful that words alone are unable to describe.

    上にあるのは、実家から祖母の家の道の風景です。夕焼けの写真は従兄弟が撮ったです。子供のころ、まともなカメラがあったらよかったのに。言葉では説明できないほど美しいところに住んでいましたから。

    Spring Planting

    People planting rice on paddies near my grandma’s house. Spring 2017

    おばあちゃんの家の近くの田んぼに田植えをする人。 2017年の春

    A land steeped in history and tradition, Hanam is home to a lot of pagodas and famous places with cultural festivals.

    歴史と伝統に恵まれたハナムには、多くのお寺や名所があり、祭も多いです。

    Tam Chuc Pagoda

    Tam Chuc Pagoda (in construction – 2019). This is Vietnam’s largest pagoda.

    タムチュック寺 (建設中ー2019)。これは世界最大のお寺の一つです。

    LongDoiSonTu

    Doi Pagoda (2018) – a national heritage near my grandmother’s house. When I was small, my cousins and I would usually visit this pagoda on occasions of family gathering because it is near, and the view from the mountain it located in is very nice.

    崇善延齡寺 (2018)。祖母の家の近くにあるベトナムの国家遺産。子供の時、そのお寺らからの眺めもいいし、お寺はちかいし、よく従兄弟たちとここに遊びに行きました。

    Smiles

    Smiling girls in Doi Son Ploughing Festival – a festival dating back to over 1000 years ago (2019). A cousin of mine is among these cheerful girls.

    耤田祭りで笑顔の女の子(2019)。この祭りは、千年以上の歴史を持っています。自分の従妹は、この女性たちのうちの一人です。

    I was not an active kid. Most of the time I preferred staying home doing homework, reading, or assembling some simple stuff. But my cousins – my aunt’s children, who lived nearby – would usually coax me into playing outside. Thanks to them, now I could say I was growing up watching stars at summer nights, running in the early morning with the neighbor kids, flying kites in windy afternoons, helping my parents on our paddy fields, and so forth. This little hometown was my entire childhood world, a colorful and happy one. However, when I left Hanam 12 years ago, I realized that my hometown is not that special, compared to my friends’. I did not miss my family so much, either. Thus, I was thinking that it is totally fine to live far away.

    子供時、あまり外にでてあそびたくないですが、いとこはよく牧草地などに遊びに行くように言ってくれました。夏の夜に星を見たり、風の強い午後に凧を飛ばしたりして育ちました。水田で両親のお手伝いもしました。故郷は子供時代の興味をそそる世界でした。しかし、ハナムを離れたとき、ほかの地域の話を聞いて、自分の故郷だけが特別ではないと感じました。その時は、家族もあまり恋しくなかったので、遠くに住んでいても大丈夫だと思っていました。

    Ichiba

    A stall in our local market (2018). Pictures like this always remind me of the times I followed my mom to the market when I was a kid.

    地元の市場での屋台 (2018)。いつもこんな懐かしい写真を見ると、子供の頃に母親を市場に連れて行ってくれた時を思い出します。

    Then this year, during Vietnam’s Tet Holiday, suddenly I missed my family so badly. I missed the cozy family meals, the atmosphere of Tet. I was wrong all along. Living far from my hometown is not fine, it is just because I was able to go home whenever I wanted. Now that the pandemic is still ravaging the world, I realized that the inseparable bond with my hometown has always been there. In the same way that Harper Lee would put it, until I realized that going home may one day become this difficult, I never knew how much I love that beautiful small land. – “One does not love breathing.”

    その後、今年のベトナムのお正月(テット)に、突然激しく家族が恋しくなりました。居心地の良い家族の食事、テットの雰囲気を思い出しました。故郷から遠く離れたところに住むのは大丈夫ではありませんでした。以前は好きなときに帰ることができたからです。あまり帰れなくなって、出身地のかけがえのない絆がずっとあることに気づきました。

    Above is a song about my hometown. The first time I heard it, I was living in Hanoi. Today, I listened to this song, again and again. I didn’t expect that a song with many clichés like this one could make me so moved. But, there is one reason for a cliché to become cliché: in the first place, it is so good an expression that finding a better alternative is difficult, and people naturally tend to repeat it.

    There are some more songs about my hometown on Youtube that I couldn’t put here. If you are also from Hanam, maybe you’ll want to listen to other songs as well.

    上のリンクは実家のあるハナム県をうたった歌です。 初めて聞いたとき、私はハノイに住んでいました。 今日、この歌を何度も聞きました。 故郷を懐かしむといったお決まりの歌詞の曲ですが、図らずも結構感動してしまいました。 しかし、お決まりの歌詞が決まりになる理由は1つあります。そもそも、代わりを見つけにくいほどよい歌詞だったから、人々は自然にそんな歌詞何度も繰り返します。

    上の歌を是非聞いてください。

    Các môn học ở THPT có quá khó và xa rời thực tế?

    Đây là một câu hỏi trên Noron. Vì câu trả lời hơi dài, nên tôi chuyển nó thành bài viết. Nội dung này đã được đăng trên cùng trang web.


    From my class of Microprocessing. It was simple, since our professor had never meant to teach us something we could directly apply upon joining a company. What he taught us was far more important.

    Một phương pháp để tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi chưa trả lời được là đặt ra nhiều câu hỏi hơn. Từ câu hỏi của bạn có thể trực tiếp thấy ba câu hỏi dưới đây: (Từ đây đến hết câu trả lời này, để ngắn gọn, Toán được dùng để chỉ tất cả các môn Toán, Lý, Hóa, Sinh.)

    i) Có nhiều người phải sử dụng những kiến thức Toán cấp 3 để thi và học lên cao không?

    ii) Chúng ta có phải sử dụng những kiến thức đó khi đi làm không?

    iii) Học sinh nước ngoài có học những kiến thức như vậy không?

    Tôi có vài ý kiến nhỏ thế này với chúng.

    i) Tất cả những người thi đại học chọn khối có môn Toán đều phải dùng những kiến thức đó để thi. Kiến thức các môn tự nhiên ở cấp ba cần thiết cho các ngành có liên quan ở ĐH. Các ngành KHTN, kỹ thuật và kinh tế dùng rất nhiều toán. Nói cách khác, những kiến thức được dạy ở cấp ba là cần thiết với nhiều người.

    ii) Tùy vào công việc của chúng ta. Người làm kỹ thuật dùng một phần lớn kiến thức đó, dù không phải tất cả. Người trông xe thì dùng một phần nhỏ những kiến thức đó. Ngành học không quyết định việc làm nên cũng không nói được gì nhiều ở đây. Có điều, cũng như những tài sản khác, kiến thức cho bạn quyền lựa chọn. Một nghiên cứu sinh có thể đi làm bảo vệ (thực ra là có khá nhiều trường hợp như vậy ở Mỹ. Một người bạn của tôi ngày trước ở Nhật cũng làm bảo vệ vào cuối tuần khi đang chờ học bổng, dù đang làm PhD.) Ngược lại, người làm bảo vệ thì nhìn chung không có nhiều cơ hội và khả năng để làm những việc mà các nghiên cứu sinh hoặc tiến sỹ thường làm.

    iii) Cần phải nói rõ nước ngoài là nước nào, vì các nước khác nhau thì khác nhau. Khi so sánh với Việt Nam, tôi thấy thế này. Chương trình dự bị vào các trường lớn của Pháp khá nặng. Toán ở trình độ A level ở nhiều nước tương đồng với VN, và có phần dễ hơn. SAT thì tương đối dễ, học sinh chuyên toán lớp 10 của VN có thể làm SAT 2 mà không có vấn đề gì. Chương trình Toán phổ thông của Ấn Độ giống chương trình mà tôi đã học ở VN. Chương trình của Trung Quốc thì cũng tương tự, có điều trong phần tự chọn của họ có một số nội dung mà ở VN phải lên ĐH mới được học, hoặc thậm chí lên ĐH cũng không được học vì chúng không nằm trong phần toán cao cấp (đại cương) của chúng ta. Chương trình của Nga có vẻ cũng khó, người Nga và người TQ sang Mỹ du học thì thường trở thành những ngôi sao về toán trong lớp của họ. Nói ngắn gọn là chương trình ở VN không phải quá khó, không ít nước có chương trình tương đương hoặc khó hơn.

    Quay trở lại với câu hỏi ban đầu, thì đúng là không phải tất cả mọi người học xong cấp 3 sẽ dùng những kiến thức đó, với một số người thì chúng khó và không cần thiết.

    Nhưng nếu dừng lại ở đây thì chẳng có gì thú vị cả, hãy hỏi thêm một số câu hỏi nữa.

    Sẽ có rất nhiều điều làm chúng ta băn khoăn. Sẽ tốt hơn cho cuộc sống của chúng ta nếu ta đặt câu hỏi để hiểu vấn đề, chứ không phải để cảm thán hay chỉ trích. Chẳng hạn, chuyện kiến thức cấp ba khó và không cần thiết với một số người thì có thật, nhưng vì sao? Nếu không giải quyết được khúc mắc này thì nhiều khả năng người hỏi câu hỏi ban đầu sẽ rơi vào trạng thái tiêu cực và luôn phê phán chứ không xây dựng, hoặc ít nhất cũng là thấy bứt rứt khó chịu mỗi khi nghĩ về “Toán cấp ba.” Nếu tin rằng hầu hết mọi việc đều có nguyên nhân của nó, và mọi quy tắc hay hệ thống đều là do con người làm ra, ta có thể hỏi những câu thế này:

    iv) Tại sao những người làm giáo dục lại thiết kế chương trình như vậy?

    v) Nếu không phải tất cả học sinh sau này đều phải dùng những kiến thức đó, có nên thay đổi để chỉ những người cần mới phải học không?

    vi) Khi chương trình đơn giản hơn, có lợi ích thiết thực gì không?

    Chương trình cấp ba đang ở trình độ như hiện nay, không phải là chỉ ở mỗi VN, mà nhiều nước đều như vậy. Những người làm chương trình như thế thường là có hiểu biết. Họ không phải là những ông giáo sư sống trong tháp ngà chẳng biết gì về những nỗi khổ của học sinh. Trước hết, họ cũng từng là học sinh. Hơn nữa, ở Việt Nam nhiều người trong số họ còn trực tiếp dạy học sinh phổ thông, dù phần lớn họ là giảng viên đại học. Họ có lý do đủ tốt để làm ra chương trình như ta đang thấy. Thế lý do đó là gì?

    Đến đây tôi thấy có một câu hỏi quan trọng khác:

    vii) Mục tiêu của giáo dục THPT là gì?

    Các nhà giáo dục dựa vào mục tiêu để làm chương trình. Vì thế, nếu ta thấy chương trình của họ rất có vấn đề, thì không cần biết ta hiểu như thế nào về mục tiêu giáo dục, có thể nói rằng cách hiểu của chúng ta khác với các nhà giáo dục. Việc họ không truyền tải được mục tiêu giáo dục cho chúng ta, để ta hiểu học để làm gì, và để ta hiểu tại sao chương trình THPT lại có vẻ khó thế, là thất bại của họ – những nhà giáo dục.

    Tôi không bàn đến chuyện “Học để làm gì?” ở đây. Đó là vấn đề quá rộng. Tôi chỉ có một vài ý kiến về “Mục tiêu của giáo dục THPT.” Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm, hãy google “Luật Giáo dục Việt Nam 2019,” bạn sẽ có thể đọc toàn văn Luật Giáo dục, với một mục về mục tiêu giáo dục ở từng cấp học.

    Đầu tiên, giáo dục THPT không có mục tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức thông thường trong đời sống. Đó là mục tiêu của giáo dục Tiểu học, hay THCS. Trong khi Việt Nam phổ cập GD Tiểu học và THCS, chúng ta không phổ cập GD THPT. Nói một cách khác, Nhà Nước muốn người dân ít nhất đạt được trình độ THCS, còn từ THPT trở lên, việc học là lựa chọn từ phía người học. Học sinh chọn vào học bậc THPT rồi than khó thì cũng giống như vì muốn thân hình đẹp mà tập gym rồi khi tập thì than mệt, hoặc muốn lương cao nên vào công ty yêu cầu cao rồi khi công việc căng thẳng lại trách công ty. Không có thứ nào thật sự tốt đẹp mà lại đến một cách dễ dàng. Ngay từ đầu đó là lựa chọn của bản thân mà thôi, không ai ép ta làm những việc ấy cả. Hoặc trong một số trường hợp đặc biệt, thì phải trách phụ huynh, gia đình, chứ chương trình đào tạo không có lỗi.

    Những ai không hiểu rằng giáo dục THPT không phải là giáo dục phổ cập thì thường xem nhẹ sự danh giá của nó và có thể nghĩ rằng nó khó một cách phi lý. Nhiều người trẻ không hề có một ý niệm gì về việc ở thời của ông cha chúng ta, tốt nghiệp tiểu học đã là một thành tích. Chưa đầy một trăm năm trước, cả nước chỉ có vài trường ngang với cấp ba bây giờ, và những người học được đến cấp ba nếu không phải là những người có tài năng xuất chúng, trí tuệ hơn người thì cũng là những người chăm chỉ, giỏi giang. Khi ấy, thi qua lớp 11 đã có bằng Tú tài 1, thi qua lớp 12 sẽ có bằng Tú tài Toàn phần, đã bước vào tầng lớp trí thức trong xã hội và có thể đi dạy. Đó thật sự là một thành tích, mà chỉ một số ít người trong xã hội có điều kiện và năng lực trí tuệ để đạt được. Nếu bạn đọc các học giả trước đây của ta viết về thời họ học trung học, có thể cách nhìn của bạn sẽ thay đổi, bạn có thể sẽ nghĩ chương trình THPT đang dễ hơn trình độ mà nó đáng là. Cách mà người ta đang làm với giáo dục phổ thông hiện nay làm xã hội rẻ rúng giá trị của nó, và tất nhiên nếu có ai nghĩ rằng nó chỉ xứng đáng với những kiến thức tầm thường thì cũng có thể hiểu được. Nhưng theo tôi, giá trị của giáo dục THPT không phải chỉ như nhiều người đang nghĩ, và việc hơn 99% học sinh có thể tốt nghiệp sau lần thi tốt nghiệp đầu tiên là bất thường chứ không hề bình thường.

    Thứ hai, rất nhiều thứ được dạy cho chúng ta vốn không phải để chúng ta dùng, ít nhất là trực tiếp dùng. Khi tôi học cấp ba, có lần một trong số các thầy của tôi, khi ấy đã ngoài 70, nói với chúng tôi rằng: “Các cháu học mấy cái này không phải để dùng ở ngoài đời. Các cháu học để biết cách tư duy.” Đó là những lời chí lý. Không có nhiều người trong số chúng ta sau này phải biết cách tính thời gian từ lúc một giọt nước mưa hình thành cho đến lúc vận tốc rơi của nó ổn định, hay tính diện tích một bề mặt kỳ dị nào đó, nhưng nhờ học những thứ như thế suốt những năm tháng phổ thông mà chúng ta biết cách nhận định những sự việc trong cuộc sống, biết đối mặt với những vấn đề chúng ta chưa giải quyết được, và quen với việc tìm phương pháp để xử lý các vấn đề như thế.

    Có nhiều học sinh cấp ba nhiều năm sau sẽ phải làm ra những con đường an toàn, xây dựng những cây cầu chắc chắn, chế tạo những robot thông minh, v.v., một số ít thậm chí phải quyết định chính sách kinh tế cho nơi họ sống, xây dựng phác đồ điều trị cho những căn bệnh chưa từng xuất hiện, v.v.. Những thầy cô của họ thời còn đi học có thể không dạy được cho họ rằng cụ thể phải làm gì trong những tình huống ấy, nhưng những kỹ năng và kinh nghiệm đã được tích lũy từ thời đi học chắc chắn sẽ có vai trò quan trọng. Những kỹ năng và kinh nghiệm ấy góp phần hình thành nhân sinh quan và hiểu biết thông thường về cuộc sống, nên nó cần thiết cho tất cả mọi người chứ không chỉ những người làm kỹ thuật hay phải quyết định việc quốc gia đại sự. Chẳng hạn, nếu bạn quen với việc suy nghĩ, bạn sẽ thấy mọi cái Ponzi Scheme, từng rất phổ biến ở Việt Nam, đều là lừa đảo. Cái đó không cần kiến thức kinh tế, chỉ cần chịu suy nghĩ mà thôi.

    Nếu bạn nói những kiến thức ở cấp 3 không thực tế thì đúng, nhưng khó thì không. Ngược lại, những kiến thức và công cụ mà học sinh học ở phổ thông là quá thô sơ và không thể áp dụng được để giải quyết những vấn đề thực tế. Thậm chí kiến thức ở đại học cũng không đủ. Đó là lý do mà không ít người đoạt giải Nobel vì những nghiên cứu ở công ty của họ. Tức là, vấn đề không nằm ở kiến thức, mà nằm ở cách tư duy, là thứ mà người ta cố gắng, và nên cố gắng hướng dẫn học sinh từ phổ thông.

    Tư tưởng đào tạo cho tư duy của người học về lâu dài chứ không vì mục tiêu trước mắt này được thể hiện rất rõ ràng trong câu chuyện về lực lượng Talpiot của Israel. Bỏ qua bản chất thực dân và sự đàn áp tàn bạo của quân đội Israel đối với dân thường ở Gaza và Bờ Tây, những điều họ làm đáng được tham khảo.

    Nhưng trong quân đội Israel còn một đơn vị với sự lựa chọn cực kỳ nghiêm ngặt và huấn luyện hà khắc ở mức cao hơn, đặc biệt trong lĩnh vực cải tiến công nghệ. Đơn vị này là Talpiot.

    Mỗi năm, 2% học sinh phổ thông xuất sắc nhất của Israel, khoảng 2000 người – được yêu cầu tham gia. Và cứ mười người thì chỉ có một người vượt qua được hàng loạt bài sát hạch, chủ yếu về vật lý và toán học. Hai trăm ứng viên này sau đó phải trải qua một cuộc kiểm tra kéo dài hai ngày về năng khiếu chuyên sâu và nhân cách. Một khi được gia nhập chương trình, học viên Talpiot phải trải qua văn bằng đại học cao cấp cho các môn toán học hoặc vật lý, cùng lúc làm quen với những nhu cầu công nghệ tại mọi chi nhánh thuộc quân đội Israel. Chương trình học thuật họ được đào tạo vượt xa kiến thức của một sinh viên đại học bình thường, ở Israel hay bất kỳ đâu – họ phải học nhiều hơn trong thời gian ngắn hơn.

    Tuy nhiên, cung cấp một lượng lớn các loại kiến thức cho học viên lại không phải mục tiêu cuối cùng của chương trình. Mục tiêu xa hơn, là để biến họ thành những nhà lãnh đạo có định hướng nhiệm vụ và có khả năng giải quyết các vấn đề. Họ đạt được mục tiêu đào tạo này bằng cách liên tục giao cho học viên các nhiệm vụ với những chỉ dẫn tối thiểu. Vài nhiệm vụ rất bình thường như tổ chức hội thảo giữa các học viên, đòi hỏi sự điều phối giữa diễn giả, thiết bị và cơ sở vật chất, vận chuyển và thực phẩm. Những nhiệm vụ khác thì phức tạp hơn như xâm nhập vào mạng viễn thông của một nhóm tổ chức khủng đang hoạt động. Nhưng điển hình nhất là việc buộc học viên phải tìm ra giải pháp tổng thể cho từng vấn đề quân sự cụ thể. Ví dụ, một nhóm học viên phải giải quyết chứng đau lưng nghiêm trọng mà phi công trực thăng mắc phải do rung động từ động cơ cánh quạt.

    Tuy nhiên, dù việc đào tạo Talpiot được tối ưu hóa để duy trì thế mạnh công nghệ của quân đội Israel, sự kết hợp của kinh nghiệm lãnh đạo với kiến thức kỹ thuật là rất lý tưởng nếu được áp dụng để thành lập các doanh nghiệp mới. Mặc dù chỉ có 650 người tốt nghiệp chương trình trong 30 năm qua, họ đã trở thành một trong số những học giả và người sáng lập các doanh nghiệp thành đạt hàng đầu của Israel. NICE Systems, tập đoàn quốc tế đằng sau những hệ thống giám sát cuộc gọi được 85 trong số 100 doanh nghiệp thuộc nhóm Forbes 100 sử dụng, do một nhóm “Talpion” sáng lập. Compugen cũng thế, đây là công ty dẫn đầu về giải mã bản đồ gien người và phát triển thuốc. Nhiều công ty công nghệ của Israel có mặt trên NASDAQ đều do các Talpion thành lập hoặc có cựu sĩ quan Talpion nắm giữ những vị trí chủ chốt. […] 2/3 sĩ quan Talpiot tốt nghiệp dù làm trong giới học thuật hay các tập đoàn công nghệ cũng tiếp tục có những đóng góp to lớn cho xã hội và cho nền kinh tế, giúp củng số sức mạnh của đất nước theo nhiều cách các nhau.

    Quốc gia Khởi nghiệp – Dan Senor, Saul Singer

    Học sinh có tư tưởng học để thi thì dễ thấy chương trình nặng một cách vô lý. Học sinh học để trở thành người biết cách giải quyết vấn đề thì không, ngược lại, họ hào hứng với những câu hỏi hóc búa. Chương trình học quá dễ thì không thể đào tạo ra những con người có khả năng đương đầu với những vấn đề xã hội sẽ đặt ra.

    Trước khi hiểu rõ rằng tư duy và năng lực giải quyết vấn đề, chứ không phải những kiến thức cụ thể, mới là quan trọng, tôi từng thấy việc sinh viên ra trường làm trái ngành là một bất cập. Tất nhiên đến giờ vẫn không thể nói đó là một việc tốt, nhưng nó không tệ như ta tưởng, và nó có lý do hợp lý để xảy ra. Trừ sinh viên một số ngành đặc thù cần rất nhiều thời gian rèn luyện và tích lũy, chẳng hạn y dược, luật, quân đội, chuyện làm việc ở ngành gần hay thậm chí không liên quan sau khi tốt nghiệp không phải là hiếm ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Nhật, chuyện học lịch sử hay văn học rồi sau đó làm lập trình viên thậm chí còn rất phổ biến. Tất nhiên, ít nhiều có một sự lãng phí các nguồn lực của xã hội khi mà sinh viên ra trường không làm đúng ngành, sự lãng phí có thể sẽ không xảy ra nếu mọi sinh viên đều có định hướng cuộc đời rõ ràng ít nhất ở mức độ như sinh viên các ngành đặc thù nêu trên. Tuy nhiên, bản chất của cuộc sống là vận động, mọi kế hoạch đều rất có thể phải thay đổi. Hơn thế, nếu chúng ta nhìn nhận đại học như nơi để con người rèn luyện tư duy, cách làm việc, và hoàn thiện nhân cách, hơn là nơi cho người ta những kiến thức để ra ngoài đời có thể làm việc ngay, thì việc nhiều người làm trái ngành học trở nên rất dễ hiểu.

    Thứ ba, bộ não của chúng ta rất linh hoạt. Năng lực của chúng ta có thể thay đổi để thích ứng với hoàn cảnh. Rèn luyện tư duy cũng giống như rèn luyện cơ bắp. Nếu bạn ngừng tập luyện, cơ bắp của bạn sẽ ngừng phát triển, hay thậm chí teo lại. Để duy trì trạng thái cơ thể, các vận động viên phải không ngừng tập luyện. Để mạnh hơn, họ phải tập luyện những bài tập ngày càng có yêu cầu cao hơn. Điều này cũng giống như trường hợp của bộ não của chúng ta. Nếu chúng ta quen với những thứ đơn giản, bộ não thích ứng với việc suy nghĩ đơn giản. Nếu chúng ta chỉ đọc những thứ nhảm nhí, bộ não sẽ quên đi việc suy nghĩ những điều nghiêm túc. Nói một cách đơn giản, nếu học toán đến cấp ba mà vẫn quanh quẩn với mấy thứ học sinh cấp dưới cũng hiểu được, thì chúng ta sẽ mất đi khả năng tư duy. Trong khi đó, cuộc sống luôn luôn đặt ra vấn đề để chúng ta giải quyết, và những vấn đề ấy thường không dễ như những bài toán ta được học ở cấp ba hay đại học. Các bạn đang làm những công việc mà bản thân thấy không cần dùng nhiều kiến thức, hãy nhớ lại thời đi học, có phải khi ấy các bạn nhanh nhạy hơn cả bây giờ không?

    Không chỉ những vấn đề trong cuộc sống của mỗi người trở nên phức tạp hơn, mà những vấn đề của cả loài người cũng vậy. Trước đây người ta chỉ phải lo kiếm đủ ăn, giờ thì còn phải lo ứng phó với biến đổi khí hậu, tìm kiếm các nguồn năng lượng mới, phòng thủ trên không gian mạng, làm việc với trí tuệ nhân tạo, v.v. Không phải chỉ kiến thức của cấp học sau khó hơn cấp học trước, mà kiến thức mỗi thế hệ cần lĩnh hội trước khi bước ra đời cũng nhiều hơn thế hệ trước. Không chỉ bộ não của mỗi người biến đổi trong cuộc đời họ, mà trí tuệ của con người như một giống loài cũng tiến hóa xuyên suốt chiều dài lịch sử. Trong cuốn “Con đường dẫn đến tài năng” của Lê Nguyên Long và Thế Trường, hai tác giả có nhắc đến một bức thư từ vài ngàn năm trước. Đó là bức thư từ một bậc thầy toán học trả lời một thương gia gửi gắm con mình cho ông. Vì đã nhiều năm trôi qua, tôi không còn nhớ chắc chắn nội dung, nhưng nó có đoạn tương tự thế này: “Chúng tôi có thể dạy cho con ngài về phép cộng và phép trừ, nhưng về phép nhân thì xin ngài hãy tìm đến Ai Cập (?), vì ở đó có các bậc thầy về phép nhân.” Bạn có thấy hiểu biết của con người đã tiến quá xa không?

    Chúng ta không cần phải nhìn về quá khứ xa xôi như vậy để biết những điều chúng ta học đang khó lên. Bạn có thể xem thử đề thi vào MIT, một trong số những viện công nghệ hàng đầu thế giới hiện nay, gần hai thế kỷ trước ở đây:

    Tôi không nghĩ một có một học sinh cấp hai nào ở VN lại không làm được phần lớn đề thi này. Bây giờ, nếu bạn tìm những đề thi IMO những năm đầu tiên, và đưa cho một học sinh lớp chọn ở cấp hai làm thử bài một bài hai, thì nhiều khả năng học sinh ấy sẽ làm được. Trình độ lớp 12 của vài chục năm trước, ngày nay đã trở thành trình độ THCS. Kiến thức giống như một dòng chảy về phía trước, và nếu bạn không thể làm những con sông chảy ngược dòng, thì có lẽ sẽ không có chuyện chương trình học trong tương lai lại trở nên đơn giản hơn ngày nay.

    Thứ tư, thế nào là khó? Trong khi “khó hơn” là một chuyện dễ hiểu, thì “khó,” giống như mọi tính từ mức độ khác, không thể được hiểu một cách dễ dàng. Tất cả các nhận định về mức độ đều phải được dựa trên một sự so sánh. Khi ta nói một người cao, ta nói rằng người ấy cao hơn mức trung bình, và cảm nhận của ta là họ cao, chứ ta không nói đến một chiều cao cụ thể. Hiện vật áo giáp khai quật được của các hiệp sỹ châu Âu thời cổ – những người được cho là to cao – cho thấy họ có chiều cao khoảng 1m rưỡi. Cũng như thế, không có một tiêu chuẩn nào được khắc trên đá cho cái gọi là khó. Một chương trình có thể khó với người này, nhưng dễ với người khác. Vấn đề những người làm giáo dục phải làm chỉ là nên đặt chương trình ở mức độ khó nào.

    Để dễ hình dung về độ khó này, hãy thử xem mô hình đơn giản thái quá ở phía dưới. Đường cong màu xanh dương thể hiện trình độ của tất cả học sinh. Càng về phía bên phải, trình độ càng cao, và đường cong ở vị trí càng cao thì càng có nhiều học sinh ở trình độ đó. Trình độ của học sinh thể hiện độ khó của kiến thức mà họ thấy thoải mái khi học, tức là có thể tiếp thu mà không phải cố gắng quá nhiều.

    Theo mô hình này thì có một nhóm nhỏ học sinh có năng lực vô cùng hạn chế, nằm ở phần đuôi bên trái của đường cong, có một nhóm học sinh thiên tài, nằm ở phần đuôi bên phải của đường cong, và phần lớn học sinh thuộc nhóm gọi là bình thường, nằm ở phần giữa đường cong. Phần giữa đường cong có diện tích phía dưới lớn nhất, và có nhiều học sinh nhất. Học sinh càng giỏi, hoặc càng kém, thì càng có ít.

    Các vạch thẳng đứng tượng trưng cho độ khó của chương trình học. Nếu chương trình tương ứng với vạch đỏ, thì hầu hết học sinh cảm thấy chương trình học quá dễ, không cần đi học vẫn hiểu. Ngược lại, nếu chương trình tương ứng với vạch nâu, hầu hết học sinh sẽ nghe bài giảng như nghe ngoại ngữ. Tất nhiên, vẫn có một nhóm học sinh thấy dễ. Nếu chương trình tương ứng với vạch màu cam, một nửa số học sinh sẽ thấy chương trình dễ, và một nửa sẽ thấy khó.

    model

    Lưu ý ở đây, khi một học sinh thấy chương trình khó, điều đó không có nghĩa họ không thể lĩnh hội được, mà chỉ có nghĩa họ sẽ phải nỗ lực hơn để tiếp thu. Vạch màu càng dịch chuyển về bên phải, càng có nhiều học sinh phải nỗ lực hơn, và mức độ nỗ lực của mỗi học sinh đều sẽ tăng lên. Điều ngược lại xảy ra khi vạch màu dịch chuyển về bên trái.

    Theo thời gian, khi lượng kiến thức của loài người tăng lên, nếu có một thang đo tuyệt đối, đường cong màu xanh dương sẽ dịch chuyển về phía bên phải. Các vạch màu tương ứng cũng sẽ dịch chuyển theo.

    Một chương trình tốt là một chương trình mà hầu hết học sinh nằm trong nhóm đối tượng của nó đều cần phải cố gắng học hỏi, nhưng không có học sinh nào rơi vào cảnh tuyệt vọng vì không thể theo kịp, cũng không có học sinh nào chán đến mức không muốn đi học vì chương trình quá dễ.

    Mô hình này chỉ có tính đại khái, và tôi không biết tiêu chí của các nhà giáo dục, nhưng theo lẽ thường, độ khó ở vị trí vạch xanh sẽ được chọn. Việc làm cho phần lớn học sinh phải cố gắng là hợp lý. Người ta phải được khó khăn tôi luyện, và học sinh phải được rèn luyện bởi những vấn đề cao hơn khả năng của họ một chút.

    Ở đây có một vấn đề nhỏ. Khi mà khoảng cách giữa hai “đuôi” quá lớn, không thể có một độ khó tốt. Hoặc sẽ có những học sinh cảm thấy họ học quá dễ dàng, dẫn đến việc đến trường không có nhiều ý nghĩa và họ thật sự là không rèn luyện gì nhiều, hoặc sẽ có những học sinh cảm thấy chán nản vì việc học đối với họ quá vất vả. Đó là lúc cần phải tách các nhóm học sinh ra, cho họ học ở những trường khác nhau. Khi ấy vạch nâu ở trường này sẽ rất có thể trở thành giống như vạch xanh ở trường khác. Tôi tin rằng công bằng không phải là mỗi học sinh đều được học những kiến thức như nhau, mà mà mỗi học sinh đều có cơ hội để cố gắng. Nếu bắt ô tô đua với xe đạp, thì cái ô tô không biết nó có thể đi nhanh thế nào, còn cái xe đạp sẽ thất vọng về bản thân.

    Quay lại với chuyện chương trình học ở phổ thông có khó không, thì tôi xin được nhắc lại là nó khó với một số người, và dễ với một số người. Xin kể một câu chuyện nhỏ của tôi. Lần đầu tiên tôi học về dao động có lẽ là lớp 10. Một tiết học của chúng tôi kéo dài 90 phút. Sau 45 phút đầu tiên, thầy giáo nói với chúng tôi: “Bài tập các em vừa làm là đề thi đại học trước đây. Bây giờ các em đã đủ kiến thức để làm đề thi rồi nhưng đó không phải mục tiêu của chúng ta.” Tôi nghĩ cả giáo viên và học sinh chuyên thường bị ghét vì sự tự tôn quá cao, nhưng họ có cơ sở. Tôi tiếp tục học về dao động ở đội tuyển thêm một năm nữa, và nhiều thứ sau buổi học đó chắc chắn là để thi đại học thì không cần. Một lần nữa, tôi nghĩ kiến thức không quan trọng bằng phương pháp tư duy mà học sinh học được thông qua những kiến thức đó.

    Thứ năm, có thêm một lý do cho việc làm cho chương trình nhìn có vẻ khó cho một học sinh bình thường, đó là bậc học THPT có chức năng dự bị cho bậc Đại học.

    ĐH là nơi tập trung nhiều nguồn lực, và không có đủ chỗ cho tất cả mọi người. Vì thế, một cách tự nhiên, những người có thẩm quyền muốn dành những vị trí đó cho những người xứng đáng nhất. Quá trình rèn luyện ở cấp ba giúp cho người ta có cơ sở để lựa chọn sinh viên cho đại học. Hãy lưu ý rằng, khi học sinh thi đại học, họ thi với các thí sinh khác, chứ không phải là thi với đề thi. Đề thi chỉ cần có khả năng phân loại được thí sinh ở các trình độ khác nhau, vậy là đủ. Đề thi được xây dựng dựa trên chương trình học, đó là luật. Nếu chương trình học quá dễ với nhiều thí sinh, sẽ khó để tạo ra một đề thi có tính phân loại. Một người nếu trượt đại học cũng không có nghĩa là họ không đủ năng lực học đại học, mà có nghĩa là có quá ít ghế trên giảng đường, và những người có năng lực hơn đã giành được chúng.

    Ngoài lề một chút, chuyện thi với thí sinh khác chứ không thi với đề không phổ biến lắm ở VN, nhưng rất phổ biến ở Mỹ. Các giáo sư cố tình làm đề để phổ điểm của sinh viên có dạng như đường cong hình chuông mà ta đã thấy ở trên. Ngược lại, ở Việt Nam, nói chung các giáo sư để sinh viên thi với đề. Qua được một mức điểm có nghĩa là qua, không cần biết các sinh viên khác có kết quả thế nào.

    Giờ ta hãy xem lại những câu hỏi lúc đầu:

    iv) Tại sao những người làm giáo dục lại thiết kế chương trình như vậy?

    v) Nếu không phải tất cả học sinh sau này đều phải dùng những kiến thức đó, có nên thay đổi để chỉ những người cần mới phải học không?

    vi) Khi chương trình đơn giản hơn, có lợi ích thiết thực gì không?

    Câu hỏi iv) đã được trả lời bởi những nhận xét ở trên. Các nhà giáo dục có những lý do chính đáng để thiết kế chương trình với độ khó như hiện tại. Ở đây chỉ nói về độ khó, không nói về cách họ thực hiện. Nếu chúng ta xét đến lợi ích về mặt tư duy và sự phát triển trí tuệ của người học, thì làm cho chương trình đơn giản hơn không hẳn có lợi (câu hỏi vi). Cuối cùng câu hỏi v) là một câu hỏi thú vị. Nhiều người từng học cấp ba, sau này sẽ làm những công việc đơn giản, chẳng hạn ngồi nhập Excel hay nói chuyện điện thoại cả ngày. Có thể những người đó không cần phải học khó như vậy.

    Đã có nơi người ta giải quyết vấn đề này rồi, đó là nước Đức, và hệ thống giáo dục của Đức được đánh giá là vô cùng hiệu quả. Nếu chưa hiểu rõ về hệ thống giáo dục ở Đức thì bạn có thể xem sơ qua ở trang web này.

    Nếu bạn thấy khó hiểu thì đơn giản là thế này, người Đức chia học sinh ra làm 4 nhóm trình độ và đào tạo các nhóm khác nhau trong các trường khác nhau, và có những tương lai khác nhau. Một học sinh khi bắt đầu học lớp 5 ở một trường Hauptschule thì con đường tương lai của học sinh đó sẽ không có đại học mà chỉ có trường nghề. Nói một cách khác, tương lai của một con người được định đoạt ở tuổi 11, 12, và người Đức làm rất triệt để. Điểm thú vị mà tôi muốn nói tới là trong khi Việt Nam chỉ có hai nhóm trường, trường thường và trường chuyên, thì Đức có tới 5 loại trường, phân theo 4 nhóm trình độ. Học sinh Việt Nam dù học ở đâu cũng có cơ hội bình đẳng vào đại học và trở thành những trụ cột của quốc gia, thì ở Đức chỉ có nhóm học sinh của Gymnasium (hoặc từ Realschule chuyển tiếp sang Gymnasium) là có cơ hội đó. Nếu thế giới có thể ca ngợi giáo dục Đức, tôi nghĩ Việt Nam cũng có thể phân chia ra nhiều nhóm trình độ hơn đối với học sinh. Câu chuyện thực tế lúc nào cũng là, trên đời có những chiếc xe nhanh hơn những chiếc xe khác, do khi mua về đã vậy hay độ lên mà thành, dù nguyên nhân là gì thì việc phân làn lúc nào cũng là hợp lý.

    Các nhận xét ở đây là về các trường công lập, tình hình ở các trường tư có thể sẽ khác.

    Để kết lại câu trả lời này, tôi muốn nói rằng mặc dù GD THPT của chúng ta chưa hoàn hảo, nhưng vấn đề không phải là chương trình quá khó. Các bạn học sinh hãy hiểu rằng mục tiêu quan trọng của giáo dục là phát triển tư duy và khả năng vượt qua khó khăn cho các bạn, chứ không phải là giải những bài toán. Đừng kêu khó vì khó khăn làm cho các bạn mạnh mẽ. Thầy cô không phải là những người bắt các bạn đi học cấp ba, các bạn và gia đình đã tự chọn tham gia một cuộc đua thì không nên chỉ trích nó khắc nghiệt. Tôi không làm giáo dục và đây chỉ là suy nghĩ cá nhân, nhưng tôi nghĩ nó cũng giúp các bạn trẻ hiểu vấn đề hơn một chút. Nếu bạn thấy bạn trẻ nào đang học cấp ba than học khó, mong là bạn có thể chia sẻ cho bạn trẻ ấy câu trả lời này.

    Đã từng

    Một ngày mưa ở Toyama, tôi thấy mình đang ngồi nghe Quick and Snow Show trên Youtube.

    Ký ức một thời bỗng chốc ùa về. Không phải tôi chỉ đang nghe nhạc, tôi thấy quá khứ như một bộ phim hiện ra trước mắt. Những người đã không làm hết sức mình, và bị chính những mục tiêu của mình bỏ lại, như tôi, thường nuối tiếc mỗi khi quá khứ hiện lên. Nhưng thôi, rồi cả những giây phút đó cũng sẽ thành quá khứ.

    Emotion capturing

    What makes a good photo?

    The answer may differ from person to person, but to me, it is the ability of a good photo to tell a story or convey a particular feeling or emotion that distinguishes it from a mediocre one.

    Before you continue reading, please note that I am a photography enthusiast, not a professional photographer although now and then I could take some nice pictures. Thus, what I am saying here may sound strange to those who make a living as a photographer. Nevertheless, I think my experience would be beneficial to those who love photography but do not intend to turn professional. That is why I keep sharing. In this photography series, I usually write in Vietnamese if what I am to share is concerned with techniques in photography. This article is in English because it is non-technical.

    Emotion capturing is often achieved through good timing and careful observation of the photographer, rather than the use of sophisticated equipment or advanced techniques. In many cases, emotion, as well as the essence of an event, could only be captured within an ephemeral period in that event, which makes “emotion capturing” be easily mistaken for “decisive moment.” Yet they are two different things. Emotion could very well be overwhelming in a scene throughout a prolonged period.

    Why is it important to put emotion into a photo? To answer this, let’s first answer another question: Why does art, in general, exists? I am not an artist but here are my thoughts. Artists create their works out of the desire to express themselves, to tell stories, to show their thoughts, and to convey some emotion. Art admirers come to the artists mostly because they seek something that the artists may not be able to offer, but their works may. Someone who has lost all hope may find the reason to keep going through their life upon contemplating an artwork evoking their fond memories and making them happy. More than logic, more than determination, more than commands, emotion has the most profound effect on how we think and act. Photography is an art, and it is not different. People find good photos for a particular purpose of theirs, be they aware of it or not. Their soul wants to be healed, their wounds want to be soothed, their memories want to be revived, whether they are conscious of these or not. And here comes emotion, the magic power that could do all these things. Please put it into your photos.

    The same photo may arouse different emotions in different people. For example, a portrait of an old friend would mean a lot to someone, but is valueless to others. People with different educational backgrounds and experiences see the same photo differently. How people feel upon seeing your photos depends more on themselves than on the photos. I just want to say, try to put emotion into your photos but don’t expect all your viewers to feel what you think they would feel. Your effort of finding moments of emotion itself makes your photos better.

    As usual, here are some of my photos. Most of my “emotional photos” are portraits, but it is inappropriate to make them public. Hopefully the photos below could illustrate the points. Some of them have already been published in previous blog posts.

    UnderTheCherryTree
    Under the cherry tree

    A young girl reading book under a cherry tree near the bank of Kobata River, Kyoto

    An Afternoon
    Unaccompanied

    Arashiyama, Kyoto

    Time
    Time

    A school girl checking her smartphone while waiting at a bus stop in Katsura, Kyoto

    Silent
    Stationary movement

    Otsukogannagisa Park in Shiga at twilight

    Old Friends
    Conversation

    Two elderly people on the bank of Katsura river, Kyoto

    Kids
    Uiuishii

    Kids on the way home from school, Kyoto subway

    Free
    Freedom

    Two school girls on their way home from school, suburban Toyama

    Festival
    Festive joy

    Young girls before performing a ritual in a festival in North Vietnam

    IMG_20190406_140339265_HDR
    Spring

    A little girl riding her bike in a park near Kyodai Katsura campus

    Alone
    Working

    A researcher reviewing his material before presenting in a conference. Clock Tower, Kyoto University

    Uji-01
    Solitude walk

    A woman walking toward Uji Bridge. Autumn in Uji, Kyoto

    Oyako
    Father and son

    An afternoon in Goryozaka Park, Katsura, Kyoto

    IMG_4767
    Autumn space

    This is the Kyodai I love

    Chuyện trường chuyên

    Gần đây có nhiều bàn luận về việc nên bỏ hay giữ trường chuyên. Là một cựu học sinh chuyên, tôi cũng có một vài ý kiến.

    Đầu tiên, nếu những người bàn luận về vấn đề này không có kinh nghiệm thực tế, ý kiến của họ thường là sao chép hoặc vô giá trị. Một người không tốt nghiệp trường chuyên, không làm nghiên cứu về chính sách, cũng không làm quản lý giáo dục, thì thường chỉ nhìn thấy một góc của vấn đề mà người nào dù thiếu thông tin cũng thấy. Tôi nghĩ rằng nghe thầy bói luận về voi thì chẳng có lợi ích gì.

    Những người đó đang nói về trường chuyên mà không ý thức rằng có sự khác biệt lớn giữa các nhóm trường chuyên với nhau. Trường chuyên của một tỉnh khác với trường chuyên của các thành phố lớn như Hà Nội hay HCM. Các trường chuyên của tỉnh, thành phố khác với các trường chuyên thuộc các trường Đại học. Các trường chuyên thuộc các ĐH thuộc BGD thì khác với các trường chuyên thuộc các ĐHQG. Sự khác biệt là đủ lớn để một vài nhận xét tổng thể của họ trở nên không đúng.

    Tôi nói về trường chuyên với tư cách một cựu học sinh chuyên, không phải là phụ huynh, không phải một nhà nghiên cứu hay nhà quản lý.

    Đầu tiên, khi bàn đến chuyện bỏ hay giữ trường chuyên, nên biết tại sao trường chuyên được thành lập. Thầy của tôi nói với chúng tôi rằng trường chuyên có hai nhiệm vụ. Thứ nhất là đào tạo học sinh tham gia các đội tuyển quốc gia quốc tế. Thứ hai là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Trong đó, nhiệm vụ thứ hai là quan trọng hơn. Ngày nay, không cần gắn chữ “cho đất nước” vào nhiệm vụ đó nữa, nhưng nó vẫn là nhiệm vụ quan trọng hơn. Những người có năng lực sẽ đóng góp cho đất nước bằng cách này hay cách khác. Một vài vị GS. nổi tiếng như Ngô Bảo Châu hay Đàm Thanh Sơn tốt nghiệp từ cùng hệ thống trường của tôi. Hàng năm những vị này đóng góp rất nhiều cho công tác đào tạo người Việt và hoạt động nghiên cứu của Việt Nam nói chung. Không thể phủ nhận những đóng góp của họ chỉ vì họ ở nước ngoài. Trong một phần lớn trường hợp khác, tôi nghĩ rằng gửi kiều hối về nước cũng là đóng góp, thậm chí lớn hơn đóng góp của những người làm việc trong nước. Chỉ nghĩ về nhiệm vụ thứ nhất khi nói về trường chuyên là thiển cận.

    Thứ hai, cần làm rõ rằng Việt Nam không phải là nước duy nhất có trường chuyên. Trường dành cho học sinh có năng khiếu đặc biệt tồn tại trên khắp thế giới, dù không phải quốc gia nào cũng có. Các nước tư bản lâu đời như Anh, Đức, Mỹ, Nhật, v.v. cũng có trường chuyên, đây không phải là sản phẩm của các nước đang phát triển hay XHCN. Lý do của họ cũng tương tự như của chúng ta. Tôi nghe nói rằng Thái Lan đã học tập mô hình trường chuyên của Việt Nam và thành công rực rỡ.

    Các vấn đề được đặt ra với trường chuyên là tiêu cực trong quá trình tuyển chọn và quá trình học, cuộc chạy đua mệt mỏi và không cần thiết đối với học sinh, sự bất bình đẳng với các trường khác và học sinh các trường đó, sự phân bổ tài nguyên bất hợp lý trong hệ thống giáo dục, và … hết. Hay ít nhất là tôi chưa được nghe và cũng không tự nhìn thấy vấn đề nào khác. Tôi cho rằng không có một lý do nào trên đây có thể được coi là một lý do chính đáng để loại bỏ hệ thống trường chuyên. Chúng ta chỉ nên dẹp bỏ trường chuyên khi mà nó không còn khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mình, hoặc chúng ta có thể hoàn thành những nhiệm vụ ấy mà không cần có nó. Bây giờ, hãy bàn về từng vấn đề với trường chuyên.

    Đầu tiên là chuyện tiêu cực. Có tiêu cực trong quá trình xét tuyển vào một số trường chuyên, với bảng điểm được sửa và các suất quan hệ. Mặc dù không có điều tra nào về mức độ phổ biến của những hiện tượng tiêu cực này, mọi người có vẻ chắc chắn nó xảy ra ở mọi trường chuyên. Cứ cho rằng điều đó là đúng, tại sao chúng ta không kiến nghị giải thể các chính phủ trong khi có điều tra rõ ràng rằng tham nhũng tồn tại ở hầu hết các chính phủ ở các mức độ khác nhau? Tôi nghĩ rằng bị bệnh thì phải đi chữa bệnh chứ không phải tự sát để hết bệnh.

    Về cuộc chạy đua để vào trường chuyên và cuộc đua thành tích khi đã vào trường chuyên cũng như cuộc chạy đua giữa các trường, cá nhân tôi cho rằng đây không phải là vấn đề của trường chuyên. Đây là vấn đề của xã hội. Tư tưởng trọng thành tích đã đi sâu vào nếp nghĩ của dân tộc chúng ta, nó hiển nhiên không phải là sản phẩm của trường chuyên. Không có trường chuyên thì các trường thường vẫn cứ chạy đua với nhau, và các bậc phụ huynh vẫn ép con mình học đến mức giỏi hơn con nhà người ta.

    Về vấn đề phân bổ nguồn lực, trước hết phải nói rằng không phải trường chuyên nào cũng giống trường chuyên nào. Có ý kiến cho rằng ngân sách dành cho các trường chuyên lớn hơn ngân sách dành cho các trường bình thường, nhưng cần phải biết rằng có những trường chuyên không hề dùng đến ngân sách của BGD. Trường phổ thông tôi học trước đây dùng ngân sách của trường đại học (*), giáo viên của các môn chuyên nói chung là giảng viên đại học. Thầy của chúng tôi cũng chính là những thầy dạy bồi dưỡng cho thầy cô giáo của nhiều trường chuyên khác. Có một số ít giáo viên là cơ hữu, còn lại một số môn là giáo viên hợp đồng ngắn hạn mời từ bên ngoài. Chúng tôi không làm ảnh hưởng gì đến các trường phổ thông khác, cơ sở vật chất của trường tôi khi tôi còn đi học thậm chí không hơn một trường cấp huyện. Có một bài viết nói rằng trường Ams tiêu tốn quá nhiều ngân sách nhưng lại chỉ phục vụ cho một số ít học sinh. Không sai, nhưng đó là câu chuyện của trường Ams, không phải là câu chuyện của trường chuyên. Không nên vơ đũa cả nắm. Nếu đó là vấn đề, thì cách giải quyết cũng không phải là loại bỏ trường Ams, mà là thay đổi cách hoạt động của nó.

    Cuối cùng, sự thật là có sự bất bình đẳng giữa học sinh trường chuyên và học sinh trường thường, ở chỗ học sinh chuyên có thể tiếp cận nhiều cơ hội hơn và có giáo viên có mặt bằng chung cao hơn so với trường thường. Ngoài ra, tôi không thấy có khác biệt lớn nào. Học sinh chuyên có được cộng điểm thi đại học không? Học sinh chuyên có được đóng học phí rẻ hơn không? Không. Vậy là có một chút bất công, nhưng chắc chắn làm cho cuộc chơi “công bằng” hơn bằng cách loại bỏ trường chuyên là một ý tồi. Loại bỏ trường chuyên mới là bất công. Tại sao?

    Nếu bạn chưa xem bộ phim 2081, có lẽ bạn sẽ muốn tìm hiểu nội dung của nó. Phim nói về một xã hội mà mỗi người đều “tuyệt đối bình đẳng”: người chạy nhanh bị gắn tạ vào chân, người xinh đẹp phải đeo mặt nạ, người nhanh trí phải đeo vào tai các thiết bị liên tục phát ra âm thanh quấy nhiễu việc suy nghĩ. Nhà nước do thám người dân và kiểm soát chặt chẽ người dân để đảm bảo sự bình đẳng ấy. Đó là một xã hội dystopia, nhưng nó bình đẳng. Nếu bạn có thời gian, hãy thử xem phim ấy. Nếu không, hãy dành một vài giây suy nghĩ, và nói cho tôi biết, bạn có thích sống trong xã hội như thế không?

    Nếu câu trả lời của bạn là có, tôi biết mọi điều tôi vừa nói ở đây đối với bạn là nhảm nhí, tôi không đủ tầm để thuyết phục bạn, và xin từ bỏ việc đó. Bạn không cần đọc tiếp nữa. Nhưng nếu câu trả lời của bạn là không, thì bạn nghĩ tại sao lại cần loại bỏ trường chuyên? Việc ấy có khác gì đẩy những đứa trẻ nằm trong nhóm ưu tú nhất trong thế hệ của chúng vào cái thế giới dystopia “tuyệt đối bình đẳng” kia? Điều đó là bất công với chúng. Cá nhân tôi tin rằng chừng nào những giáo viên xuất sắc vẫn chưa có mặt ở khắp mọi nơi, và không phải học sinh nào cũng có cơ hội được tiếp cận với những thầy cô giáo giỏi nhất, chúng ta vẫn cần đến trường chuyên. Rồi một ngày nào đó, khi chúng ta trở thành một siêu cường, khi trường Sư phạm là điểm đến của những bạn trẻ ưu tú nhất của mỗi thế hệ, có thể trường chuyên sẽ không còn cần thiết nữa, nhưng chưa phải hôm nay.

    Nếu chúng ta phân làn đường, những người đi tốc độ cao có thể tách ra khỏi làn tốc độ thấp và đến đích sớm hơn. Nếu không phân làn, ô tô xe máy sẽ đi lại lẫn lộn với nhau. Khi ấy, tốc độ của những phương tiện chậm nhất sẽ trở thành tốc độ chung. May mắn thì mọi người đều đến đích chậm, xui xẻo thì tai nạn xảy ra. Điều này kéo lùi tốc độ của tất cả mọi người, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của đất nước, chứ không phải chỉ ảnh hưởng đến những người đi nhanh. Khoảng cách về tốc độ giữa một đứa trẻ trường chuyên và một đứa trẻ trường thường có thể lớn đến nỗi bạn không thể tưởng tượng nổi nếu chưa được tiếp xúc với cả hai. Tại sao lại nhẫn tâm tước đi cái làn đường dành cho chúng? Nếu bạn nuôi đại bàng trong một đàn gà, chúng vẫn sẽ lớn lên và khỏe mạnh, nhưng cả chúng và chúng ta, đều có thể sẽ không bao giờ biết có những gì đã bị bỏ lỡ.

    Inaugural Opening Ceremony of B0 – VNU Specialized High School of Physics. Photo Courtesy: Vietnam National University, Hanoi

    (*) Đại học này chịu sự giám sát của chính phủ và báo cáo lên Thủ tướng chứ không thuộc quyền quản lý của BGD.

    207051 | Good people

    Competent people are everywhere around you, many of them may have exceptional expertise, and willing to give a helping hand on your way to greatness. If you want to be an expert in a field, a good way is to find those people, asking for their help. I call them “good people.”

    When people are knowledgeable and experienced enough, they tend to share their knowledge, and are happy to give advice. Every great Kung Fu master craves true disciples. The greatest scientists always looking for promising graduate students. Why? After years of taking pains practicing some skills, developing some techniques, building some theories, etc., it is natural for people to want someone in the next generation to follow their paths and make the best out of their legacy. No one wants their achievement to fall into oblivion. If you are a scientist, aren’t you happy if your students continue your research direction, establish a fully-fledged field out of it and make your name immortal? If you are a Kung Fu master, what would be happier than having a strong martial artist to continue your school of martial art’s tradition? Most “ordinary” people have the same thoughts with the masters. We humans have the tendency to share with others what we considered good. We are happy to find ourselves helpful to others and be respected.

    Although people craving chances to share their knowledge, we don’t see really good teachers begging students to study with them. This is again, easy to understand. We want to share, true, but on the condition that those who receive our advice value it. In other words, we want to help the right people, not any random person we come across in the course of our lives.

    Then, is it difficult to be qualified as a “right person”? Not at all, I think. In fact, it is ridiculously simple to get help. You just need to ask them. You need to knock the door for it to open for you. If it doesn’t, don’t worry because there are always other doors. People are just mysteriously afraid of asking.

    However, there is an important thing you need to remember: You need to do something before asking. People are not happy helping someone who hasn’t done their job and is unaware of what they are doing. For instance, if you want to implement an algorithm, don’t go directly to someone and ask him how to do it. You should try implementing it first, then if there is some problem that you yourself couldn’t solve, ask a more experienced developer. Another example, when a student was interested in MEXT scholarship, he asked whether he needs to be able to speak Japanese. That question revealed his obvious lack of preparation and how superficial his desire to get the scholarship was. I believe that serious experts don’t want to waste their time with such a person. I think people with such attitudes are destined for a mediocre career, at least until they realize the importance of preparedness.

    So, good people are around you. They could be your seniors, your boss, or even your friends. If someone can help you with your career, don’t hesitate to ask them (with the right attitude, of course), and assist them in their work, if you can. Maybe they are also finding someone to share their knowledge and experience. I believe that before long you will find yourself in places you didn’t think you could reach so early.

    Perspective distortion

    Focal length

    Tiêu cự (focal length) là một trong những thông số quan trọng mà chúng ta cần xem xét khi mua lens. Thật ra bạn không cần hiểu tiêu cự là gì và vẫn có thể chụp ảnh bình thường, nhưng xin nói sơ qua một chút. Tiêu cự được định nghĩa là khoảng cách từ optical center đến tiêu điểm (focal point). Tiêu điểm là điểm mà mọi tia sáng đến song song với trục chính (đường nối optical center và tiêu điểm) sẽ đi qua sau khi bị bẻ cong bởi thấu kính.

    Source: Image Formation & Camera Fundamentals

    Tiêu cự được ký hiệu là f. Nếu gọi khoảng cách từ vật thể đến thấu kính (khoảng cách từ vật đến mặt phẳng vuông góc với trục chính tại optical center) là do và khoảng cách từ thấu kính đến cảm biến hoặc tấm phim là di thì ta có:

    Source: Image Formation & Camera Fundamentals

    Các vật có khoảng cách đến thấu kính thỏa mãn công thức thấu kính (thin lens equation) sẽ cho ảnh rõ nét trên phim. Khi chụp vật ở các khoảng cách khác nhau, thấu kính sẽ được di chuyển để công thức thấu kính được bảo đảm.

    Tùy vào tiêu cự mà người ta phân chia lens thành các nhóm khác nhau:

    FOCAL LENGTHSTYPES OF LENSESTYPE OF PHOTOGRAPHY
    8-24mmFisheye Lens (Ultra wide angle Lens)Panoramic shots, cityscapes, landscape, real estate, abstract.
    24-35mmWide Angle LensInteriors, landscapes, architecture, forest photography.
    35, 50, 85, 135mmStandard Prime LensesPortraits, weddings, street photography or documentary photography.
    50mmNormal LensPortraits, Landscapes, Street Photography, and even Sports photography
    55-200mmZoom LensPortraits, weddings, wildlife photography.
    50-200mmMacro LensUltra detailed photography (rings, nature.)
    100-600mmTelephoto LensSports, wildlife, astronomy.
    Source: Core Classroom

    Để hiểu hơn về sự khác nhau của ảnh tạo bởi thấu kính có các tiêu cự nêu trên và lý do cho tên gọi của dải tiêu cự, trước hết hãy vào trang web này và thử chụp ảnh với NIKKOR Lens Simulator.

    Khi bạn kéo thanh trượt phía dưới simulator, bạn sẽ thấy ảnh chụp ra bởi ống kính có các tiêu cự khác nhau sẽ nhìn như thế nào.

    Chẳng hạn, đây là ảnh chụp bởi lens 50mm (tiêu chuẩn):

    Còn đây là ảnh chụp bởi lens 410mm (telephoto):

    Source: NIKKOR Lens Simulator

    Lý do khiến vùng được chụp bởi telephoto nhỏ hơn so với lens thường là vì góc trông của ống kính (angle of view) nhỏ hơn, do đó chỉ có một vùng ánh sáng nhỏ hơn đi qua ống kính vào cảm biến. Giá trị của góc trông có thể được nhìn thấy trên thanh trượt. Chẳng hạn với tiêu cự 410mm thì góc trông là 6 độ.

    Hình dưới đây có thể giúp bạn dễ hình dung hơn:

    Source: School of Photography

    Toàn bộ hình ảnh trong field of view (FoV)sẽ xuất hiện trên cảm biến. Với FoV lớn, có nhiều chi tiết trên cảm biến. Với FoV nhỏ, có ít chi tiết xuất hiện trên cảm biến, vì thế ảnh được phóng đại, như minh họa ở trên.

    Trong các máy ảnh du lịch có ghi độ phóng đại, chẳng hạn 2x, 10x, 20x, v.v., con số chỉ độ phóng đại cho biết tỷ lệ của một chiều của ảnh được phóng đại so với ảnh bình thường. Điều này có nghĩa là khi bạn chụp ảnh với độ phóng đại 2x, bức ảnh mới chứa lượng chi tiết giống như vùng có chiều dài và chiều rộng bằng một nửa ảnh gốc. Nói cách khác, khi chụp ảnh với độ phóng đại 2x, bạn cắt một vùng trong ảnh bình thường ra và làm diện tích của nó tăng 2*2 = 4 lần.

    Để hiểu rõ hơn, hãy tham khảo bài viết về tiêu cự của Nikon.

    Khi chụp ảnh của các đối tượng ở càng xa thì chúng ta càng cần dùng lens có tiêu cự lớn. (Nếu quá gần thì lại là một câu chuyện khác, không phải lens có tiêu cự càng nhỏ càng tốt cho việc chụp gần.) Chẳng hạn khi chụp mặt trăng, chụp ảnh thể thao, hay động vật hoang dã, người ta thường dùng telephoto lens hoặc super-telephoto lens. Đó là lý do bạn thấy các hình ảnh cận mặt cầu thủ khi thi đấu, hoặc những bức ảnh các loài thú dữ dường như được chụp ở cự ly rất ngắn.

    Nói chung, lens có tiêu cự càng lớn (góc trông càng nhỏ) thì càng dài. Có thể hiểu điều này một cách đơn giản bằng cách xem xét công thức thấu kính. Với cùng một giá trị của di thì khi f càng tăng, do càng tăng, mà do nằm hoàn toàn trong khoảng giữa thấu kính (tương đương) và cảm biến. Dưới đây là một số lens thông dụng trên Amazon:

    Ở hình trên, có thể thấy lens có tiêu cự càng nhỏ thì càng ngắn. Telephoto lens thì rất lớn:

    Source: Canon EF 11-24mm lens review

    Có lẽ bạn đã nắm được vài điểm quan trọng về tiêu cự của lens. Giờ chúng ta nói đến một nội dung quan trọng: perspective distortion.

    Perspective distortion

    Trước khi nói về perspective distortion, cần nói một chút về lens compression. Lens compression được định nghĩa là hiện tượng mà các chi tiết ở hậu cảnh hiện lên lớn hơn và gần hơn so với thực tế khi chúng ta sử dụng các lens có tiêu cự lớn. Chẳng hạn như trong ví dụ dưới đây:

    PC: Aliciaclifford.com

    Bạn có thể thấy tòa nhà phía sau lớn dần lên, và khoảng cách đến đối tượng có vẻ giảm dần trong khi kích thước đối tượng được giữ không đổi. Chữ compression ở đây chỉ việc khoảng cách từ đối tượng đến background bị “nén lại.”

    Có thể bạn cũng đã gặp hiện tượng này khi dùng chức năng zoom trên điện thoại. Bức ảnh bạn chụp một đối tượng từ xa bằng cách zoom và bức ảnh bạn chụp đối tượng khi đã tiến lại gần nhìn rất khác nhau, dù kích thước đối tượng không thay đổi. Lý do là khi bạn zoom lên để chụp ảnh từ xa thì bức ảnh sẽ không khác gì một bức ảnh được chụp bằng một chiếc camera có tiêu cự lớn hơn tiêu cự thực (tất nhiên chụp bằng telelens thì ảnh nét hơn so với zoom). Trong trường hợp đó background nhìn có vẻ gần hơn. Khi bạn tiến về một phía, góc trông của các vật thể ở phía đó đều tăng lên, nhưng vật nào ở càng gần bạn thì góc trông của nó tăng càng nhanh, tức là tốc độ tăng về kích thước của nó lớn hơn các vật thể phía sau. Vì thế, khi bạn tiến lên thì khoảng cách giữa đối tượng và hậu cảnh có vẻ tăng lên. Một khi bạn đã di chuyển, tỷ lệ khoảng cách sẽ không còn được giữ nguyên nữa.

    PC: Nikon.com

    Chính nhờ hiệu ứng này mà bạn có thể thấy mặt trời hay mặt trăng lớn hơn cả những tòa nhà hay lâu đài. Chỉ cần người chụp dùng telelens và đứng ở vị trí rất xa để chụp, góc trông của mặt trăng thay đổi rất ít, nhưng góc trông của tòa nhà sẽ giảm mạnh khi người chụp lùi ra xa, vì tòa nhà vô cùng gần chúng ta so với mặt trăng. Có thể nói, bạn có thể làm cho tòa nhà nhỏ tùy ý so với mặt trăng.

    Kích thước tương đối của ảnh của các vật thể phụ thuộc vào góc trông (angle of view) của chúng. Nếu hai vật có góc trông bằng nhau, chúng sẽ nhìn lớn như nhau trên bức ảnh. Vật có góc trông lớn hơn nhìn sẽ lớn hơn trên ảnh, không cần biết vật đó có thật sự lớn hơn ngoài đời thực hay không. Nguyên lý này được áp dụng với kỹ thuật forced perspective (những bức ảnh đó thú vị, bạn có thể google chúng). Bạn đã từng tự hỏi tại sao một con đường có hai lề song song mà khi nhìn thì hai lề như chập làm một ở phía chân trời? Lý do cũng không gì khác hơn điều kể trên. Khoảng cách giữa hai lề đường không đổi, nhưng càng xa bạn thì góc trông của khoảng cách ấy (một đoạn vuông góc tưởng tượng nối giữa hai lề đường) càng nhỏ, vì thế hai lề đường nhìn càng có vẻ gần nhau hơn. Đây chính là nguyên lý của luật xa gần (rules of perspective).

    Góc trông toàn cảnh cho bởi lens 50mm gần với mắt người nhất, vì thế chúng được gọi là lens tiêu chuẩn. Lens có tiêu cự nhỏ hơn được gọi là lens góc rộng, và lens có tiêu cự lớn hơn nằm ở nhóm zoom và telephoto lens.

    Điều đáng nói ở đây là, cái gọi là lens compression không tồn tại. Đây là một misnomer điển hình. Nếu bạn hiểu nguyên lý được giải thích ở trên, bạn sẽ hiểu là lens không phải là thứ quyết định việc nén khoảng cách giữa đối tượng và vật thể. Tất cả là do góc nhìn, và lens chắc chắn là không nén thứ gì hết.

    Từ chính xác để mô tả hiện tượng này là perspective distortion. Bạn có thể tìm hiểu chi tiết hơn trên Wikipedia hoặc ở đây.


    Như thường lệ, dưới đây sẽ là một vài bức ảnh minh họa cho những điều vừa được giải thích ở trên.

    Kobe Illumination 1
    神戸ルミナリエ

    Ảnh chụp tại Kobe Luminarie 2018. Kobe Luminarie là một lễ hội ánh sáng được tổ chức ở Kobe vào tháng 12 hàng năm, bắt đầu từ năm 1995 để tưởng nhớ nạn nhân động đất Kobe. Nếu bạn thấy tôi nhắc nhiều đến động đất Kobe, nguyên nhân là vì trận động đất này có tác động quá sâu rộng đến mọi mặt đời sống của Nhật Bản, cho đến tận ngày nay, dù người ta có nhận ra hay không.

    Kobe Luminarie cũng là một sự kiện để thu hút khách du lịch đến Kobe để phát triển kinh tế địa phương. Hàng năm, Kobe đón 4 triệu du khách vào dịp này.

    Bức ảnh trên chụp bằng lens mắt cá trên điện thoại, với góc trông gần 180 độ. Nếu chụp với tiêu cự thông thường, sẽ chỉ có thể thấy một phần như thế này:

    Kobe Luminarie

    Dưới đây là ảnh panorama chụp ở cùng vị trí:

    Kobe Illumination 2

    Ví dụ tiếp theo là một bức ảnh cũng được chụp bằng lens mắt cá ở Katsura:

    Katsura
    桂坂

    Nếu chụp ở dải tiêu cự thông thường, không thể thấy cả cây anh đào và mặt trời. Dưới đây là hình panorama từ cùng vị trí:

    Katsura

    Lens mắt cá thường được dùng khi muốn lấy toàn cảnh, hoặc trong những trường hợp mà tiêu cự lớn hơn không thể chụp được:

    KyotoBettei
    旧三井家下鴨別邸

    Hình trên được chụp ở Mitsui Villa tại Kyoto. Đường cong ở phần dưới ảnh thực ra là một đường thẳng. Không một lens nào khác có thể lấy toàn bộ bức bình phong (góc trông 180 độ).

    Ba bức ảnh tiếp theo chụp cùng một cảnh ở cùng một vị trí. Đây là cảnh Yatsuomachi nhìn từ đường về của tôi:

    Yatsuomachi
    Yatsuomachi (2)
    Yatsuomachi (3)

    Ở bức ảnh cuối, là ảnh zoom (chụp với tiêu cự rất lớn), ta có thể thấy nhà cửa phía dưới dường như rất gần với ngọn núi. Thực ra nếu phóng to phần tương ứng của bức ảnh đầu tiên ta cũng sẽ có cảm giác tương tự về khoảng cách. Góc trông quyết định độ to nhỏ của ảnh và khoảng cách chúng ta cảm nhận được, chứ không phải là lens.

    Tiếp theo cũng là những ảnh chụp từ cùng vị trí với tiêu cự khác nhau. Lần này là ở một địa điểm khác:

    YukiYama_300420_DSC06085-01
    YukiYama_300420_DSC06070-01

    Lần này ảnh chụp với tiêu cự lớn lại cho cảm giác dãy núi nằm ngay phía sau những ngôi nhà. Thực ra, một lần nữa, khoảng cách này không nhỏ hơn khoảng cách ta sẽ cảm nhận được nếu phóng đại một phần của bức ảnh trên. Tuy nhiên ảnh cắt từ ảnh góc rộng rồi phóng đại sẽ không chi tiết bằng ảnh được chụp trực tiếp với tiêu cự lớn.

    Cuối cùng là một vài bức ảnh chụp ở độ phóng đại 30x:

    Moon
    月様

    Mặt trăng, nhìn từ Tokyo.

    Moon_Mid-Autumn 2020
    Trăng rằm, nhìn từ căn hộ của tôi
    Flying
    Flying (2)

    Những chú chim bay ngang dãy Tateyama trong nắng chiều.


    Với người chụp nghiệp dư, có lẽ trong bài viết này những điều cần biết về tiêu cự đã được trình bày tương đối đầy đủ. Mong rằng những điều này có thể giúp bạn có những tấm ảnh đẹp hơn.

    Happy shooting!

    DoF Partitioning

    Chủ đề hôm nay là cách sử dụng DoF (depth of field) để tạo bố cục cho bức ảnh.

    Khi một bức ảnh được chụp, chỉ có một vùng rõ nét. Vùng phía trước và phía sau vùng rõ nét đó được gọi là bị mờ hoặc bị nhòe. Độ rộng của vùng rõ nét được gọi là DoF – độ sâu trường ảnh.

    Nếu trong vùng bị nhòe có các điểm sáng thì chúng sẽ trở thành bokeh. Các bokeh có hình dạng giống như hình dạng phần thấu kính có ánh sáng đi qua trên một tiết diện bất kỳ. Hiểu đơn giản là nếu dán miếng bìa có khe hở hình trái tim lên trước ống kính thì bokeh sẽ có hình trái tim. Chụp ảnh với bokeh là một chủ đề thú vị, nhưng sẽ được đề cập ở một bài viết khác.

    Nguyên tắc cơ bản cho sự hình thành của DoF được trình bày ở các hình trên (lấy từ khóa học Robotics – University of Minnesota, bạn có thể tham khảo thêm ở đó. Lý do có nội dung này trong một khóa Robotics là vì ngày nay xử lý ảnh đã trở thành một phần quan trọng trong Robotics, và hầu như mọi khóa học xử lý ảnh hay computer vision tử tế đều có một thời lượng nhất định dành cho lý thuyết về sự tạo ảnh). Vì ảnh của các điểm 1, 2, và 3 ở các vị trí khác nhau, chỉ có điểm mà ảnh nằm trên cảm biến/phim (màn chắn) là rõ nét. Các điểm mà ảnh nằm phía trước và sau cảm biến sẽ bị nhòe. Bản chất của việc lấy nét là thay đổi khoảng cách giữa hệ thấu kính và cảm biến để vùng cần được lấy nét có ảnh nằm trên cảm biến. Ngày nay các ống kính thường dùng động cơ siêu âm để tự động di chuyển thấu kính (Auto Focus – AF mode). Trước đây các tiền bối của chúng ta thường lấy nét thủ công (Manual Focus – MF).

    Các vật đặt ở vùng chứa điểm số 3 là tiền cảnh, ở vùng chứa điểm số 1 là hậu cảnh, và đối tượng thường được đặt ở vùng số 2. Tại sao lại là “thường” mà không phải là “luôn luôn”? Bởi vì đôi khi vì lý do nào đó chúng ta không muốn đối tượng được rõ nét.

    Theo hình minh họa thứ 3 phía trên thì chỉ có một mặt phẳng duy nhất là có ảnh rõ nét, vậy tại sao ta thấy nét cả một vùng? Lý do là vì ngay cả khi ảnh của một điểm bị nhòe, trong một giới hạn nào đó mắt ta vẫn không phân biệt được rằng nó đã bị nhòe. Ví dụ như trên hình, đối với mắt người thì các điểm lân cận điểm số 2 đều nét.

    DoF được quyết định bởi khẩu độ (aperture) và tiêu cự (focal length). Vì không có nhiều thời gian nên xin được giải thích ở một dịp khác.


    Khi tạo bố cục cho bức ảnh, chúng ta có thể đưa các phần khác nhau của bức ảnh vào các vùng 1, 2, 3 được nhắc tới ở trên. Cách bố cục như vậy không hiếm gặp, nhưng tôi không biết tên chính thức của nó. Ở đây xin được gọi là DoF Partitioning. Lý do cho tên gọi này là khi sử dụng phương pháp như trên, chúng ta chia bức ảnh ra làm nhiều phần (tối đa 3 phần) ở các vùng nét khác nhau. DoF Partitioning khác với bố cục thông thường ở chỗ:

    i) Chủ thể có thể được đưa vào bất kỳ vùng nào (kể cả vùng 1 hoặc 3 – chủ động làm nhòe chủ thể và toàn bộ vùng lân cận, khác với out-focus). Thông thường chủ thể được lấy nét.

    ii) Các vùng nét hiện rõ trên khung hình. Thông thường, toàn bộ bức ảnh đều nét, hoặc “vùng nét” đơn thuần là chủ thể, chứ không phải là một vùng.

    Những ví dụ dưới đây có thể giúp hình dung dễ dàng hơn.

    Rune
    学生

    Một nhóm sinh viên trước Rune Shokudou, Kyodai.

    Tán cây rẻ quạt/ngân hạnh (いちょう) nằm ở vùng được lấy nét, trong khi toàn bộ nhóm sinh viên xuất hiện mờ ảo.

    Loài cây này thường được gọi là ginkgo trong tiếng Anh, ngân hạnh hoặc bạch quả trong tiếng Hán. Trong tiếng Nhật, tên của loài cây này có tên Hán là Công tôn thụ hoặc Áp cước thụ (áp cước nghĩa là chân vịt). Tuy nhiên người ta thường viết chữ kana khi nhắc tới loài cây này, chứ không dùng chữ Hán. Hơn thế nữa thường là các từ gốc Nhật được gán chữ Hán dựa trên nghĩa, tức là rất có thể có nhiều người Nhật chỉ biết đây là いちょう chứ không biết tên chữ Hán của nó là gì. Có thể họ không biết tổ tiên khi xưa ví lá cây với chân vịt.

    Cây rẻ quạt phổ biến ở nhiều vùng trên đất Nhật. Nếu như biểu tượng của Kyodai là một cây long não thì biểu tượng của Handai và Todai đều là lá cây rẻ quạt. (Ba đại học danh tiếng nhất Nhật Bản đều thích các loài cây 🙂 ). Ở Osaka có thể dễ dàng nhìn thấy biểu tượng lá rẻ quạt trên thanh chắn đường (giống như hình Khuê Văn Các trên đường Giải Phóng đoạn phía Nam Hà Nội), hoặc nắp cống (nhân đây, nắp cống ở Nhật thường là những “tác phẩm nghệ thuật.”)

    Hàng năm cứ vào cuối thu đầu đông ngân hạnh lại nhuộm vàng các tuyến phố của nước Nhật. Có một con đường ở tỉnh Shiga nổi tiếng với ngân hạnh, đến mức nhiều người tới đó chụp ảnh. Ngân hạnh trải dài trên cả tuyến phố Higashioji chạy xuyên qua Yoshida Campus, nhưng đoạn ngắn từ Tổng Lãnh sự Pháp tại Kyoto đến Rune, một nhà ăn lớn của Kyodai, dày đặc ngân hạnh. Bức ảnh trên được chụp gần Rune một vài năm trước. Tôi cũng có share hình khác chụp ngân hạnh ở đoạn đường này trên Instagram.

    Palace2
    花見

    Hanami party ở Hoàng cung Kyoto.

    Hoàng cung Kyoto là một điểm đến thường xuyên của người Kyoto và khách du lịch. Du khách có thể tham quan bên trong Hoàng cung hoàn toàn miễn phí. Vào mùa xuân khi anh đào nở, mọi người thường tổ chức tiệc ngắm hoa ở đây. Nói là tiệc nhưng thực ra rất đơn giản, thường thì mọi người sẽ góp đồ ăn, cùng nhau nói chuyện và ngắm hoa, đôi khi uống rượu nữa. Khi tôi còn ở Kyoto, hai bác chủ quán Zaco thường mời tôi và mọi người đến Hanami party ở đây vào dịp anh đào mãn khai.

    Rain
    雨の中

    Một cô gái trong cơn mưa sau tháp đồng hồ Yoshida campus.

    Idagawa
    井田川

    Sông Ida vào mùa hè, ảnh chụp khi tôi đi mua đồ về nhà. Tôi từng nói nơi tôi sống giống như trong cổ tích. Bất kỳ một góc nào, vào những lúc bình thường nhất, đều có vẻ đẹp riêng của nó.

    life
    昔の話

    Trước cổng Yodo Keihan Station.

    Có những loài hoa anh đào nở sớm hơn những loài hoa khác. Gần Yodo station có một con sông nhỏ mà anh đào nở từ đầu tháng ba. Một lần tôi đã đi cùng các bác ở KAHF (Hội host family của Kyoto) đến đó ngắm hoa. Đây là ảnh chụp trước lúc trở về nhà.

    Toyama-shi
    都会

    Thành phố Toyama nhìn từ đường về của tôi.

    Ở đây chúng ta có thể thấy một sự đối lập, giữa thành thị phía xa và ruộng đồng ngay trước mặt. Đó là một sự tương phản thú vị.

    Ajisai
    紫陽花

    Hai bạn trẻ trên đường đi học về.

    Tiền cảnh ở đây là hoa tú cầu. Tú cầu có tên Hán là tử dương, nhưng thường thì người ta cũng chỉ gọi loài hoa này bằng tên kana: あじさい. Nhắc đến Nhật Bản thì sau loài hoa đầu tiên là anh đào, có lẽ người ta sẽ nghĩ tới tú cầu. Bây giờ (tháng 6) vẫn đang là mùa tú cầu, và ta có thể bắt gặp loài hoa này ở khắp mọi nơi.


    Mong rằng bạn sẽ thấy DoF Partitioning là một cách bố cục đủ hay để dùng. Happy photographing!

    206260 | Use it or lose it

    When I was still a child, I heard this saying:

    Whatever you own but you don’t use, sooner or later you will lose it.

    Be it something tangible like a book, a piece of equipment; or not, like a relationship or a cognitive function, the role of anything in our life will fade away as we neglect it. Whenever I look around and realize, in pain, that I am losing something, a skill that I spent lots of time to develop when I was younger, some of my favorite stuff, or even friends those I shared sweetest memories with but now rarely contact, I just feel that the simple saying above is ringing true.

    The other day, when I was talking to a new friend, I sadly realized that I could no longer use English comfortably in a conversation. While I was struggling with my poor Japanese at work, my English was also deteriorating – I am losing it. Sometimes I couldn’t find the right words to express myself. I feel embarrassed with my English, although I still have no problem understanding anything. (Actually, once in a while I still come across material which is not so easy to understand, but it certainly has little to nothing to do with my command of English. In those cases, the Vietnamese version would not give me an easier time.)

    I don’t want to lose something that took me years to get, so easily, so I will write more in English. This post is the first one in a new category. Hopefully I could write something nice.

    Framing

    Trong bố cục có một kỹ thuật gọi là framing. Khi sử dụng kỹ thuật này, người chụp tạo ra một khung hình phụ cho chủ thể của bức ảnh bằng các vật thể khác trong khung hình thật.

    IMG_20180416_161500300_HDR
    Two friends of mine at our grad school

    Chẳng hạn, ở hình trên, đối tượng chính là bóng của hai người được đặt vào giữa khung cửa (frame). Bố cục cùng với ánh sáng này làm cho hình ảnh có chút kỳ ảo 🙂

    Có vài lý do quan trọng để sử dụng framing.

    1. Framing làm đối tượng trở nên nổi bật hơn.
    2. Khung hình đẹp làm bức ảnh có tính nghệ thuật hơn.
    3. Các yếu tố được dùng làm khung hình có thể mang thông tin, giúp người xem đoán được bối cảnh của bức ảnh. Khung hình và đối tượng có thể cùng nhau kể một câu chuyện.

    Nói chung các kỹ thuật về bố cục không cần phải đầu tư, chỉ cần trí tưởng tượng và cảm quan thẩm mỹ. Con người bị kích thích bởi những thứ lạ. Mặc dù framing rất đơn giản, nhưng không phải nhiều người biết dùng. Nếu bạn dùng framing, ảnh của bạn sẽ thú vị hơn đối với người xem.


    Dưới đây là một vài bức ảnh có sử dụng framing.

    2015-12-09 15.10.30
    Khu tập thể

    Cách đơn giản nhất để tạo ra khung hình là dùng cửa sổ. Ảnh trên được chụp vào một ngày hè nhiều năm trước qua một khung cửa sổ của thư viện ĐHSPHN, sau khi tôi đã tốt nghiệp. Ngày đó dù học ở QG nhưng tôi hay lên thư viện của trường SP. Bàn học có vách ngăn ở đó tạo cảm giác riêng tư và yên tĩnh hơn.

    IMG_9059
    大晦日

    Một khung cửa sổ khác, ở Kyoto. Bức ảnh được chụp vào đêm giao thừa hai năm trước trong một con hẻm nhỏ ở khu phố Gion khi tôi đang trên đường từ Yasaka Jinja trở về nhà. Người Kyoto có phong tục đến Yasaka Jinja và mang về ngọn lửa thiêng từ đó vào đêm giao thừa để nhóm bếp nhà mình. Họ mang theo những sợi dây đặc biệt, châm chúng bằng lửa trong đền rồi đi bộ về nhà. Một phong tục khác là đến một ngôi chùa nào đó để nghe 108 tiếng chuông mừng năm mới. Ngày nay không phải tất cả mọi người đều theo phong tục đó vào đêm giao thừa, nhưng rất nhiều người vẫn còn làm như vậy. Tôi trở về sau khi xem đánh chuông ở Chion-in cạnh Yasaka Jinja. Rất có thể người trong bức ảnh cũng trở về từ đó và ăn đêm trước khi về nhà. Thứ được treo ngoài khung cửa là Shimezakari, một vật trang trí may mắn truyền thống đầu năm của Nhật, tương tự như cành lộc ở ta.

    IMG_4767
    秋の寒さ

    Từ một khung cửa sổ trong tòa nhà cạnh Kizuna. Ngày ấy tôi vẫn thường hay đi qua ô cửa sổ này trước khi đến Kizuna học tiếng Nhật với Takeda sensei. Đây không phải một nơi được nhiều người biết, nhưng với tôi nó đẹp và bình yên kỳ lạ. Với tôi, cái lành lạnh cuối thu, những băng ghế gỗ, và lá đỏ ở nơi này đã trở thành một phần ký ức không thể phai nhòa về Kyodai.

    IMG_4022
    微笑

    Vẫn là những khung cửa sổ, lần này là ở Pontocho, một buổi tối mùa thu. Pontocho là khu phố nổi tiếng ở Kyoto chạy dọc theo dòng sông Kamogawa, kéo dài từ Sanjo đến Shijo dori. Người ta có thể cảm nhận được phong vị Kyoto ở đây, thưởng thức những món ăn truyền thống và các màn biểu diễn của geiko và maiko. Pontocho nằm gần phố Gion, Hoàng Cung, chợ tươi Nishiki và phố mua sắm Teramachi, đều là những địa điểm yêu thích của du khách. Nét cổ kính của Pontocho làm một người yêu cảnh vật Kyoto như tôi mê đắm, nhưng tôi biết đến nó khá muộn. Hơn một năm sau khi đến Kyoto, sau khi trở về từ tiệc BBQ ở Ohara với host family tôi đã đi lòng vòng quanh khu trung tâm chụp ảnh trước khi bắt tàu về nhà và phát hiện ra khu phố này. Lúc ấy tôi giống như tìm thấy một kho báu 🙂

    IMG_20190625_221218_608
    集中する

    Một người bán đồ ăn trên khu phố mua sắm Teramachi đang tập trung làm việc. Ảnh chụp cùng ngày với tấm ở Pontocho. Ngày hôm ấy tôi đã đi rất lâu, và giữ lại những khoảnh khắc mà tôi nghĩ rằng rất “Nhật,” giống như cảnh làm việc của người bán hàng này.

    IMG_20180903_092645524_HDR
    ドア

    Tạo khung hình với gương cũng là một cách làm phổ biến. Nếu sắp đặt tốt có thể có những hiệu ứng thú vị. Hình trên chụp trên một trong những con đường từ nhà tôi tới Katsura Campus.

    IMG_20180308_093846_766
    Chợ quê

    Một khu chợ ở ngoại ô Hà Nội.


    Hiểu rộng hơn một chút thì frame có thể là bất cứ thứ gì tạo ra cảm giác về biên giới cho chủ thể, và đường biên ấy không nhất thiết phải bao bọc toàn bộ chủ thể.

    IMG_5933
    限り

    Ví dụ, trong bức ảnh trên đây đường biên là hai thanh chắn hàng rào. Đây là hoa anh đào ở Katsura.

    WP_20160721_18_25_31_Pro
    新芽

    Dưới một băng ghế ở cơ sở Xuân Thủy, ĐHQGHN.


    Khung hình có thể mang bất cứ hình dạng gì, chẳng hạn hình tròn.

    IMG_20180325_161846980
    WP_20170612_09_57_38_Pro
    Honda Collection Hall – Tochigi
    IMG_20171013_132747_135
    Zaco

    Bên trong Zaco, một quán ăn gần Demachi Yanagi, nơi hợp lưu của hai con sông Kamogawa và Nakanokawa. Tôi từng kể ở Kyoto có những quán ăn gia đình mà khách tới thường xuyên và có thể trở nên thân thiết với chủ quán. Zaco là một quán ăn như vậy. Quán nhỏ, ấm cúng, hai bác chủ quán rất thân thiện và đối với khách như những người bạn. Hàng năm hai bác cũng tổ chức Hanami party với khách quen và bạn bè ở Hoàng cung Kyoto (tiệc ngắm hoa anh đào mà mọi người mang thức ăn đơn giản đến cùng nhau ăn uống, nói chuyện, và ngắm hoa. Những bãi cỏ rộng lớn ở Hoàng cung có hoa anh đào rất đẹp và là điểm đến yêu thích của người Kyoto cho Hanami party). Có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ viết nhiều hơn về quán Zaco.

    Bạn có thể thấy ở hình trên những hình ảnh ở đường viền có hình dạng kỳ dị. Đó là hiệu ứng khi góc chụp quá lớn, ở đây là gần 180 độ. Tôi đã dùng lens mắt cá (fisheye) dành cho điện thoại để chụp ảnh này. Lens mắt cá là một lựa chọn để tạo ra khung hình hình tròn tự nhiên.

    IMG_20171013_122805_407
    IMG_20171013_122933_612

    “Khu vườn” gần Kizuna, chụp cùng một chỗ với bức ảnh lá đỏ sau khung cửa, nhưng lần này là từ phía trước khung cửa sổ ấy. Đây là một góc yêu thích của tôi ở Kyodai.

    IMG_20181128_145229730_HDR
    秋の公園

    Mùa thu trong một công viên ở Katsura.


    Có những cấu trúc có thể trở thành khung hình một cách tự nhiên, chẳng hạn cổng Torii.

    250819Fushimi_IMG_3219
    250819Fushimi_IMG_3229
    途中

    Những du khách ở Fushimi Inari Taisha. Nơi đây là một trong những biểu tượng của Kyoto với hàng ngàn cổng Torii dẫn lên đỉnh núi. Các cổng Torii này thường được tặng bởi các cá nhân và doanh nghiệp. Những dòng chữ bạn nhìn thấy phía sau các cây cột là tên doanh nghiệp và nội dung tặng. Gia đình cô Akemi trước đây cũng đã tặng cổng Torii ở Fushimi Inari.

    IMG_20190621_123144_378

    Sư muội của tôi trong chuyến đi đến Kansai vài năm trước.


    Khi sử dụng khung hình, không nhất thiết phải đặt toàn bộ đối tượng vào trong khung hình. Chúng ta muốn kể một câu chuyện hay, chứ không phải là muốn tuân theo một quy tắc.

    IMG_20190703_203530_607
    眺め

    Trong một quán ăn ở Uji, nhìn ra Uji Bridge, gần Bảo tàng Genji Monogatari. Uji nổi tiếng với trà, các trà thất, và là bối cảnh của mười chương cuối trong kiệt tác Genji Monogatari.

    Ảnh chụp trước bữa ăn của tôi với Haru và host family của cậu ấy. Ngày hôm ấy cũng là kỷ niệm ngày cưới của hai bác. Chúng tôi biết chuyện ấy khi đến cầu nguyện một ngôi đền mà cùng ngày ấy mấy chục năm trước hai bác đã tới, ngôi đền kỷ niệm. Hai bác ấy thật ngọt ngào.

    Nara
    Một buổi chiều ở Nara

    Trong bức hình trên, câu chuyện không kết thúc trong khung hình. Người xem có thể tưởng tượng dãy núi phía xa còn kéo dài, và những khung hình tương tự vẫn tiếp tục về hai phía.


    Không chỉ là hình chữ nhật hay hình tròn, khung hình có thể có bất cứ hình dạng gì.

    IMG_20190908_101719

    Một buổi chèo thuyền ở Tottori.

    IMG_20181113_081131253_HDR
    順序

    Người lên cổng soát vé ở ga Katsura gawa. Ảnh chụp mùa thu 2018 trên đường đến sân bay Kansai.

    IMG_20190622_210212_894
    将来列

    Tân cử nhân xếp hàng ra khỏi hội trường tại buổi lễ tốt nghiệp của Đại học Shiga. Một trong những bức ảnh khi tôi đến dự lễ tốt nghiệp của Sakura chan.

    IMG_20190104_135949049
    帰り

    Ở bến xe bus đối diện Bảo tàng Đại học Kyoto.

    IMG_20171006_191107_478
    営業中

    Một cửa hàng ở Gojo trong cơn mưa. Như đã thấy, Vignette cũng có thể được sử dụng làm khung hình, nhưng dùng vignette đòi hỏi nhiều sự tinh tế hơn.


    Một kỹ thuật nâng cao khác là để cho chủ thể chiếm một phần rất nhỏ trong bức ảnh. Các yếu tố khác (khung) chiếm phần lớn bức ảnh, chúng sẽ cung cấp thông tin về bối cảnh, khơi gợi trí tưởng tượng và tạo cảm xúc. Thầy Việt Thanh gọi đây là thủ pháp “xe chỉ luồn kim.”

    GoshoHanami7Apr_IMG_1314
    一人の花見

    Một người phụ nữ dưới tán anh đào ở Hoàng cung Kyoto.

    IMG_20190202_145532_040

    Một bông hoa sắp nở.

    IMG_6672
    友達

    Hanami Party ven sông Kobata gawa.

    IMG_20181211_130758723_HDR

    (Có lẽ) Một giáo sư của Kyodai.

    Những người sống trong nội thành Kyoto thường đi xe đạp hoặc chỉ sử dụng phương tiện công cộng, vì ít chỗ đỗ ô tô và giao thông công cộng rất tốt. Một anh bạn tôi khi thấy những bãi đỗ xe đạp phổ biến khắp nơi từng thốt lên hóa ra đây là cách người dân đi lại ở quốc gia đã xuất khẩu ô tô và mô tô khắp thế giới.


    Và cuối cùng, một cách hiệu quả khác để tạo ra khung hình là dùng các yếu tố tự nhiên như cây cỏ hay hoa lá.

    IMG_20190122_205651_909

    Chùa Long Đọi Sơn (VN), một ngày đầu năm.

    DSC05191
    遊び

    Một công viên ở Toyama.

    Nếu nhìn kỹ, có thể bạn sẽ thấy một cô bé đang chơi đùa với mẹ.

    IMG_4392-01

    Một chiếc thuyền chở du khách trên dòng Katsuragawa, Arashiyama

    Toyama_sakura_110420_DSC05442
    山裾村

    Một ngôi làng dưới chân núi ở Yatsuomachi, qua một tán cây anh đào trên đỉnh núi.

    雪桜

    Một ngôi nhà ở Toyama. Khó để nhìn thấy anh đào và tuyết cùng một lúc, nhưng khi thấy rồi thì đó luôn là một cảnh tuyệt vời. Ảnh chụp mùa xuân năm nay.

    Hikonejo
    待ってる

    Một chiếc thuyền nhỏ neo trên hào nước quanh Hikone Castle, Shiga vào một ngày nắng đẹp. Ảnh chụp qua một tán cây anh đào. Những hình ảnh như thế này thường làm tôi mơ mộng về những câu chuyện tôi đã đọc ở đâu đó, hay những bộ phim về những ngày xưa. Tôi luôn tưởng tượng đó là những tháng năm đầy thi vị.

    Oyako
    親子

    Hai cha con trong công viên cạnh trường tôi. Nếu để ý, khi nào ta cũng có thể bắt gặp những phút giây bình yên như thế.

    Môt lẵng hoa không có hoa trong nắng, gần nhà cũ của tôi ở Kyoto trước đây.


    Framing là một kỹ thuật đơn giản, không cần phải có thiết bị phức tạp mà chỉ cần một chút óc quan sát. Nếu bạn thích chụp ảnh, tôi rất vui nếu bạn tìm được một chút cảm hứng từ những bức ảnh trên.

    Happy shooting 🙂

    Victim blaming

    Tiêu đề bài viết chỉ mang tính chất gây tò mò, tôi vẫn viết lan man như mọi lần thôi. Chuyện tôi muốn bàn là tương quan và nhân quả.

    Bất kỳ ai học kỹ thuật cũng được dạy rất nhiều về tương quan và nhân quả, nhưng có học được hay không thì không phải là một điều chắc chắn. Lúc còn đi học, tôi có một kỳ học tín hiệu và hệ thống, và một kỳ nữa học xác suất thống kê, lần học thạc sỹ đầu tiên tôi lại có một kỳ học về các quá trình ngẫu nhiên. Đó là những môn mà các khái niệm trên được nhắc đi nhắc lại tới phát chán. Thế nhưng, tôi đã không thật sự hiểu.

    Hiểu một cách đơn giản thì nếu sự kiện A quyết định việc sự kiện B có xảy ra hay không, giữa A và B có quan hệ nhân quả. Chẳng hạn, nếu bạn đốt đống rơm thì có khói bốc lên. Ở đây lửa là nguyên nhân của khói. Hoặc gần gũi hơn, nếu đầu ra của một hệ thống phụ thuộc hoàn toàn vào tín hiệu trong quá khứ và hiện tại (không phụ thuộc tương lai), thì hệ thống đó được gọi là nhân quả.

    Tôi có nghe ai đó nói ngày nhỏ ông tin vào mọi thứ, đến khi lớn lên thì chỉ còn tin vào bảng cửu chương, rồi đến khi đọc về thuyết tương đối thì đến bảng cửu chương cũng không tin nốt. Trong thuyết tương đối, lửa vẫn là nguyên nhân của khói nhưng bạn có thể nhìn thấy khói trước khi lửa được đốt. Hồi tôi còn ở B0, mười mấy năm trước, tôi nhớ thầy giảng hăng say cả tiết và tôi vẫn không thể thấm được chuyện đó. Trên đời này có nhiều chuyện ta hiểu, nhưng không thể thấm nhuần. Nếu ta biết một điều và tin chắc rằng điều đó đúng, đó là biết. Trạng thái ấy khác với thấm nhuần, là khi ta thấy rằng điều ấy là lẽ tự nhiên, rằng điều ấy phù hợp với trực giác và cảm tính của ta. Ví dụ, tôi thấm nhuần rằng có một cái kẹo rồi thêm một cái kẹo khác thì sẽ có hai cái, hay là khi tôi đấm bức tường thì bức tường sẽ đánh trả tôi với một lực bằng đúng lực mà tôi đã dùng để đấm nó. Tuy nhiên, tôi không thể thấm nhuần được việc một từ trong tiếng Nhật vừa có thể là từ thể hiện sự tôn kính với đối phương vào thời xưa, vừa có thể là từ để dùng với một người xa lạ, vừa có thể là từ để thể hiện sự xúc phạm và khinh bỉ, lại vừa có thể là từ để gọi người thân yêu. Có nhiều thứ tôi biết, tôi dùng, nhưng không thể thấm nhuần, như thế. Thế là, tôi nghĩ khi học lớp 7 lớp 8 gì đó tôi có thể tính toán các hiệu ứng tương đối giống như các bạn học đại học, vì xét cho cùng thì chẳng có tính toán nào của thuyết tương đối cần người ta biết nhiều hơn là giải phương trình bậc hai. Nhưng để hiểu thấu được nó, để “thấm nhuần” nó thì e là giỏi toán đến mấy cũng chưa đủ.

    Trong cuốn “Now: The Physics of Time,” bác Muller có nhiều bàn luận gây hứng thú về thuyết tương đối, tính nhân quả, và free will. Nếu bạn rảnh thì có lẽ rất nên đọc thử.

    Ta hãy quay lại với chuyện tương quan và nhân quả. Khi tôi tham dự VSSS2014, tôi có nghe một ví dụ thế này: Việc ăn nhiều kem dẫn tới việc bị chết đuối. Lý do là người ta thống kê được khi lượng tiêu thụ kem tăng lên thì số vụ chết đuối cũng tăng theo. Ngược lại, khi lượng tiêu thụ kem giảm, thì số vụ chết đuối cũng giảm.

    Vì thế, ăn kem nhiều thì chết đuối. Ăn kem là nguyên nhân của đuối nước.

    Tất nhiên là bạn thấy ví dụ trên là nhảm nhí. Nhưng bạn giải thích thế nào về việc số vụ đuối nước thay đổi theo lượng tiêu thụ kem? Người ta làm không ít những nghiên cứu kiểu này và xuất bản trên những tạp chí chắc chắn không phải là predator, thậm chí là có tên tuổi. Chẳng hạn: quốc gia nào tiêu thụ nhiều sô cô la thì có thu nhập bình quân đầu người cao, nên sô cô la có ảnh hưởng tới nền kình tế, hoặc đàn ông có dương vật lớn thì có thu nhập cao.

    Có những ví dụ khác không kém phần lố bịch về bản chất so với những ví dụ trên, nhưng lại được người ta chấp nhận. Chẳng hạn, nếu bạn X đi Vũ Hán vào đầu năm 2020 và nhiễm Corona, người ta có thể nói: X nhiễm Corona vì đi Vũ Hán (*).

    Bạn thấy phát biểu (*) có đúng không? Tôi có cảm nhận là có lẽ ít nhất một nửa dân số nghĩ rằng phát biểu (*) hoàn toàn không có vấn đề gì. Sự thật là, phát biểu (*) không đúng hơn phát biểu “Số người chết đuối tăng vì lượng tiêu thụ kem tăng.”

    Bây giờ tôi sẽ nói về victim blaming. Phát biểu (*) ngoài giống với phát biểu ăn kem chết đuối thì còn giống với phát biểu sau đây: “Phụ nữ bị tấn công tình dục là do có những hành vi khiêu khích như ăn mặc không kín đáo hoặc ra đường vào đêm muộn.” Thực ra thì không phải ít người nói như vậy. Nhiều năm trước, thầy Thích Chân Quang cũng có phát biểu tương tự như thế, và khuyên phụ nữ đừng ăn mặc hở hang.

    Khi tôi còn nhỏ, có lần tôi đọc một bài báo (tiện đây thì từ lúc biết chữ tôi đọc mọi thứ trong nhà) nói về vụ một người phụ nữ Hồi giáo lên một chiếc xe taxi có 5 người đàn ông và bị hãm hiếp. Có lẽ cô ấy đã có việc gấp, nhưng cộng đồng của cô ấy không quan tâm đến lý do, với họ thì cô đã khiêu khích 5 người đàn ông. Vì cái tội đó, cô bị kết án chịu hình phạt ném đá đến chết.

    Nếu bạn thấy nói rằng “X nhiễm corona vì đi Vũ Hán” là đúng, bởi vì nếu không đi Vũ Hán thì đã không mắc bệnh, và bạn thấy nó đúng một cách rất hiển nhiên, thì những người đã kết án cô gái kia cũng nghĩ như bạn. “Nếu cô ta không lên chiếc taxi đó, thì chẳng có chuyện gì xảy ra, vì cô ta cố tình lên xe nên mới có chuyện.” – họ có thể nghĩ vậy và thấy rằng hiển nhiên lỗi thuộc về cô gái. Tôi tất nhiên không biết họ thật sự nghĩ gì, nhưng cách nghĩ ấy quen quen. Kinh nghiệm của tôi nói rằng, khi chúng ta nghĩ ai đó ngu xuẩn hoặc khốn nạn, thì lý do quan trọng nhất là ta không biết họ nghĩ gì, và ai cũng thấy mình nghĩ thật có lý.

    Thật ra thì mọi chuyện rất đơn giản. Sau VSSS2014 tôi nhận ra là tôi biết về tương quan và nhân quả trên giấy nhiều hơn, dù đó là những thứ miêu tả cuộc đời. Về chuyện ăn kem và đuối nước, nếu lấy số liệu và tính toán thì chúng ta sẽ thấy hệ số tương quan của hai biến “lượng tiêu thụ kem” và “số người chết đuối” rất gần với 1. (Bạn có thể đọc về hệ số tương quan ở đây.) Điều đó chỉ nói lên rằng hai việc đó có liên quan mật thiết đến nhau, chứ không thể dùng để kết luận rằng ăn kem thì sẽ đuối nước. Cũng như thế, không thể kết luận rằng khí hậu lạnh hay ăn nhiều sô cô la khiến cho kinh tế phát triển.

    Và đây là lý do cho hệ số tương quan rất cao kia: Vào mùa hè, người ta hay ăn kem và cũng hay đi bơi. Giả sử tỉ lệ chết đuối do đi bơi là cố định thì việc đi bơi nhiều hơn dẫn đến nguy cơ đuối nước cao hơn, và số vụ chết đuối cũng tăng lên. Có nghĩa là quan hệ “đi bơi – chết đuối” là quan hệ nhân quả, còn “ăn kem – chết đuối” thì có tương quan. Thời tiết nóng nực mùa hè là yếu tố liên kết “ăn kem” và “đi bơi” – nguyên nhân của “chết đuối” – nhưng bản thân nó thì lại bị ẩn đi và không được bàn luận.

    Trong các nghiên cứu nghiêm túc, người ta thường không bạo miệng đưa ra các quan hệ nhân quả, mà phát biểu chúng ở phần thảo luận. Phần kết quả là phần nói về kết quả phân tích số liệu. Những người làm khoa học chân chính hết sức tránh việc nhầm lẫn giữa tương quan và nhân quả, vì không phải lúc nào nó cũng hiển nhiên như ví dụ ăn kem.

    Chẳng hạn, đi Vũ Hán không phải là nguyên nhân của việc nhiễm corona. Nguyên nhân của việc nhiễm corona là do tiếp xúc với người bệnh. Tuy nhiên đến Vũ Hán và nhiễm corona có tương quan cao, bởi vì có nhiều người bệnh ở Vũ Hán, đây là yếu tố liên kết, là nguyên nhân mà đã bị ẩn đi khi chúng ta đưa ra nhận định (*). Bạn có đến Vũ Hán hay không không quyết định việc bạn có bị nhiễm bệnh hay không, nhưng nó làm tăng nguy cơ.

    Tôi hiểu là những người có lý trí thì ai cũng biết không phải việc phụ nữ ăn mặc khêu gợi là nguyên nhân của tấn công tình dục. Những người có lý trí nhiều hơn thì thấy rằng có tương quan giữa việc đến những nơi có nguy cơ cao hay ăn mặc hớ hênh với việc bị tấn công. Thứ bị ẩn đi là ham muốn của những kẻ tấn công, thứ mà theo lẽ thường sẽ lên cao khi có cơ hội. Phụ nữ có hành động bất cẩn hay không không quyết định việc họ có bị tấn công hay không, nhưng việc đó làm tăng nguy cơ.

    Tôi thấy có những người kịch liệt phản đối việc khuyên phụ nữ tránh xa nguy cơ bằng cách từ bỏ thói quen ăn mặc có thể có tính khêu gợi hoặc tránh những nơi có nguy cơ. Họ nói rằng làm thế là vi phạm quyền tự do của phụ nữ và chỉ tập trung chỉ trích những kẻ tấn công.

    Tôi phải thừa nhận rằng họ đúng. Họ vừa đúng, vừa ích kỷ, vừa tàn nhẫn. Họ đúng ở chỗ khuyên phụ nữ như thế là hạn chế quyền tự do, họ đúng ở chỗ lỗi hoàn toàn ở những kẻ tấn công. Nhưng họ cũng ích kỷ, tàn nhẫn, hoặc ngu xuẩn.

    Ngu xuẩn ở chỗ mỡ kích thích mèo là lẽ hiển nhiên. Con người, trước khi là người, thì đã là “con,” và vẫn mãi sẽ như vậy. Chẳng có sự giáo dục hay luật lệ nào có thể thay đổi được bản năng (tu hành thì có thể, tôi nghĩ vậy). Chẳng có kẻ đốn mạt nào cảm thấy hắn đốn mạt hay cảm thấy tội lỗi hay sợ hãi sự trừng phạt khi mà ham muốn nổi lên. Lý trí chỉ quay trở lại khi cảm xúc đã đi mất, cũng là lúc mọi chuyện đã xong xuôi, và quá muộn. Tâm lý học tội phạm là một trong vài thứ làm tôi thấy những điều hiển nhiên là hiển nhiên.

    Sự đấu tranh của những người đó là chính đáng và đúng đắn, nhưng hiệu quả của nó, thì như tôi đã nói, nếu đong đếm được thì có lẽ nặng hơn lông hồng. Với tình hình ấy mà lên án những người khuyên phụ nữ nên tránh xa nguy cơ từ đầu, thì hoặc là ngu ngốc, hoặc là ích kỷ và tàn nhẫn khi mà chỉ để bảo vệ một thứ lý lẽ bản thân theo đuổi mà để cho những con người thật sự phải đối mặt với nguy hiểm. Nói đơn giản là, nếu có con gái, bạn có thấy rằng khuyên nó ăn mặc kín đáo, hoặc đừng đi chơi khuya, là vi phạm nữ quyền hay không? Khi có chuyện gì xảy ra, thì trách nhiệm thuộc về ai cũng có ý nghĩa đấy, nhưng …

    Tôi thấy những lời khuyên của cha mẹ dành cho con gái như trên là biểu hiện của tình yêu thật sự, không phải là một thứ được dẫn dắt bởi sự thiếu kinh nghiệm, vô tâm, hiếu chiến, và muốn chứng tỏ mình như những người nói rằng phụ nữ cứ mặc bất kỳ thứ gì họ muốn và đi chơi bao lâu hay đến đâu tùy thích. Tôi nghĩ họ là những người không có con gái, hay không có người phụ nữ mà họ đủ yêu thương để có thể nghĩ về mọi điều có thể xảy ra. Thầy Thích Chân Quang không hiểu về tương quan, chuyện ấy đã rõ, thầy có những điều làm mích lòng ai đó, chuyện đó có thể không cần quan tâm, nhưng những lời khuyên của thầy về chuyện này, thì với tôi chẳng có gì phải bàn cãi.

    Cuối cùng thì, chúng ta có thể kết luận rằng thuyết tương đối rất thú vị.

    Tản mạn ngày mưa

    Mùa mưa

    Tôi sống ở một tỉnh ven biển Nhật Bản – 日本海, mùa mưa đã bắt đầu vài ngày trước. Biển Nhật Bản là vùng biển giữa TQ, bán đảo Triều Tiên, và Nhật Bản, chứ không phải là vùng biển phía Nam, dù cũng là biển ở Nhật. Người Nhật quan tâm đặc biệt đến thời tiết. Mùa mưa được tính chính xác đến từng ngày, ngày bắt đầu và ngày kết thúc, cũng giống như ngày hoa anh đào nở được dự báo cho từng vùng như dự báo thời tiết. Các vùng có mùa mưa khác nhau, chẳng hạn ở Hokkaido thì không có mùa mưa.

    Nói là tản mạn ngày mưa nhưng thật ra là mùa mưa thì ngày nào cũng mưa. Mấy ngày này tôi được nghỉ, thường hay ngồi trong phòng qua cửa kính ngắm mưa. Tôi may mắn có căn phòng nhìn ra dãy Tateyama, hay là Alps của Nhật Bản. Ngày nào cũng được ngắm Alps, dù là có thêm mái nhà và vài cái dây điện chắn ngang nữa :).

    Mưa hay đem đến cho người ta nhiều cảm xúc. Ngày hôm qua tôi đã ngồi trong phòng, nghe nhạc, ngắm mưa, và nghĩ về những ngày xưa, nghĩ về cả những ngày đã trôi qua mà tôi chưa từng sống.

    Viết bởi chuyên gia

    Hồi xưa tôi thích đọc Osho, bây giờ thì sự thích ấy đã thuyên giảm :). Ông nói nhiều câu hay, đúng, mà đơn giản. Hay ở chỗ vừa đúng vừa đơn giản mà chưa ai từng nói. Có lần ông viết về những người giả vờ đã giác ngộ, rằng ai cũng có thể viết về những trải nghiệm tâm linh, nhưng nhiều người thì chỉ đọc ông đã biết họ còn chẳng biết cách ngồi thiền.

    Và ông nói một câu mà đại ý tôi nhớ mãi: Không biết mà dạy người thì cũng giống như kẻ không biết bơi muốn cứu người chết đuối.

    Câu ấy đúng làm sao. Và nếu con người ta cứ làm như thế, thật tai hại cho xã hội. Gần đây tôi đọc báo và vài diễn đàn tiếng Việt. Tôi có cảm giác không gì khác hơn là có nhiều người chẳng biết bơi mà lại thích đi trình diễn kỹ thuật bơi lội của mình. Chẳng có ai bắt họ làm thế. Có lẽ nào, cái nhu cầu được chứng tỏ mình, nhu cầu được công nhận, thậm chí là công nhận thứ mình không có, lại lớn thế sao?

    Tôi đang đọc “Một đời thương thuyết” của Phan Văn Trường. Phần mở đầu ông có nói về những cuốn sách viết về nghệ thuật thương thảo đầy những từ ngữ đao to búa lớn không cần thiết. Kiểu viết sách ấy làm cho vài người có ác cảm với sách kỹ năng. Nó cũng làm cho người đọc tốn thời gian vô ích, tôi nghĩ vậy. Phan Văn Trường khác với các tác giả kia ở chỗ ông là một nhà thương thuyết lão luyện. Lời lẽ của ông giản dị, mà bài học thì dễ thấm. Tôi nghĩ đơn giản vì ông có kinh nghiệm. Khi người ta có thực lực, người ta có thể chỉ cần làm như người ta vẫn làm, chẳng phải chứng tỏ điều gì. Con quạ mong người ta nói nó đẹp, con công thì không. Nó đủ hiểu về giá trị của bản thân để biết rằng kẻ nào chê bai nó hoặc là có vấn đề thẩm mỹ, hoặc đang bị lòng đố kỵ thiêu đốt. Khi người ta không có kinh nghiệm và thực lực, người ta khua múa mong che mắt người khác. Như thế thì chỉ mệt mỏi cho cả đôi bên. Tôi nghĩ các tác giả dù non nớt cũng có ý tốt, nhưng nếu họ thật sự muốn giúp ai đó, thì tốt nhất nên tập bơi cho chắc đầu tiên.

    Lúc tôi học tiếng Anh, cô giáo tôi nói rằng không phải cứ giỏi hơn là dạy được, mà phải giỏi hơn rất nhiều. Giáo viên muốn dạy B1 thì cần có C1, muốn dạy B2 thì nên có C2. Quy tắc đó bị phá vỡ khi chúng tôi học C1, nhưng lúc đó cũng chẳng phải là học nữa – chúng tôi luyện đề. Các giảng viên khi ấy giống như những người đi trước truyền đạt lại kinh nghiệm cho những người đi sau. Khi tôi còn học đại học, giảng viên các môn của chúng tôi đều có PhD, đó là điều kiện tiên quyết. (Mặc dù thực ra nó gây ra vấn đề.) Chuyện người biết nhiều chỉ cho người biết ít không được chấp nhận, phải là người biết nhiều hơn rất nhiều và dày dặn kinh nghiệm. Tôi đã quen với việc đó.

    Ngày nay, có những tác giả viết sách không nghĩ thế. Tôi nhớ vài năm trước khi còn ở VN, có lần tôi thấy một bản ebook dạy tiếng Anh của một bạn trẻ khi ấy làm việc cho TGM. Bạn trẻ ấy là một diễn giả truyền cảm hứng và có lẽ khi ấy cũng có nhiều ngàn người theo dõi, tôi nghĩ nhiều bạn sẽ in sách đó. Vấn đề là, sách sai tùm lum. Lần đó, tôi đã liệt kê từng lỗi sai và gửi cho bạn trẻ kia. Một phần vì tôi quý bạn ấy, phần khác vì tôi nghĩ về những người, có lẽ khá đông, sẽ dùng sách đó. Bạn ấy có sửa, nhưng phản ứng của bạn ấy không tốt lắm, tôi nghĩ. Không tốt thế nào tôi thật sự không còn nhớ, vì trí nhớ tôi kém, nhưng từ đó về sau tôi không liên lạc với bạn ấy nữa. Việc bạn ấy làm, tôi thấy ứng với câu không biết bơi muốn cứu người chết đuối làm sao.

    Tôi đôi lúc gặp khó khăn khi tìm sách đọc, vì tiêu chuẩn cho tác giả hơi cao. Nhưng nếu tìm được những cuốn tử tế, thì tôi nghĩ sẽ lĩnh hội được nhiều điều giá trị hơn, và tránh mất đi thời gian vô ích. Đọc sách thì giống với thảo luận, hay là học từ tác giả. Nói chuyện với người từng trải và uyên bác thì thích hơn so với nói chuyện với những người tự cho mình là uyên bác. Tôi nghĩ vì không bằng lòng với những thứ dễ dàng mà tôi đã tìm gặp được những cuốn sách dạy cho tôi nhiều điều tốt đẹp, những cuốn sách về những chủ đề mà trên đời khó có người viết hay hơn. Chẳng hạn, mười mấy năm trước, tôi mua được cuốn sách vật lý thầy tôi viết cùng với đồng nghiệp, trước khi tôi được học thầy. Cuốn sách đó là một trong số những cuốn đã thay đổi cuộc đời tôi. Khi ấy, thầy là một trong những chuyên gia đầu ngành về quang học, nhưng vẫn dành thời gian viết cho tụi trẻ con như chúng tôi.

    Thế là, tôi vẫn thấy tìm sách là việc khó. Tôi biết rằng khi người ta biết đủ nhiều, người ta sẽ muốn chia sẻ. Cuộc đời này vẫn đang như vậy và tình hình xuất bản sách sẽ không khác đi cho đến khi các nhà xuất bản làm việc tử tế hơn. Nhưng cái mức độ nhiều ấy của một số người, đơn giản là chưa đủ, ít nhất là với tôi. Giá mà người ta chờ đến khi trở thành chuyên gia, hay khi đã về hưu, thì tốt nhỉ.

    Thể loại mà tôi yêu thích nhất bây giờ, là hồi ký.

    Exposure

    Thông thường thì chúng ta hay nói rằng chất lượng quan trọng hơn số lượng. Nhưng tôi nghĩ, để làm ra những thứ tốt, số lượng cũng quan trọng. Có khi, đó còn là sự quan trọng có tính quyết định. Làm ra nhiều thứ giống nhau là một ví dụ cho việc tăng sự tiếp xúc với một công việc cụ thể. Tôi tin rằng tăng cường sự tiếp xúc với nhiều thứ giúp cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn. Dưới đây là vài suy nghĩ nhỏ về điều đó.


    Tôi từng nghe câu chuyện thế này:

    Có hai nhóm học sinh học làm gốm. Sau khóa học, các em sẽ thi với nhau và nhóm nào làm ra những sản phẩm tốt nhất sẽ có thưởng.

    Cách mà hai nhóm được hướng dẫn là khác nhau. Nhóm thứ nhất được khuyến khích làm càng nhiều bình gốm càng tốt. Nhóm thứ hai được hướng dẫn là phải làm chỉn chu tỉ mỉ từng sản phẩm, đến mức chưa hài lòng thì chưa làm sản phẩm khác.

    Sau hai tuần, ngày thi của các em đã đến. Và kết quả? Nhóm thứ nhất thắng áp đảo. Các sản phẩm của các em, những người đã làm ra rất nhiều bình gốm, hầu hết tốt hơn so với của nhóm đã cố gắng làm ra những bình gốm hoàn hảo.

    Ở đây, khi chúng ta càng cố gắng đạt đến sự hoàn hảo, chúng ta càng xa nó. Con đường tự nhiên để đi đến sự hoàn thiện là không ngừng tạo ra và cải thiện kết quả, chứ không phải là chú ý vào từng kết quả. Nói cách khác, sự chăm chỉ sẽ chiến thắng sự cầu toàn.


    Tôi thích đọc những chuyện ngày xưa. Tôi từng nhiều lần kinh ngạc trước những gì mà các bậc tiền bối, những người nhận một nền giáo dục không thể nói là lý tưởng, thời kỳ đầu và giữa thế kỷ 20, làm được. Họ phải học hành trong điều kiện chính trị bất ổn, không được dùng tiếng mẹ đẻ trong hầu hết các môn học. Vậy mà họ có thể cạnh tranh sòng phẳng với những người đến từ các nước phát triển, trở thành những kỹ sư chủ chốt trong các tập đoàn lớn, xuất bản trên những tạp chí hàng đầu. Nói chung, họ không thua kém, nếu không muốn nói là vượt hơn những người bạn ngoại quốc.

    Tôi không có cảm nhận như thế về học sinh ngày nay.

    Một điều thú vị là cách học của các tiền bối ấy khi còn nhỏ thường rất cơ bản: Học thuộc lòng. Tôi nghĩ là các bác không thông minh hơn học sinh bây giờ, nhưng cách học ấy khiến cho mọi việc đơn giản, và nó hiệu quả nữa.

    Hồi còn bé lắm, chúng tôi phải học nhiều toán. Bài tập rất nhiều. Có lúc tôi thấy phải suy nghĩ, có lúc không cần. Chúng tôi làm toán nhiều đến mức thành phản xạ. Chắc là bây giờ lối học ấy đã bị loại bỏ, cũng dễ hiểu là người ta sẽ nghĩ học như thế thì không sáng tạo được. Tôi thì lại nghĩ rằng nó giúp chúng tôi sáng tạo hơn, vì chúng tôi không tốn năng lực trí óc vào việc giải quyết những vấn đề chắc chắn là có thể giải quyết. Khi đi thi chúng tôi có thể dành thời gian để nghĩ cách làm những bài khó.

    Khi tôi học cấp ba, chỉ còn vài thầy cô dạy học thuộc lòng. Một là ở môn ngữ văn, vì nó phải thế. Không thể nào phân tích thơ mà không thuộc thơ được. Hai là môn hóa học. Tôi vẫn nhớ một thầy giáo của chúng tôi, một thầy giáo già đáng kính khi ấy vẫn còn là GVC của ĐHKHTN, thường bắt chúng tôi đọc thuộc các định nghĩa. Chúng tôi lặp đi lặp lại từ lúc chưa hiểu mô tê gì, được thầy giảng từng chữ nhỏ trong cái định nghĩa ấy, rồi lại lặp đi lặp lại. Cuối cùng thì tôi lại thấy mình hiểu rất rõ, mỗi lần nhẩm lại càng hiểu thêm. Tiếc là tôi bỏ học hóa hơi nhiều. Tôi thấy lối học ấy như là dùng khẩu quyết để học võ vậy. Từ chỗ hiểu mơ màng, cứ lặp đi lặp lại, vừa lặp lại vừa làm bài tập, hoặc luyện tập bằng các động tác, kinh nghiệm cứ thế đầy lên, chỉ lặp đi lặp lại mà ngày càng mạnh thêm.

    Về sau, tôi biết ở TQ có thầy giáo tên là Lý Dương cũng chủ trương dạy học tiếng Anh bằng phương pháp thuộc lòng, và thu được những thành công rực rỡ.

    Sự học thuộc lòng, chẳng phải là đề cao giá trị của số lượng hay sao? Tư tưởng xuyên suốt rất đơn giản. Người học càng lặp lại nhiều, họ càng thuần thục cái thứ mà họ đang lặp lại.

    Tôi nghĩ, không phải mỗi tiếng Anh, học ngoại ngữ thì sự tiếp xúc là quan trọng. Có thể tiếp xúc với ngôn ngữ bằng cách đọc cái người khác viết, càng nhiều càng tốt; hoặc nghe người khác nói, càng nhiều càng tốt; hoặc là học thuộc lòng, viết đi viết lại, nghĩ bằng thứ ngôn ngữ ấy ở trong đầu, càng nhiều càng tốt. Tôi nghĩ người giỏi không phải vì họ thông minh, mà vì họ tiếp xúc nhiều và luyện tập nhiều.

    Lúc tôi còn nhỏ, khi mới bắt đầu học tiếng Anh, cô giáo bắt chúng tôi chép đi chép lại mọi từ mới, mỗi từ hai dòng, suốt vài năm. Đó là một lối học cũ và có hạn chế của nó, vì nhớ được từ không có nghĩa là sử dụng được từ. Tuy thế, nó tốt hơn là học mà còn không nhớ nổi từ. Nếu áp dụng phương pháp cũ hơn nữa, là phương pháp lặp lại của thầy Trần Nhã, mà tôi đã đăng trước đây, thì người học còn có thể trở nên thành thạo trong việc sử dụng ngoại ngữ nữa. Gần đây, tôi học tiếng Pháp theo phương pháp của Paul Noble và thấy mình tiến bộ rõ ràng. Paul Noble về cơ bản cũng dùng phương pháp lặp lại, nhưng còn sử dụng nguyên lý cũ hơn nữa, đó là sao chép cách con người học tiếng mẹ đẻ (kết hợp với đối chiếu ngôn ngữ để tận dụng ưu thế của người lớn). Theo phương pháp này, người học được giải thích nghĩa của các cách diễn đạt, sau đó được nghe nhiều lần trong một số ít văn cảnh đơn giản. Trong các bài học mới, các cách diễn đạt mới được đưa vào và các cách diễn đạt cũ được lặp lại có chủ đích rất nhiều lần. Con người học ngôn ngữ cũng y như vậy, chúng ta củng cố các cách diễn đạt cũ, tiếp nhận từ ngữ và cách diễn đạt mới trực tiếp hay gián tiếp (được dạy, hoặc suy luận ra ý nghĩa của nội dung mới). Người trưởng thành thực tế cũng đang học tiếng mẹ đẻ như vậy. Họ luyện tập với nội dung đã biết và học thêm trung bình 1 từ mới mỗi ngày (người nói tiếng Anh). Phương pháp của Paul Noble, đối với tôi, hiệu quả hơn nhiều so với các phương pháp mà kiến thức cũ không được lặp lại đủ nhiều, và quá nhiều kiến thức mới được đưa vào mỗi bài học. Các phương pháp đó vẫn có thể có hiệu quả nếu người học biết cách ôn tập, còn phương pháp của Paul Noble thì gần như chắc chắn hiệu quả vì bản thân nó là một chương trình ôn tập và mở rộng liên tục. Ở đây, ta có thể một lần nữa thấy lợi ích của sự lặp lại.

    Số lượng, hay sự tiếp xúc quan trọng không phải chỉ ở mỗi chuyện học hành, mà còn cả trong đời sống và công việc của chúng ta nữa.

    Có lần, trên Quora một người hỏi làm thế nào để biết được người mình yêu có phải là tình yêu đích thực của đời mình không, hay ít nhất thì cũng biết được có thể tiến tới hôn nhân mà không gặp phải vấn đề quá lớn ngay sau đó do kết hôn rồi mới biết sự thật về nhau. Một giáo sư đã trả lời: Hãy cùng nhau đi du lịch.

    Bác trả lời là GS Vật lý, nhưng triết lý thì không phải cứ phải làm triết học mới biết. Bác ấy giải thích rằng hãy cùng đi du lịch nhiều ngày, đến những nơi khó khăn một chút, để biết hai người có thể cùng nhau vượt qua khó khăn hay không, để biết trong những tình huống căng thẳng người kia có thể kiểm soát bản thân hay không, và để hiểu rõ hơn về con người thật của nhau. Tôi thấy đó là một lời khuyên thật hợp lý. Thay vì nông nổi đến với nhau vì những ấn tượng tốt đẹp có về nhau trong những hoàn cảnh lý tưởng và nhận ra vấn đề về nhau khi những khó khăn xảy đến trong cuộc sống sau này, trước hết cùng nhau sống qua những khó khăn “giả lập” là một giải pháp hay. Tôi nghĩ, cách này về cơ bản là tăng mức độ tiếp xúc của hai người.

    Lâu rồi trong một video, anh Nguyễn Hữu Trí nói về một số bạn trẻ đang cảm thấy trì trệ trong công việc. Anh nói cách tốt cho các bạn là cố gắng hoàn thành mọi việc, làm càng nhiều càng tốt. Công việc bây giờ có thể chán, nhưng sau đó thì không. Hoặc nếu công việc cứ chán mãi, thì có thể xem xét bỏ việc. Nếu bạn dốc hết sức mình thì không có gì phải hối hận. Bạn sẽ chỉ phải thực sự hối hận khi làm việc èo uột để rồi 10 năm sau mới nhận ra mình không phù hợp với công việc. Ở đây, việc tăng lượng công việc, tăng mức tiếp xúc sẽ giúp chúng ta tiết kiệm thời gian. Nhận xét của anh cũng không phải là mới. Nhiều năm trước trong một bài nói chuyện ở TED, Mel Robbins đã nói những điều tương tự. Người ta dằn vặt bản thân chỉ vì người ta không làm việc mà thôi. Nếu bận rộn, ta sẽ không có thời gian cho những suy nghĩ tiêu cực và những việc không đâu nữa. Xa hơn nữa, cổ nhân cũng có nói: “Nhàn cư vi bất thiện.”, câu đó cũng không ngoài ý này. Tiện đây, nếu bạn chọn người yêu, khi mọi thứ khác tương đương hoặc không phải là ưu tiên của bạn, hãy chọn người yêu lao động. Những người yêu lao động thường sống tích cực, yêu thương người khác, và chắc chắn có nhiều cơ hội phát triển. Bạn tiếp xúc càng nhiều với thứ gì, bạn càng thích nghi với nó. Tiếp xúc nhiều với công việc là một sự tiếp xúc ai cũng nên có và yêu.

    Có lẽ bạn biết rằng deliberate practice, tức là tập luyện ở những chỗ mình yếu nhất, là một phương pháp hiệu quả. Không phải cứ luyện tập nhiều là giỏi, mà phải luyện tập có phương pháp. Thực chất là, ngay cả ở deliberate practice, bạn vẫn càng giỏi khi càng dành nhiều công sức và lặp đi lặp lại một thứ. Sự khác biệt của cách làm này với các phương pháp cũ chỉ là thay vì dàn trải sự “lặp đi lặp lại,” bạn tập trung vào một vài khía cạnh cần được cải thiện nhất.

    Sự lặp lại thường bị cho là đi ngược lại với sự sáng tạo. Có phải như vậy không? Lẽ thường chúng ta sẽ nghĩ rằng có, nhưng thực ra là không, hay ít nhất cũng đã có cuốn sách chứng minh rằng không. Một cuốn sách tôi nghĩ rằng hay (rất tiếc đã không còn nhớ tên) đề xuất phương pháp để trở nên sáng tạo. Một giai đoạn quan trọng là nghĩ về vấn đề cần giải quyết, nghĩ đi nghĩ lại, khi mà mọi yếu tố đã được thuộc lòng. Ý tưởng sẽ nảy sinh. Có nghĩa là, khác với các giai thoại về những thiên tài, hầu hết máy móc được cải tiến bởi những người hiểu rõ phiên bản cũ như lòng bàn tay. Các phương pháp mới thường được tạo ra bởi các chuyên gia, những người hiểu các phương pháp cũ từ trong ra ngoài. Ý tưởng thường không phải đột phá, nhưng liên tục tốt hơn những ý tưởng trước. Bạn có thể chờ đợi một ý tưởng khác biệt căn bản, nhưng không phải lúc nào nó cũng đến, vì thế không có phương pháp cho ý tưởng đột phá, nhưng có phương pháp chắc chắn cho việc sản sinh ý tưởng.

    Ngay cả trong nghiên cứu ngày nay, cảm nhận cá nhân của tôi là các nhà khoa học không cần sáng tạo. Ở tầm cỡ như Edward Witten thì có lẽ cần, còn nếu chỉ cần có bài đăng trên tạp chí Q1 thì không hẳn. Bạn chỉ cần hiểu rõ, rất rõ việc bạn đang làm, và chăm chỉ làm việc. Vào một ngày đẹp trời, một thứ thú vị sẽ xuất hiện. Nếu nó không xuất hiện, rất có thể bạn chưa đủ chăm chỉ. Bạn càng làm việc nhiều, bạn càng có nhiều kết quả, càng tiếp xúc với nhiều thứ mới, và khả năng những thứ thú vị xuất hiện càng cao. Điều quan trọng chỉ là bạn có đủ khả năng giải thích những thứ mới lạ đó hay không mà thôi, điều đó thì không liên quan đến sức sáng tạo.

    Cách mà thế giới đang tiến lên phía trước là không ngừng cải tiến những điều đã có, chứ không hẳn là không ngừng tạo ra những điều chưa có. Bạn có thể để ý hoặc không, nhưng những công ty thành công nhất không phải là những công ty là khởi nguồn của ý tưởng về ngành nghề kinh doanh của họ, mà là những công ty giỏi nhất trong việc cải thiện ý tưởng nguyên thủy. Google không phải là nơi ý tưởng về máy tìm kiếm ra đời, và Facebook chắc chắn không phải là mạng xã hội đầu tiên. Họ thành công vì đã phát triển ý tưởng ban đầu theo hướng hợp lý, đó là một sự cải thiện. Cải thiện thì cũng cần sáng tạo, nhưng cái nó cần hơn là sự chăm chỉ.

    Tóm lại, tôi nghĩ rằng việc lặp đi lặp lại, hay tăng mức độ tiếp xúc với con người, công việc, hay kiến thức là quan trọng, và chỉ cần vậy thôi cũng đã đủ để dẫn đến những kết quả tốt đẹp.

    Thế giới như tôi thấy

    Nhiều khi, tôi tự hỏi tại sao người ta lại có thể nghĩ khác mình như vậy. Bây giờ tôi không hỏi tự hỏi mình như vậy nữa. Tôi biết đó là điều hiển nhiên.

    Ngày trước tôi thường hay ăn tối ở một quán nhỏ ấm cúng vùng Katsura của Kyoto. Đó là một quán mà khách thỉnh thoảng nói chuyện với nhau, và với chủ quán. Không khí khá gần gũi và thân mật, có lẽ hao hao giống như quán ăn trong series Midnight Dinner trên Netflix. Có lần tôi nói chuyện với một gia đình. Hai vợ chồng có một người bạn từng sống ở Việt Nam, họ nói ở Việt Nam an ninh trật tự kém lắm phải không. Tôi nói không phải. Họ bảo người bạn của họ nói ở Việt Nam sợ lắm. Tôi bị bất ngờ. Với tôi thì Việt Nam là nơi an toàn nhất thế giới :), nói như vậy có thể hơi quá, nhưng chắc chắn là khi tôi còn ở nhà, an ninh chẳng kém gì ở Kyoto.

    Rồi tôi lại nhớ nhiều người nói đại học ở VN thế này thế kia, công ty ở VN thế này thế kia, Hà Nội thế kia thế nọ. Những điều họ nói khác hẳn với cảm nhận của tôi. Thế thì họ sai chăng? Không, hoàn toàn không.

    Khi bạn tìm hiểu một chút về chính trị ở Mỹ, nếu bạn đọc phân tích của những người Dân chủ, bạn sẽ thấy những đường lối của Cộng hòa có phần thiển cận, ích kỷ, vô nhân đạo; ngược lại, nghe phân tích của bên Cộng hòa thì những người Dân chủ lại có phần phi thực tế, điên rồ, và không hiểu lý lẽ. Nếu cả hai bên đều đúng, thì đa phần dân Mỹ có vấn đề về nhân cách hoặc tư duy.

    Tôi không nghĩ như thế. Đa phần dân Mỹ là những người bình thường. Bi kịch ở đây là trên đời có thứ gọi là confirmation bias, người ta thường tìm kiếm những chi tiết ủng hộ kết luận của họ, chứ không phải là tìm kiếm dữ kiện để có kết luận. Con đường tư duy thực tế thường ngược với con đường mà ta được đào tạo, ai mà biết được con người lý trí đến đâu. Người Cộng hòa thường phản đối quan điểm Dân chủ từ trước khi những người Dân chủ giải thích, và ngược lại. Confirmation bias có khi làm người ta xuất hiện một cách rất ngu xuẩn, chẳng hạn tôi đọc được có người nói rằng Mỹ thiếu trang thiết bị y tế vì chính quyền trước không bổ sung. Chính quyền vào năm 2020 nói rằng chính quyền mãn nhiệm năm 2016 đã không bổ sung thiết bị, thế thì suốt mấy năm qua chính quyền mới làm gì? Những kiểu buộc tội và phản pháo kiểu đó có thể thấy ở cả hai bên. Tôi đọc các nguồn Dân chủ nhiều hơn và thấy hành vi của Trump nói chung là trơ tráo và thỉnh thoảng ghê tởm.

    Nhưng có chắc chắn là tôi nghĩ đúng không?

    Hay nói đúng hơn, có chắc chắn điều mà chúng ta, bạn, hoặc tôi, hoặc bạn và tôi, đang tin, là đúng không?

    Khả năng cao nhất là chúng ta đều đúng, kể cả khi chúng ta tin vào những điều ngược nhau. Làm sao lại có thể như thế được? Vậy mà có thể đấy.

    Ví dụ dưới đây được dẫn từ bài viết trên blog của Nick Case: The WISDOM and/or the MADNESS of CROWDS.

    Case nói về một nghiên cứu năm 1991 chỉ ra hầu hết sinh viên nghĩ rằng bạn bè của họ uống rượu nhiều hơn so với họ. Đó là một điều không phải là không thể xảy ra, nhưng phi thực tế. Lý do là gì? Bạn sẽ thấy trong ví dụ dưới đây.

    Giả sử trong một cộng đồng có 9 sinh viên, 3 trong số đó uống rượu.

    Có cách nào để tất cả mọi sinh viên đều nghĩ rằng số đông (ít nhất một nửa sinh viên) là những người uống rượu không? Ở đây, có thể tạo ra các kết nối giữa các sinh viên. Nếu một người biết 3 người bạn, hai trong số đó uống rượu, anh ta sẽ kết luận rằng phần đông sinh viên uống rượu. Chẳng hạn:

    Trong trường hợp trên, 5 trên tổng số 9 sinh viên nghĩ rằng phần đông sinh viên uống rượu. Có cách kết nối nào để tất cả đều nghĩ rằng phần đông sinh viên uống không? Có. Chẳng hạn như cách kết nối ở hình dưới.

    Trong tình huống này, tất cả các sinh viên có quyền nói rằng phần lớn bạn bè của họ uống rượu. Họ có thể có cảm nhận rằng hầu hết sinh viên là những người uống rượu, trong khi con số thực tế chỉ là 33%. Phát biểu đầu tiên của họ đúng, nhưng nhận định chung về sinh viên thì sai. Họ không thể phát biểu chính xác về tất cả sinh viên, nếu không quen biết tất cả.

    Chúng ta hay rơi vào những trường hợp như vậy, và hơn thế nữa đó là những trường hợp không thể tránh khỏi. Bạn có thể có cảm nhận là người Tp. HCM nói chung giàu hơn người Hà Nội, nhưng có thật thế không? Bạn có biết tất cả người dân hai thành phố không? Biết đâu thu nhập bình quân đầu người cao chỉ là do có một nhóm nhỏ người siêu giàu, và con số đó không nói lên gì về việc cuộc sống ở đâu sung túc hơn, thì sao?

    Toàn bộ nhận định của chúng ta phụ thuộc vào những dữ liệu ta được tiếp cận. Trong hầu hết các trường hợp, ta chỉ biết được một phần của sự thật. Chuyên gia thì biết nhiều phần hơn, nhưng hiếm khi biết tất cả. Vì thế, hãy thận trọng khi đưa ra một nhận định chung cho cả một nhóm đối tượng. Không nên nghĩ rằng những người đưa ra nhận định đối lập với bạn về cùng một hiện tượng là ngốc, vì bạn và họ tiếp cận những thông tin khác nhau, chuyện rất đơn giản.

    Nếu bạn quan tâm, có thể đọc thêm bài viết của Nick Case. Tôi nghĩ đó là một bài viết hay. Nó thậm chí cho chúng ta biết khi nào thì đám đông là thông thái, và khi nào thì chỉ là những đám a dua nông cạn.

    c1825e33885576704b0836e50f728b6f
    Hoa anh đào ở Kyoto

    Bây giờ, quay lại với Việt Nam của tôi. Đó thực ra chỉ là một tập con của đất nước tôi, giao với cuộc sống của tôi những năm tháng đó. Đó không phải là thế giới thật sự như nó là, cũng như thế giới mà các bạn nghĩ là thế giới, đó không phải là thế giới này đâu.

    Tôi vẫn nhớ mãi ngày tôi thi tốt nghiệp trung học, người ngồi cạnh tôi gian lận. Về sau, cậu ta nói với tôi: “Không thể có chuyện có ai tự học mà làm hết được bài thi tốt nghiệp.” Trong khi đó, thậm chí ở trường chúng tôi học sinh khó mà trượt đại học. Chỉ vài cây số khoảng cách, nhưng rõ ràng là hai thế giới.

    Lúc tôi còn ở nhà, người ta hay nói đại học ở VN nhiều tệ nạn, học giả thi giả, chạy điểm này kia. Tôi không hề thấy chuyện gì như thế suốt những năm học hành, hoặc, trí nhớ của tôi kém. Khi tôi coi thi, dù có là con của lãnh đạo cao nhất, nếu có gian lận vẫn bị bắt như thường. Tôi được chỉ thị làm nghiêm túc và không có chú thích gì thêm. Tất nhiên, sau này tôi hiểu nếu những người đó muốn gian lận thì họ có những cách khác. Nhưng rõ ràng thế giới của tôi khác những phàn nàn trên báo chí.

    Hà Nội, cũng như vài đô thị lớn thì có đặc sản là tắc đường vào giờ tan tầm. Tôi thậm chí sống gần một điểm nóng là đường Phạm Văn Đồng. Thế nhưng, chẳng bao giờ tôi mắc kẹt ở đó, vì hầu hết thời gian tôi đi bộ đi học hoặc đi làm, và con đường tôi đi là những ngõ hẻm ít người, hoặc rộng thênh thang. Ở Hà Nội 9 năm, tôi không thấy CSGT làm tiền, không thấy cướp giật, đánh nhau, v.v. Kỷ niệm tồi tệ nhất là có một lần tôi bị móc mất điện thoại ở bến xe bus. Ngoài chuyện đó thì Hà Nội luôn yêu thương tôi. Những gì xấu xa tôi biết chỉ là do nghe những câu chuyện.

    Vì thế, khi có người nói VN an ninh không tốt thì tôi vô cùng ngạc nhiên. Ở một nơi nào đó thì có thể, chứ nơi tôi sống thì không. Ngược lại, khi ai nói người Nhật lạnh lùng, tôi có thể hiểu ngay là họ chưa tiếp xúc đủ nhiều.

    Bạn đọc có thể thấy tôi không trải đời, nhưng cuộc đời mỗi người có một cái, chẳng ai sống hết mọi cuộc đời. Cuộc đời chúng ta chỉ hơi khác nhau. Thế nhưng, nhiều người không chịu hiểu rằng quan điểm của họ chỉ là thế giới nhìn từ một góc, và chỉ trích những khác biệt. Tôi nghĩ nếu chúng ta mở rộng tầm mắt và tấm lòng, để biết hiểu và chấp nhận, thì mọi chuyện đều không có gì kỳ lạ.

    蒲公英

    Tuần này chúng ta nói về ảnh macro. Ảnh macro là một thể loại ảnh chi tiết, với độ phóng đại rất lớn. Chúng ta thường chụp macro các đối tượng nhỏ như côn trùng hay hoa. Macro là khái niệm mà các nhiếp ảnh gia rất khó để có thể không nghe tới, nhưng với những người chưa có nhiều quan tâm thì có thể nó là mới lạ. Bạn có thể google từ khóa này để có một cái nhìn tổng quan về nó.

    Flower
    One of my first macro photos, taken at Katsura Campus, Autumn 2017

    Để hiểu về macro, ít nhất chúng ta cần hiểu hai khái niệm cơ bản: độ phóng đại và khoảng làm việc.

    Độ phóng đại là tỉ lệ giữa kích thước của ảnh của vật thể trên cảm biến và kích thước thật. Chẳng hạn độ phóng đại 1:1 (life-size) là khi kích thước của ảnh trên cảm biến bằng với kích thước ngoài đời thật. Độ phóng đại 1:2 (half life-size) là khi kích thước của ảnh trên cảm biến bằng một nửa kích thước ngoài đời thật.

    Ví dụ bạn chụp ảnh một chú ong dài 2cm với độ phóng đại 1:1 trên camera có cảm biến 35mm, ảnh của chú ong sẽ choán phần đáng kể trên cảm biến (4/7 square). Khi in ảnh, chẳng hạn một tấm poster, bạn sẽ có một chú ong khổng lồ. Lưu ý rằng độ phóng đại là tỉ lệ giữa ảnh trên cảm biến và vật thật, chứ không phải là tỉ lệ giữa ảnh được in ra và vật thật.

    Dandelion (2)
    Close up photos of dandelion

    Mức độ chi tiết được phân định dựa trên độ phóng đại. Với độ phóng đại lớn hơn 30:1, ta gọi đó là ảnh micro. Với độ phóng đại từ 30:1 đến 1:1, ta gọi đó là ảnh macro. Với độ phóng đại nhỏ hơn 1:1 cho đến 1:10 ta gọi đó là ảnh close-up. Với độ phóng đại nhỏ hơn, ta không còn gọi các bức ảnh là ảnh chi tiết nữa. Các điện thoại tốt nói chung chụp được ảnh close-up nhưng không chụp được ảnh macro. Đừng nhầm lẫn rằng khi kích thước của vật thể trên màn hình của bạn lớn hơn kích thước thật thì đó là macro, vì độ phóng đại chỉ liên quan đến kích thước ảnh trên cảm biến.

    Spider
    Drop
    These two photos were taken in October 2017,
    near Ishiyama dera in Shiga, where Genji monogatari was written

    Khoảng làm việc là khoảng cách giữa ống kính và đối tượng được chụp macro. Một khó khăn khi chụp macro là thường thì bạn cần đặt ống kính ở gần đối tượng, khi đó ống kính có thể chắn sáng, hoặc làm đối tượng hoảng sợ (nếu bạn chụp côn trùng). Ống kính có tiêu cự càng lớn thì khoảng làm việc càng lớn. Bạn có thể đã nghe về macro lens, nhưng không phải chỉ có macro lens mới có thể chụp được ảnh macro. Bạn hoàn toàn có thể dùng telephoto lens. Với tiêu cự lớn, ảnh có thể có kích thước rất lớn trên cảm biến.

    Ảnh macro là một trong số những thể loại mang lại cho tôi nhiều niềm vui nhất. Tôi tin rằng bạn nào chưa thử cũng sẽ thấy nó thú vị. Khi chụp ảnh macro, bạn có thể có cảm giác giống như bước vào một thế giới khác, khi mà những thứ bạn thấy hàng ngày hiện lên khác hẳn.

    Bạn có thể tìm hiểu nhiều hơn ở đây hoặc ở đây.

    Không cần phải đầu tư nhiều để có thể chụp macro. Nếu bạn dùng Canon full-frame, bạn có thể mua được một prime lens có thể chụp macro với giá chỉ khoảng $200. Tất nhiên lens càng tốt thì càng đắt, và tôi cũng không biết giới hạn trên. Nếu bạn thật sự muốn thử chụp macro mà không muốn mua DSLR (or for that matter, any interchangeable lens cameras such as MILC), thì một chiếc máy ảnh compact có khả năng zoom thường cũng có thể chụp macro. Ngoài ra, còn có giải pháp đơn giản và nhẹ nhàng nhất là dùng lens dành cho điện thoại. Bạn có thể chụp macro với một bộ lens giá khoảng $20. Tôi chụp macro bằng một chiếc máy ảnh du lịch có lens zoom 30x và một bộ lens dành cho camera phone của Aukey.

    Sakura
    Sakura complexion
    Spring 2018, Kyoto

    Mong là bài viết này gợi lên trong bạn thêm chút hứng thú với việc chụp ảnh. Dưới đây, xin gửi tới bạn một số bức ảnh macro tôi đã chụp hoa Bồ công anh, tiêu đề của bài viết này.

    Dandelion (10)
    Dandelion (8)
    Dandelion (9)
    Dandelion (7)
    Dandelion (5)
    Dandelion (6)

    😊

    Đen và trắng

    Khi tôi còn nhỏ, tôi được dạy rằng trong cờ vua bên trắng luôn đi trước. Tôi đã nghĩ đó là một quy ước để những đứa trẻ đỡ phải nghĩ xem bên nào sẽ bắt đầu, một sự phân định ngẫu nhiên. Thế giới của tôi đã đơn giản đến mức tôi nghĩ nếu ngày hôm ấy những người làm ra cờ vua ở vào một tâm trạng khác, họ đã có thể quy định bên đen đi trước.

    Hình như không phải thế. Hình như trong thế giới của tôi người ta thích màu trắng hơn là màu đen. Tất nhiên, có nhiều thế giới khác.

    Tại sao lại như thế nhỉ. Tại sao người ta nói thật giả trắng đen, mà không nói giả thật đen trắng? Nghe không vần? Vâng, có thể, nhưng thật sự thì tôi thấy đen trắng dễ nói hơn là trắng đen. Tại sao màu đen được coi là biểu tượng của bí ẩn, hắc ám, xui xẻo, xấu xa,… những thứ bị ghét ở thế giới của chúng ta; ngược lại, màu trắng tượng trưng cho thuần khiết, tinh tế, trong sáng, là màu chủ đạo của thiên đường và hy vọng? Chắc là trùng hợp ngẫu nhiên. Chúng ta thích nhiều photon, chắc thế.

    Chắc là trùng hợp.

    Nhưng trong cờ vua thì có lẽ không phải trùng hợp. Chúng tôi thường có ấn tượng rằng người chơi cờ là những người không ủng hộ phân biệt đối xử. Họ chỉ đơn giản là những khối óc và tâm hồn đam mê. Nhưng ấn tượng đó có phải sự thật không? Có hàng triệu người chơi cờ và hàng trăm ngàn người có xếp hạng. Khi nói về điểm chung của một số đông người như vậy, có lẽ đó là đều biết chơi cờ. Nếu có điểm chung nào khác, đó là điểm chung của số đông, chứ không phải của những người chơi cờ. Tư tưởng phân biệt và tình yêu với cờ không phải là hai thứ tương khắc. Một ví dụ nho nhỏ liên quan đến chúng ta là đôi chục năm trước, huyền thoại Nigel Short có phát biểu rằng, cờ vua không phải là môn thể thao dành cho trái tim yếu đuối của phụ nữ. Một hồi sau thì Short thua liểng xiểng trước Hoàng Thanh Trang.

    Bây giờ bên kia bờ Thái Bình Dương đang có biến. Nếu màu đen có được sự tôn trọng mà nó nên có được, thì rất có thể những chuyện mấy ngày này sẽ không xảy ra. Tôi nghĩ khi luật quân trắng đi trước được đưa ra, màu trắng đã được thiên vị. Nhưng đó hoàn toàn là cảm tính mà thôi. Bất cứ người có lý trí nào cũng không nói cầm quân trắng là tốt đẹp và cầm quân đen là tồi tệ. Thế thì ai còn chơi quân đen nữa, và nếu không còn quân đen thì đâu còn cờ vua nữa. Những người chơi cờ hiểu rằng không phải mặc áo trắng thì tốt hơn mặc áo đen, đó chỉ là cái áo mà thôi.

    Bây giờ, sự cảm tính này tình cờ liên quan đến sự bất công và nỗi đau của rất nhiều người. Tại sao màu trắng, trong một môn thể thao chẳng liên quan gì cũng được ưu tiên. Dù chuyện trắng đi trước đã ở trong tâm trí người chơi cờ như một lẽ tự nhiên không cần phải đặt nghi vấn gì, và không hề liên quan đến sự phân biệt, họ vẫn muốn nói ra điều đó, thật lớn, rằng quân trắng đi trước không phải là một sự phân biệt. Đó là một quy ước không hơn không kém, và lúc nào cũng có thể thay đổi. Hạ tuần tháng ba năm nay, Carlsen Magnus và Anish Giri đã thể hiện điều đó bằng cách bắt đầu ván đấu của họ với quân đen.

    Nhìn quân tốt đen được đặt xuống e5, tôi thấy trong lòng rúng động. Một cảm xúc khó tả trào dâng. Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi nhìn thấy các Super Grandmaster bắt đầu trận đấu bằng quân đen. Carlsen và Giri nằm trong nhóm những kỳ thủ mạnh nhất, không phải chỉ ở hiện tại, họ nằm trong nhóm những kỳ thủ mạnh nhất từng xuất hiện trong lịch sử cờ vua. Họ nói, họ muốn chứng minh rằng màu sắc không phải là để cho ai một ưu thế nào, dù trong cờ vua hay trong cuộc đời.

    Video về trận đấu ấy trên tài khoản Instagram của Carlsen được những người yêu cờ vua chia sẻ rộng rãi. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm trên. Không bao giờ nên là ưu thế, trong cờ vua hay trong cuộc đời.

    Không phải là cảm giác của con người ở đâu cũng giống nhau. Ở một góc khác của thế giới, đen mới là bên bắt đầu. Nếu như luật đầu tiên của cờ vua là trắng đi trước, thì luật đầu tiên của cờ vây là đen đi trước.

    Tôi là người chơi hạng xoàng ở cả hai môn. Nhưng tôi có thể nói cờ vây và cờ vua có nhiều điểm trái ngược. Cờ vây phức tạp hơn, và đại diện cho cuộc đời một cách chân thực hơn.

    Sự trái ngược của chúng bắt đầu từ hệ tư tưởng. Tư tưởng trong cờ vua tương đồng với trong cờ tướng. Cả hai có một hệ thống cấp bậc hình tháp với nền là binh/tốt, và đỉnh là tướng/vua. Hệ thống cấp bậc này giống như một triều đình, mục đích là tiêu diệt triều đình đối phương. Một bên thất bại khi vua bên đó bị tiêu diệt. Trong cờ vây, không có sự phân cấp nào. Mục đích trong cờ vây là chiếm đất. Luật cờ vây của Nhật và Trung Quốc có khác biệt lớn, nhưng về cơ bản, bên nào áp đảo về diện tích lãnh thổ sẽ chiến thắng. Trong cờ vua, người chơi điều khiển một lực lượng phân cấp và chiến đấu trong một trận đánh. Trong cờ vây, người chơi giống như những đấng tối cao, và tất cả những thực thể tồn tại chỉ là những “con tốt,” không khác gì nhau. Một con tốt có giá trị hơn những con tốt khác khi nó ở vị trí trọng yếu hơn, chứ không phải vì nó sinh ra đã có giá trị hơn. Trận chiến trong cờ vây không phải là một cuộc quyết đấu, mà là nhiều cuộc quyết đấu, nhiều chiến dịch. Kết quả cuối cùng rất khó nói trước, thua những trận đánh lớn không có nghĩa là chắc chắn sẽ thua ở tàn cuộc.

    Tại sao cờ vây lại phức tạp hơn? Chỉ nhìn số nước đi chúng ta đã có thể thấy được điều đó. Sau nước đầu tiên của hai bên trong cờ vua, có 400 tình huống có thể xảy ra. Trong cờ vây, con số ấy là gần 130 ngàn. Tất cả số nước đi có thể có trong cờ vây nhiều hơn số nguyên tử trong vũ trụ này. Hơn hai chục năm trước, Deep Blue đã đánh bại Kasparov – kỳ thủ cờ vua mạnh nhất mà loài người từng sản sinh ra cho đến thời điểm đó. Nhưng lúc đó nếu có ai nổi hứng lên hỏi bao giờ máy tính có thể đánh bại con người trong cờ vây, chẳng ai có thể trả lời được. Cho đến mười năm trước, đánh bại con người trong cờ vây vẫn chỉ là một giấc mơ viển vông đối với máy tính. Cờ vây quá phức tạp.

    Năm 2016, cuối cùng thì lần đầu tiên một nhà vô địch cờ vây của loài người đã thua máy tính (Alpha Go vs. Lee Sedol). Tuy nhiên, bản chất của Alpha Go và Deep Blue là hoàn toàn khác nhau. Cờ vây quá khó để con người có thể viết ra thuật toán đánh bại con người. Thuật toán của Deep Blue hoàn toàn do con người viết ra. Con người hiểu máy tính làm gì, họ biết phải tính toán những gì, chỉ là họ không thể tính toán nhanh như vậy. Một chiếc máy nếu có khả năng thực hiện hơn hai triệu phép tính một giây thì cũng sẽ có khả năng thắng các đại kiện tướng. Câu chuyện đối với cờ vây thì không như vậy. Con người chưa từng có khả năng viết ra thuật toán cờ vây để đánh bại con người. Chúng ta không hề biết Alpha Go hay Alpha Zero nghĩ gì khi chúng chơi cờ. Chúng ta dạy chúng luật chơi và phương pháp học. Chỉ vậy thôi, chúng ta không biết chúng đã học được những gì. Để giỏi cờ vây, Alpha Go đã tự chơi cờ với chính nó và trưởng thành lên từ kinh nghiệm của bản thân. Đây không phải là viễn tưởng, ngày nay những bộ óc hàng đầu trong lĩnh vực AI cũng không còn hiểu được sản phẩm của họ đang hoạt động như thế nào. Người ta không giải thích được việc AI thông đồng với nhau để nâng giá sản phẩm trên một nền tảng thương mại điện tử, hay buộc phải tắt chúng đi khi chúng bắt đầu giao tiếp với nhau bằng một thứ ngôn ngữ con người không hiểu, đó không phải là những chuyện hiếm gặp.

    Đó là độ phức tạp của cờ vây.

    Quan điểm của cá nhân tôi là cờ vây phản ánh cuộc đời một cách chân thực hơn. Người ta hay lấy những ví dụ từ cách mà một ván cờ diễn ra để nói về cuộc đời, môn cờ nào cũng vậy, mà nói về chuyện đó, bất kỳ trò chơi nào cũng vậy. Nhưng tôi thấy những ví dụ trong cờ vây “đời” hơn. Cuộc sống của bạn tất nhiên không chấm dứt khi bạn thua một trận chiến. Những thành quả bạn đạt được là do quá trình tích lũy lâu dài, thường thì không có chuyện một đòn phối hợp tuyệt đẹp, và duy nhất, làm bạn chiến thắng dù cho bạn yếu thế hơn rất nhiều. Bạn cũng thường bắt đầu từ ngoại vi, chiếm những lợi ích nhỏ và xây dựng cơ sở, chứ không đột ngột bắt đầu bằng cách lao thẳng vào trung tâm. Giá trị của bạn có thể khác với người khác, nhưng về bản chất thì cũng giống nhau cả. Xin lỗi vì tôi hay nói lan man, nhưng gần đây người ta có nói đến chuyện cấm thịt chó, và với tư cách của một người chưa từng ăn thịt chó trong đời, hoặc đã từng nhưng quá nhiều chục năm đã trôi qua đến mức không còn nhớ nổi, tôi có thể nói rằng cái phát biểu rằng chó đáng được yêu quý hơn lợn gà nó cũng vừa ngây thơ vừa khốn nạn như phát biểu rằng mạng người Mỹ đáng giá hơn mạng người Mèo. Cùng là người cả, chỉ là được đặt ở đâu mà thôi, cũng giống như những quân cờ vây, quân cờ nào cũng là quân cờ. Nếu bạn chưa biết đến nhưng bắt đầu có sự quan tâm đến cờ vây, hãy thử tìm hiểu. Bạn sẽ nhận ra nhiều ẩn dụ về cuộc sống trong đó, và có thể cũng giống như tôi, bạn sẽ thấy nó như một cuộc đời thu nhỏ với nhiều triết lý.

    Bên lề một chút, nếu bạn muốn mua cờ vây ở Hà Nội, hãy thử tìm ở hiệu sách Thăng Long đối diện Fahasa ở Tràng Tiền, hoặc đặt mua qua bác Võ Tấn ở tạp chí Người chơi cờ.

    Điều thú vị là, trong cái bộ môn giàu tính triết lý ấy, màu đen mới là màu được ưa thích. Tương truyền rằng Bản Nhân Phường Shusaku mạnh đến mức gần như là không thể bị đánh bại nếu ông cầm quân đen. Cổ nhân thấy gì ở màu đen, chúng ta không biết. Chỉ biết rằng trong cờ vây, đen chứ không phải là trắng, mới là bên được đi trước.

    Giờ nhớ lại lời của Carlsen, ta thấy rằng màu sắc tự bản thân nó không đem lại quyền lợi. Ở đây là trắng, nhưng ở chỗ khác là đen. Nếu nghĩ rằng chiếc áo mình mặc suốt đời do một sự tình cờ của số phận từ lúc sinh ra lại có thể thể hiện đẳng cấp hay bản chất con người, thì đó là một sự xuẩn ngốc đáng thương. Jackson có trở thành con người khác khi anh ta thay áo không? Không. Và tôi tin không có khó khăn gì để đổi màu qua mỗi kiếp. Cái gọi là màu của chúng ta vốn làm gì tồn tại, ta cứ mê muội tưởng thế mà thôi. Sao lại có thể vì một ảo ảnh mà làm khổ nhau cơ chứ?

    Nói về hai màu đen trắng và triết lý của cổ nhân, tôi nhớ đến Hậu Hắc Học. Một vài trăm năm trước, một học giả đang còn ở rất thấp trên những bậc thang danh lợi viết ra một cuốn sách mà ông ta cho rằng phản ánh chân lý trong xã hội, một chân lý mà bản thân ông ta thì không áp dụng, một chân lý mà xã hội có thừa nhận hay không thì về bản chất vẫn vận hành xoay quanh nó mà thôi, theo ông. Ông ta bắt đầu với chuyện thời Tam Quốc, rồi Hán Sở tranh hùng, rồi đúc rút rằng những kẻ làm nên nghiệp lớn là những kẻ có tâm tối hắc, diện bì tối hậu. Cuốn sách đó chính là Hậu Hắc Học, nói như Châu Tân Ninh trong cuốn sách của bà thì đơn giản nghĩa là Mặt Dày Tâm Đen. Kẻ thành công là kẻ chỉ có mục đích mà thôi, dù có bị dị nghị hay sỉ nhục thế nào, dù có phải nhẫn tâm đến đâu cũng sẽ tiến lên cho đến khi đạt được mục tiêu. Đấy có phải điều xấu hay không, tôi không biết. Lý Tôn Ngô chỉ chứng minh sự thật rằng trong lịch sử Trung Hoa những kẻ thất bại thì hoặc là mặt không đủ dày, hoặc là tâm không đủ đen, còn những kẻ thành công thì ngược lại. Bạn có thể tin hoặc không, nếu tò mò hãy đọc sách, nay đã có bản dịch tiếng Việt. Thuyết đó có thể sai. Người ta lúc nào cũng có thể cắt cuộc sống ra, nhặt một lát lên và nói về cuộc đời như thể lát cắt ấy là cả cuộc đời. Tuy nhiên, nếu bạn thấy nó sai chỉ vì bạn thấy những kẻ tâm địa đen tối không thành công trong cuộc đời này, thì như lời Châu Tân Ninh, có ba cấp độ của Hậu Hắc, những kẻ mà bạn nhìn ra chỉ là ở cấp độ một – cấp độ không hơn bọn lưu manh nhiều lắm. Cấp độ một là đen nhánh như than, cấp độ hai là đen và lấp lánh, và cấp độ ba là đen đến vô sắc. Hậu Hắc có xấu không, như đã nói, tùy bạn. Thủa còn non nớt, nghe về Khe Sanh và Mậu Thân, tôi thấy con người sao mà tàn nhẫn. Nhưng không có chúng chắc gì đã có hòa bình. Đừng nghe những giả thuyết, vì chúng được phát biểu hùng hổ đến thế một phần chẳng qua là vì chúng đã không còn có thể được kiểm chứng. Những quyết định ấy đáng được tôn trọng, nhưng làm thế với những người con một lòng vì Tổ quốc, khi ra đi còn hẹn người yêu ngày trở lại, mà không phải Hậu Hắc thì là gì. Chúng ta có một vị tướng danh tiếng lẫy lừng, người ta nói ông không ngại nướng quân, chẳng biết đúng hay sai vì ta đâu có ở trong đầu ông mà biết về cái ngại ấy. Tang lễ của ông, tôi vẫn xếp hàng cùng với hàng ngàn người vào viếng, vẫn xúc động khi viết vào sổ tang.

    Không phải tôi nói rằng ở phương Đông màu đen được yêu thích hơn. Chỉ là so với trắng thì đen không có phần nào lép vế.

    Người ta đã biết rằng trắng đen không phải hai thứ phân biệt rạch ròi. Biểu tượng âm dương của phương Đông vốn dĩ gợi ra một chuyển động vĩnh cửu mà trắng và đen nối đuôi nhau, ở đó ngay trung tâm của trắng là đen và ngược lại. Người ta thường có tâm phân biệt, nhưng sự phân biệt ấy là vô nghĩa. Có khi người ta cố phân biệt giữa trắng và đen, nhưng sự vật trên đời xuất hiện giống như biểu tượng âm dương. Trắng hay đen giống như ảo ảnh trong nhận thức của con người, hơn là bản chất của sự vật. Kim cương thì lấp lánh, than thì đen, nhưng chẳng phải cả hai đều là Carbon thôi sao? Hạt sen phơi khô đen nhánh, nhưng sau lớp vỏ cứng là nhân sen trắng hồng. Gấu Bắc cực nhìn bên ngoài thường có màu trắng, nhưng đó chẳng qua chỉ là vì lớp lông rỗng và trong suốt của chúng phản xạ lại ánh mặt trời theo nhiều phương. Chúng vốn không có màu, dưới ánh hoàng hôn chúng có thể trở thành màu cam. Và dưới lớp lông ấy, da của Gấu Bắc cực thật sự có màu đen. Người ta thì cứ nói về những con “gấu trắng.”

    Vòng tròn trắng đen vĩnh cửu của biểu tượng âm dương cũng được thể hiện rõ ràng ở một chỗ ít ngờ tới: Nhạc kịch Tây Tạng. Bởi vì, điều gì đúng thì ở đâu cũng sẽ đúng. Trong những vở kịch của người Tây Tạng, thường có hai phe tượng trưng cho cái thiện và cái ác, họ đeo những mặt nạ tượng trưng cho điều đó. Cũng như ở mọi nơi khác trên thế giới, cái thiện rồi sẽ đứng lên, cái ác sẽ ngã xuống. Nhưng ở Tây Tạng, vở kịch không kết thúc ở đó. Cái thiện chiến thắng. Nhảy múa. Những chiếc mặt nạ thay đổi, rồi cái thiện nhìn giống như cái ác. Và rồi vòng tròn ấy cứ tiếp diễn. Tôi chưa từng đến Tây Tạng, tôi biết chuyện này từ cuốn sách mà tôi không còn nhớ tên của một thiền sư.

    Thuần thiện hay thuần ác, là những thứ mà con người nghĩ ra, không phải là thứ mà họ nhìn thấy. Nếu có thực, nó chỉ có thực trong một khoảnh khắc, một nhát cắt trên trục thời gian, tức là vô nghĩa với các nhận định về bản chất. Khi nói về trắng và đen, người ta đang nói về ảo ảnh, về thứ tồn tại trong đầu họ, chứ không phải trong cuộc đời này. Tại sao những thứ điên rồ này mãi không kết thúc!


    Hôm nay tôi lại nói nhiều thứ chẳng liên quan nữa rồi. Thực ra là tôi chỉ muốn trưng ra một bức ảnh chụp cuối tuần trước mà thôi. Bức ảnh ấy có nền đen, dù chụp khi nắng chói. Một lúc nào đó rất gần, tôi sẽ viết về đo sáng.

    InTheSunlight
    In the brilliant sunlight

    Đám đông đúng hay sai

    Từ khi bắt đầu dùng internet, tôi thấy người ta hay nói về đám đông với một sự khinh bỉ không chính đáng. Cụ Gustave Le Bon thường hay được trích dẫn, nhưng cách nói của cụ mà không phải là do có thành kiến thì cũng hơi lạ. Gần đây hơn James Surowiecki có viết một cuốn sách nói về sự thông thái của đám đông. Cuốn sách đó hay nhưng về cơ bản thì không nói về thứ tâm lý đám đông mà cụ Le Bon nói tới. Trong khi Le Bon nói về việc người ta mù quáng làm theo những người xung quanh, Surowiecki nói về việc tổng hợp ý kiến của một số đông người theo kiểu lấy trung bình để có được một kết quả chính xác hơn kết quả của bất kỳ cá nhân chuyên gia nào.

    Tôi nghĩ những điều cụ Le Bon nói có chỗ chưa thỏa đáng. Tôi không nghĩ đám đông thường đúng, và tất nhiên cũng không nghĩ làm theo đám đông là ngu xuẩn. Giả sử chọn lọc tự nhiên là đúng, thì chất liệu di truyền của những cá nhân ngu xuẩn khó tồn tại đến tận hôm nay. Nói cách khác, tôi đoán hành động theo đám đông là bản năng sinh tồn.

    Trong “The Art of Thinking Clearly,” có một ví dụ tưởng tượng liên quan đến điều này. Giả sử rằng thủa sơ khai, có những người có phản xạ làm theo đám đông vô điều kiện, và có những người chỉ dùng thông tin mình tiếp nhận được để hành động. Một nhóm người trộn lẫn giữa hai kiểu người ấy vào rừng, đột nhiên vài người trong số đó bỏ chạy. Nếu bạn ở đó thì bạn sẽ làm thế nào? Tôi nghĩ những người không chạy sẽ làm thức ăn cho thú rừng, vì không phải người ta chạy vì thích đùa. Sau vô số những cuộc đi săn như thế, tôi ngờ rằng ngày nay ai trong chúng ta cũng tiềm tàng bản năng làm theo số đông, càng đông người làm ta càng dễ làm theo, đặc biệt là khi ta phải quyết định mà bản thân thì lại không có thông tin để dựa vào.

    Nếu ai đó nói nhà hàng nào càng đông khách thì càng ngon, bạn có nói rằng họ vô lý không?

    Crowd
    Just crowded 🙂

    Một cách tổng thể, các thế hệ sau ưu tú hơn các thế hệ trước. Bạn có tin rằng ai đó làm theo đám đông là vì họ quá thông minh? Nếu bạn phân vân thì ví dụ dưới đây trong cuốn “Networks, Crowds, and Markets: Reasoning about a Highly Connected World” có thể sẽ giúp bạn trả lời.

    Giả sử bạn có hai bình đựng bi. Bình 1 có hai bi đỏ một bi xanh, bình 2 có hai bi xanh một bi đỏ. Chọn bất kỳ một trong hai bình, đưa ra trước đám đông và để từng người đoán đó là bình 1 hay bình 2. Tất nhiên không phải đoán mò, mỗi người sẽ có thể lấy được một thông tin làm cơ sở cho phán đoán của mình bằng cách cầm một viên bi lên xem. Tóm tắt như sau:

    • Trong bình có hai viên bi cùng màu (xanh hoặc đỏ), một viên khác màu (màu còn lại).
    • Nhiều người lần lượt đoán hai viên bi cùng màu là màu gì.
    • Trước khi đoán, mỗi người được cầm một viên bi lên xem màu rồi thả lại vào bình. Những người khác không được biết màu của viên bi ấy.
    • Tất cả những người đoán đúng sẽ có phần thưởng, vì thế giả định rằng họ cố gắng đoán đúng nhất có thể. Để tránh ra về tay không, người ta có quyền nói không biết và nhận một phần quà có giá trị rất nhỏ.
    • Tất cả những người tham gia đều có khả năng suy luận tốt và tuyệt đối không đoán mò.

    Bây giờ hãy xem chuyện gì sẽ xảy ra ở đây.

    Giả sử người thứ nhất bốc được viên bi màu đỏ (Các lập luận tiếp theo là hoàn toàn tương tự nếu anh ta bốc được bi xanh. Giả sử trên không làm mất tính tổng quát của lời giải thích.), xác suất đây là bình có hai viên bi đỏ là 2/3, vì thế anh ta sẽ đoán đây là bình 1.

    Giả sử người thứ hai cũng bốc được viên bi màu đỏ. Vì anh ta biết rằng người thứ nhất hành động cực kỳ logic và đoán bình 1, anh ta có thể khẳng định rằng người thứ nhất đã bốc được bi đỏ. Bài toán với anh ta trở thành, nếu bốc hai lần liên tiếp được hai viên bi đỏ, xác suất đây là bình thứ nhất là bao nhiêu? Kết quả là 4/5. Anh ta sẽ đoán đây là bình 1.

    Giả sử người thứ hai bốc được bi xanh, xác suất trở thành 50-50. Chúng ta giả định rằng trong trường hợp này người chơi sẽ nói không biết và nhận phần thưởng nhỏ, vì không thể phân định bình 1 hay 2.

    Người thứ ba, và tất cả những người sau anh ta, có thể nhìn vào lựa chọn của người thứ nhất và người thứ hai mà biết được hai người họ đã bốc được bi màu gì. Tất nhiên, anh ta biết màu bi của chính mình, vì thế đối với anh ta, câu chuyện trở thành: ba lần liên tiếp lấy ngẫu nhiên ba viên bi từ một bình, đoán xem bình đó là bình 1 hay bình 2.

    Xét trường hợp người thứ nhất và người thứ hai bốc được hai viên bi đỏ, từ đây gọi là trường hợp A. Nếu người thứ ba bốc được bi đỏ, xác suất để đây là bình 1 là 8/9. Nếu anh ta bốc được bi xanh, xác suất đây là bình 1 là 2/3. Dù trong trường hợp nào anh ta cũng đoán đây là bình 1.

    Tiếp tục với trường hợp A. Người thứ tư không biết màu viên bi người thứ ba bốc được là gì, nhưng biết của người thứ nhất và người thứ hai. Người này sẽ suy luận giống hệt như người thứ ba, và sẽ chọn bình 1. Điều tương tự xảy ra với tất cả những người tiếp theo.

    Cấu trúc thông tin đã hình thành ở đây gọi là information cascade. Nó không liên quan mật thiết đến điều tôi định nói, nhưng các bạn có thể tìm kiếm từ khóa này trên Google Scholar nếu quan tâm.

    Bây giờ hãy nghĩ kỹ về trường hợp A. Giả sử chiếc bình thật ra là bình thứ hai, vẫn có 1/9 khả năng hai người đầu tiên đều bốc được bi màu đỏ. Trong trường hợp đó, dù tất cả những người tiếp theo bốc được bi xanh, họ vẫn đoán đây là bình 1, ta nói rằng một ý kiến chủ đạo đã hình thành. Nghịch lý là, đó là phán đoán hợp lý nhất với mỗi người. Nói cách khác, trong trường hợp này, có 1/9 khả năng để những người vô cùng thông minh hành động theo đám đông và hoàn toàn bỏ qua thông tin của chính mình (dù có bốc được bi xanh hay đỏ thì họ cũng không đoán khác đi).

    1/9 là một tỷ lệ nhỏ? Đó là xác suất mà đám đông trong trường hợp này chắc chắn sẽ sai kể từ người thứ ba trở đi, khi số người tăng lên thì con số đó thay đổi. Hơn thế nữa, nếu chúng ta quan tâm đến việc có một ý kiến được chấp nhận và tuân theo bởi đám đông, mà không xét đến việc ý kiến đó là đúng hay sai, thì con số thực sự lớn hơn nhiều. Xác suất để sau khi mười người chọn bi và đoán mà chưa có ý kiến chủ đạo nào thành hình là khoảng 13%. Xác suất này với hai mươi người là, bạn thử đoán xem, 3 phần vạn! Xác suất này giảm theo hàm mũ, và bình thường khi nói đến đám đông chúng ta nói đến không chỉ một vài chục người.

    Alone
    SWARM2017, Kyoto

    Nếu bạn không quen với xác suất, các con số đưa ra ở trên có vẻ không phải là hiển nhiên. Nhưng bạn có thể yên tâm rằng dù không thực hiện các phép tính một cách rõ ràng, bộ não của chúng ta thật sự có xử lý thông tin và thực hiện những tính toán vô cùng phức tạp để đưa ra kết luận.

    Để dễ hiểu hơn, hãy lấy vài ví dụ nhỏ. Bạn còn nhớ khi còn nhỏ bạn đã học gì về chuyển động của vật bị ném xiên không? Thường thì sẽ xuất hiện các phương trình hoặc hệ phương trình đưa được về bậc hai. Giải các phương trình đó không khó nhưng tốn thời gian. Vậy nhưng có bao giờ bạn ném một viên đá vào mục tiêu nào đó mà trong đầu lại giải mấy phương trình kia không? Vậy mà cuối cùng thì vẫn có thể ném trúng. Rồi khi bạn sút bóng trong điều kiện có gió, hoặc khi bơi, hoặc khi đỡ lấy vật gì bị rơi, những việc bạn làm thường được mô tả bằng các hệ phương trình vi phân, nói là khó thì cũng không khó, nhưng có những cái không thể thật sự giải được mà chỉ có thể lấy được kết quả với độ chính xác nhất định bằng phương pháp số. Khi bạn làm tất cả những việc đó, bạn có giải phương trình không? Tôi nghĩ câu chuyện ở đây là bộ não của bạn có giải chúng, nhưng bạn không biết chuyện đó xảy ra.

    Những tính toán trong các ví dụ kể trên vẫn còn là sơ đẳng so với những tính toán khi bạn phải ra quyết định. Có thể mỗi khi trực giác lên tiếng, ấy là khi những bộ não của bạn đã thực hiện những xử lý tinh vi đến mức vượt ra ngoài hiểu biết của người thường.

    Ví dụ về hai chiếc bình ở trên chỉ là một mô hình đơn giản hóa thái quá của những tình huống có thể xảy ra ngoài đời thực, và các phép tính cũng không có gì phức tạp (dù vậy nếu bạn không quen với xác suất thì có thể việc tự tính ra chúng không dễ). Để xác định xác suất chiếc bình là bình 1 hay bình 2, chỉ cần dùng định lý Bayes (định lý về xác suất hậu nghiệm) và công thức xác suất toàn phần. Nếu bạn quan tâm có thể đọc phụ lục của bài viết này.

    Điều tôi muốn nói ở đây là, hành động làm theo đám đông là vô thức nhưng không phải vô lý, mà ngược lại có thể là vô cùng có lý, chỉ có điều chúng ta chưa đủ mạnh để hiểu được những lý lẽ đó. Kết luận của đám đông có thể sai, nhưng đó hoàn toàn không phải là do mỗi người trong số họ là ngốc nghếch hay cả tin, mà rất có thể là vì họ quá lý trí, một thứ lý trí cần được hiểu rộng hơn nghĩa thông thường. Và, nếu có khi nào bạn không hiểu nổi tại sao mình làm một việc, thì chắc chắn là có lý do, và tiềm thức của bạn hiểu. Có điều, đó là lý do tốt hay xấu, việc bạn làm là đúng hay sai, thì lại là những câu chuyện khác.


    Phụ lục: Về xác suất hậu nghiệm.

    Vì đây không phải là bài viết về toán, xin được tính một xác suất đơn giản trong những xác suất ở trên, các tính toán khác là hoàn toàn tương tự. Trong trường hợp A, xác suất để chiếc bình là bình 1 nếu người thứ ba bốc được bi xanh là 2/3. Tại sao?

    Gọi xác suất các viên bi được bốc liên tiếp có màu x1, x2, …xn là P(x1, x2, …xn). Ở đây giả định người thứ n vừa bốc. Trong đó, x1 và x2 có thể là xanh hoặc đỏ. Chẳng hạn, ta có các xác suất P(xanh, xanh), P(xanh, đỏ, đỏ), v.v.

    Xác suất chiếc bình là bình thứ i là P(i), với i = 1 hoặc i = 2

    Xác xuất để chiếc bình là bình thứ i khi chuỗi x1, x2,…, xn đã được bốc là P{i|(x1,x2,…,xn)}

    Xác xuất để x1, x2,…, xn đã được bốc khi đã chắc chắn chiếc bình là bình thứ ilà P{(x1,x2,…,xn)|i}

    Xác suất để chuỗi x1, x2,…, xn được bốc và chiếc bình là bình thứ i là P{i ∩ (x1,x2,…,xn)}

    Công thức Bayes nói rằng:

    P{i|(x1,x2,…,xn)} = P{i ∩ (x1,x2,…,xn)}/P(x1, x2, …xn) …………………………………………………………….(*)

    Trong ví dụ này, chúng ta muốn biết P{1|(đỏ, đỏ, xanh)}

    Trước hết P{1∩(đỏ, đỏ, xanh)} = 1/2 * 2/3 * 2/3 * 1/3 = 2/27 …………………………………………………………….(1)

    Vì các lần bốc là độc lập với nhau và xác suất bốc được bi đỏ ở bình 1 là 2/3, xác suất bốc được bi xanh là 1/3.

    Hiểu đơn giản

    P{1∩(đỏ)} = 1/2 * 2/3 (vì có 1/2 khả năng là bình 1 và khi bình là bình 1 thì có 2/3 khả năng là bi đỏ)

    P{1∩(đỏ, đỏ)} = 1/2* 2/3 * 2/3

    P{1∩(đỏ, đỏ, xanh)} = 1/2 * 2/3 * 2/3 * 1/3

    Bây giờ ta tính P(đỏ, đỏ, xanh)

    Công thức xác suất toàn phần trong trường hợp này nói rằng:

    P(đỏ, đỏ, xanh) = P{1∩(đỏ, đỏ, xanh)} + P{2∩(đỏ, đỏ, xanh)}

    Tức là, xác xuất bốc được (đỏ, đỏ, xanh) là xác suất bốc được (đỏ, đỏ, xanh) khi chiếc bình là bình 1 cộng với xác suất bốc được (đỏ, đỏ, xanh) khi chiếc bình là bình 2. (Người ta gọi {1, 2} là một phân hoạch của tập mẫu, nhưng không cần phải biết khái niệm phân hoạch thì vẫn có thể hiểu công thức trên.)

    Hay:

    P(đỏ, đỏ, xanh) = 1/2 * 2/3 * 2/3 * 1/3 + 1/2 * 1/3 * 1/3 * 2/3 = 3/27 …………………………………………………………….(2)

    Từ (1) và (2):

    P{1 ∩ (đỏ, đỏ, xanh)}/P(đỏ, đỏ, xanh) = (2/27)/(3/27)

    Theo (*)

    P{1|(đỏ, đỏ, xanh)} = P{1 ∩ (đỏ, đỏ, xanh)}/P(đỏ, đỏ, xanh) = 2/3 ∎

    Ngược sáng

    Tôi muốn viết bài về việc chụp ảnh từ lâu, nhưng mãi vẫn chưa viết được. Tôi nghĩ có nhiều bạn đọc sẽ quan tâm tới chụp ảnh, dù chỉ là nghiệp dư thôi (vì thế nên tôi ngại dùng từ “nhiếp ảnh,” nghe cứ có cảm giác to tát thế nào 🙂 ). Cảm giác dùng ảnh mình chụp cho bài mình viết vui hơn nhiều so với dùng ảnh của người khác, phải không nhỉ. Tôi đang viết một bản nháp về chụp ảnh, trong đó giải thích tất cả những thứ mà người mới bắt đầu cần biết. Tôi đã nghĩ nó sẽ ngắn, nhưng càng viết nó càng dài và chẳng biết phải mất bao lâu mới có thể viết xong. Tôi nghĩ mình nên chia nhỏ bài viết ấy và xếp nó vào một mục riêng. Mục ấy sẽ tên là 写真の話. Bài viết tuần này, không phải là một phần của bản nháp kia, sẽ là bài viết đầu tiên của 写真の話.


    Năm 2014, lúc vẫn còn chưa tốt nghiệp, tôi tham gia Trường hè Khoa học VN lần thứ hai ở Hà Nội. Có nhiều chủ đề hay, và nội dung một số bài giảng sau này đã trở thành một phần cuộc sống của tôi, trong đó có một bài giảng mà tôi không ngờ tới: bài giảng về nhiếp ảnh của anh Lưu Quang Hưng. Tôi thích chụp ảnh nhưng lúc ấy tôi không nghĩ mình sẽ chụp ảnh nhiều đến mức như bây giờ.

    Anh Hưng khi ấy đang làm việc ở NUS. Tôi thấy tôi đi theo một con đường hơi giống anh, cho đến khi tôi bắt đầu làm việc. Lâu rồi tôi không cập nhật tin tức về anh, có lẽ giờ anh đã có tenure rồi. Chúng tôi cùng bắt đầu ở VNU, rồi học lên ở Kyodai, và cùng bắt đầu dùng những thiết bị phức tạp hơn điện thoại để chụp ảnh khi ở Kyoto. Về sau tôi có nói chuyện với anh vài lần trước khi nhập học ở Kyodai, nhưng có lẽ bây giờ anh không nhớ tôi là ai nữa, vì những bạn trẻ như tôi nói chuyện với anh thì nhiều lắm.

    Tôi còn nhớ trong buổi giao lưu sau khi trường hè kết thúc, những người tham dự chọn diễn giả và chủ đề mình thích để giao lưu. Chỗ của anh Hưng chính là chỗ được nhiều người chọn đến nói chuyện nhất. Dù chủ đề chính là khoa học, nhưng nhiếp ảnh tỏ ra là thứ nhiều bạn quan tâm hơn cả :).

    Có lẽ Kyoto quá đẹp, đến nỗi ai có cơ hội nhìn ngắm Kyoto như Kyoto vẫn là, sẽ khó mà ngăn được mong muốn lưu giữ lại những khoảnh khắc của Kyoto qua những bức ảnh đẹp, và đẹp hơn nữa. Anh Hưng nói anh ấy bắt đầu tìm hiểu lý thuyết về nhiếp ảnh khi một bức ảnh chụp tán cây không được như mong đợi. Mùa thu, cùng với cây cối, Kyoto trở nên đẹp đến ngỡ ngàng với hai màu chủ đạo là đỏ và vàng. Hôm ấy anh nằm dưới bóng cây, nhìn lên thấy ánh mặt trời rực rỡ xuyên qua tán lá. Chắc bạn có thể tưởng tượng ra cảnh đó. Anh ấy, một cách tự nhiên, lấy máy ảnh chụp lại, chỉ để khi về nhà phát hiện ra tán lá tối thui không màu sắc. Cảm giác thất vọng khi không thể lưu giữ lại một cảnh tượng tuyệt vời khi mà ta hoàn toàn có thể làm như vậy là một cảm giác khó diễn tả bằng lời mà tôi cũng đã trải qua. Từ đó, anh ấy bắt đầu tìm hiểu nghiêm túc hơn về nhiếp ảnh, và vài năm sau chúng tôi có một bài giảng hấp dẫn.

    Bức ảnh mà ngày đó anh ấy đã cố gắng chụp là một bức ảnh ngược sáng. có vài cách xử lý khác nhau để chụp ảnh trong điều kiện ngược sáng. Chúng ta có thể lưu lại toàn bộ màu sắc và chi tiết, hoặc làm mất hẳn nó đi. Cá nhân tôi thích cách thứ hai, khi làm thế chúng ta thường tạo ra những bức ảnh silhouette, hoặc gần-silhouette (tôi cũng không biết gọi thế nào nữa). Dưới đây là vài bức ảnh ngược sáng mà tôi đã chụp. Phần nhiều trong số chúng được chụp bằng điện thoại, với chất lượng không cao. Tôi nghĩ một bức ảnh là đẹp khi nó có thể gợi lên một cảm xúc, hay kể một câu chuyện hay. Những cảm xúc hay câu chuyện như thế không nhất thiết phải được kể bằng máy móc hiện đại, nên tôi vẫn thích những bức ảnh này.

    Các ảnh dưới được lưu trên Flickr, bạn nào quan tâm có thể click vào từng ảnh để xem tốc độ màn trập, tiêu cự, khẩu độ, ISO, ngày chụp, tên thiết bị, và nhiều thông số khác trong EXIF data.


    Sunset
    コウノトリ

    Một buổi chiều ở Yatsuomachi


    KyotoEki
    京都駅 烏丸中央口

    Cổng phía Nam ga Kyoto mùa hè năm ngoái, khi chúng tôi sắp ăn tối ở Aeon.


    My_apartment

    Một buổi chiều tối mùa hè hai năm trước, từ phòng tôi ở Kyoto


    KyodaiTokeidai
    京大桂キャンパス時計台

    Tháp đồng hồ ở Katsura Campus. Không hiểu sao tôi đặc biệt thích nó. Có những lúc tôi thấy nó như một người đứng sừng sững hiên ngang.

    KyodaiTokeidai2

    Vẫn là anh ấy, vào một ngày khác 🙂


    PianoLesson
    左京区、京都

    Khu phố nơi Itou sensei ở, một buổi hoàng hôn sau giờ học. Khi ấy tôi vẫn thường đạp xe đến nhà Iou sensei để học đàn.


    Me
    Tôi và mặt trời

    Bức ảnh một cậu em chụp ở Fushimi Inari. Khách du lịch thường thích đi Fushimi và chụp ảnh giữa hàng Torii đã thành một biểu tượng của Kyoto. Không nhiều người biết đến chỗ này, nơi mà chỉ cần tách ra khỏi lối đi chính một chút là có thể tới được và ngắm một nửa Kyoto từ trên cao. Hôm ấy tôi đã dẫn hai người bạn từ Nara tới đây.


    KobeHarbour
    神戸港

    Bức ảnh chụp sau lễ trao giải Kisoi Motohiro dành cho các nghiên cứu trong Rescue Engineering năm 2018. Kisoi Motohiro nghiên cứu về intelligent manipulation trong lab của thầy tôi khi thầy ở Đại học Kobe, anh thiệt mạng trong động đất Kobe 1995 ở tuổi 23. Sau trận động đất, các nhà nghiên cứu ở Nhật đã lập ra một ngành mới gọi là Rescue Engineering, mà nòng cốt là kỹ thuật robot. Ngày nay International Rescue System Institute (IRS) trao giải thưởng thường niên mang tên Motohiro để ghi nhận những đóng góp trong lĩnh vực này. Do vai trò của thầy trong IRS, lễ trao giải cũng trở thành sự kiện thường niên của lab chúng tôi.

    Bức ảnh trên được chụp ở cảng Kobe, nơi đã bị tàn phá nặng nề sau trận động đất năm 1995. Ngày nay, cảng Kobe, cũng như toàn thành phố Kobe đã lấy lại sức sống khi xưa, nhưng chứng tích về trận động đất vẫn được giữ lại để nhắc nhở những thế hệ sau. Phía sau nơi tôi đứng khi ấy khoảng 5 phút đi bộ là một “bảo tàng” tương tác về trận động đất.


    Umeda Kuchu Teien
    梅田スカイビル空中庭園

    Hai bạn trẻ trên đài quan sát trên đỉnh Umeda Sky Building. Tên của nơi đó có thể dịch ra là khu vườn giữa không trung. Ban đầu, Umeda Sky Building được quy hoạch là một tập hợp nhiều tòa tháp chọc trời liên kết với nhau, nhưng khi bong bóng kinh tế vỡ, số lượng tòa tháp thực tế được xây dựng giảm xuống còn hai.


    Todaiji2
    Todaiji
    東大寺二月堂

    Nara nhìn từ Todaiji. Tuần lễ vàng đầu tiên của tôi ở Nhật, Julia và Luận du lịch Kansai, chúng tôi đã cùng đến nơi này. Giờ nhìn lại, chỉ thấy sao thời gian trôi nhanh quá. Cho đến khi cả hai rời Nhật, chúng tôi không gặp nhau thêm lần nào nữa.


    Otsu
    Christmas
    Otsu2
    寂しい鳥
    OtsuBridge
    上にいる
    Alone
    瞑想

    Những bức ảnh trên được chụp ở Otsu, Shiga, khu vực gần Biwako, hồ nước ngọt lớn nhất Nhật Bản, cuối năm 2017. Tôi đến hồ Biwa lúc đã xế chiều. Bình thường nhiều người đi dạo hay chạy bộ ven hồ, nhưng lúc đó chẳng còn mấy người. Hồ Biwa rất rộng, nhìn từ nhiều chỗ có thể tưởng là vịnh hay biển. Không gian mênh mông và chút ánh sáng cuối ngày có thể gợi cho người ta nhiều cảm xúc. Tôi đã thấy sự đơn độc, chênh vênh, hoài niệm, một nỗi buồn không tên, và cả sự choáng ngợp trước không gian rộng lớn. Có một khoảnh khắc tôi thấy mình như hòa vào cái mênh mông ấy và tự nhiên trở thành tất cả, hình như…

    Rồi cảm giác ấy biến mất 🙂

    Xin kết thúc post hôm nay bằng môt bức ảnh khác, không cùng chủ đề nhưng được chụp cùng ngày hôm ấy, và cũng mang lại nhiều cảm xúc.

    Baola
    Mênh mông

    一期一会

    72 195 180 109 32 116 114 198 176 225 187 155 99 32 99 195 180 32 84 195 161 109 32 99 195 179 32 104 225 187 143 105 32 118 225 187 129 32 116 195 170 110 32 98 108 111 103 32 110 195 160 121 44 32 99 104 195 161 117 32 120 105 110 32 103 105 225 186 163 105 32 116 104 195 173 99 104 32 110 195 179 32 225 187 159 32 196 145 195 162 121 46 32

    一期一会 (từ đây xin được nhắc tới bằng phiên âm Hán Việt: Nhất Kỳ Nhất Hội) có nghĩa là mỗi khoảnh khắc đều chỉ xuất hiện một lần trong đời, vì thế ta cần phải trân trọng nó.

    一期 (Ichigo – Nhất Kỳ), giống như 一生, có nghĩa là một đời người. Khái niệm này được cho rằng có nguồn gốc từ Phật Giáo. 一会 (Ichie – Nhất Hội), nếu dịch trực tiếp thì là một cuộc gặp gỡ. Nhất Kỳ Nhất Hội là khái niệm gắn liền với trà đạo và thiền sư 千利休 (Thiên Lợi Hưu) – người được coi là vị tổ khai sinh ra Trà Đạo Nhật Bản. Rất có thể nó bắt nguồn từ một chỉ dẫn viết bởi đệ tử của thiền sư Thiên Lợi Hưu, trong đó có đoạn 「一期に一度の会のように。。。」, có nghĩa là khi thưởng trà hãy cảm nhận, hãy biết trân trọng và hành xử như đây là cơ hội duy nhất trong cuộc đời.

    Vì thực sự mỗi giây phút trong cuộc đời ta là duy nhất. Không bao giờ có một sự lặp lại toàn vẹn.

    Uji-01
    A woman walking towards Uji Bridge, Kyoto 2018
    Photo taken after we attended a tea ceremony in Uji

    Nghi lễ trà đạo được coi là đại diện cho sự hòa hợp, tôn trọng, thuần khiết, và tĩnh lặng. Mỗi bước đều có những chỉ dẫn và yêu cầu khá ngặt nghèo để tuân thủ, đặc biệt là với người ngoại quốc. Chúng ta có thể nhìn nhận việc tham gia nghi lễ trà đạo như việc tham gia một nghi lễ quan trọng, là cơ hội để hòa nhập với khoảnh khắc hiện tại và con người thật của mình, chứ không phải là một chuyến đi chơi. Người ta có thể được pha trà bởi cùng một trà sư, thưởng trà cùng với những vị khách đã từng cùng họ tham gia một nghi lễ trà đạo trước đây, nhưng khoảnh khắc trước đây không bao giờ lặp lại y nguyên như thế. Nói cách khác, mỗi lần thưởng trà là một cơ hội chỉ đến một lần duy nhất trong đời và không bao giờ quay lại.

    Daitokuji
    Entrance to a tearoom in Daitokuji, Kyoto 2017
    Sen no Rikyu lived and died at this temple.

    Khái niệm Nhất Kỳ Nhất Hội ngày nay đã đi sâu vào văn hóa Nhật. Thiên Lợi Hưu sống ở thế kỷ XVI, tới nay cũng đã gần 500 năm. Khi nói về Nhất Kỳ Nhất Hội, người Nhật không chỉ nói về trà đạo, họ nói về nó như một chân lý trong cuộc đời, rằng mỗi khoảnh khắc là duy nhất, và nó sẽ trôi đi mà không bao giờ quay trở lại. Cũng giống như mọi thứ trên đời này, nếu chúng ta trân trọng thứ gì, nếu chúng ta trân trọng một ai, không có cách thể hiện nào đúng hơn là thể hiện trong giây phút này, và hiểu rằng ngày mai bất kỳ điều gì trong cuộc sống của chúng ta cũng đều có thể thay đổi.

    Daitokuji_tearoom_躙り口
    The same tearoom

    Cháu thấy đây là một triết lý mà ai cũng nên biết, và suy ngẫm. Nó giống như điều Phật nói về vô thường. Hay khi Heraclitus nói rằng không ai có thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông, chắc ông cũng không nói về điều gì sâu xa hơn. Hãy sống ở hiện tại, vì không làm được như vậy là mời gọi phiền não và đau khổ – những thông điệp tương tự như vậy cháu đã thấy hàng trăm, mà có lẽ đến cả ngàn lần. Điều gì được lặp lại quá nhiều sẽ dần được tin là đúng, nhưng cháu nghĩ điều gì đúng thì cuối cùng cũng sẽ được lặp đi lặp lại vì chúng ta có xu hướng mong muốn những điều hay được lan tỏa, và “trân trọng phút giây hiện tại” là một ví dụ.

    Daitokuji_Tearoom
    This tearoom in Daitokuji is where I attended my first tea ceremony

    Địa chỉ của blog này cũng có ý nghĩa ấy. Cũng để nói lên điều này, Sư Ông Làng Mai đã viết mấy dòng sau trong bài thơ về thiền hành:

    I have arrived. I am home.

    In the here, in the now.

    I am solid, I am free.

    In the ultimate I dwell.

    Cháu nghĩ rất nhiều người biết đến lời khuyên này, nhưng không thật sự làm được, vì chú tâm vào hiện tại thì không khó, nhưng giữ sự chú tâm ấy thì vô cùng khó. Tên blog cũng là lời cháu tự nhắc nhở mình.

    Ăn chay

    Chỉ là vài dòng lan man thôi…

    Cách đây chừng năm sáu năm, khi còn ở trường Công nghệ, tôi hay ăn trưa ở một quán chay sau thư viện Sư phạm.

    Hồi đó tôi hay đến quán ấy. Tôi không biết vì sao. Không phải vì tôi cố gắng ăn chay. Tôi có thể ăn mặn. Những món mặn mẹ nấu tôi vẫn ăn ngon lành. Tôi chỉ thấy những món chay thì dễ ăn hơn, nếu tôi không ăn một món có thịt nào đó, thì phần nhiều là vì khi nhìn nó tôi thấy kinh khủng. Đó hoàn toàn là vấn đề tâm lý.

    Tal, bạn tôi, cũng ở vào tình trạng tương tự như thế. Khi nghe đến từ “thịt” hoặc nhìn cái gì ghê ghê thì tự nhiên nó không muốn ăn, dù nó không có vấn đề gì với thịt cả. Tôi nghe Tal kể hồi nhỏ, có lần mẹ cho ăn một món nó không biết là gì, nó thấy ngon và ăn mãi. Về sau mẹ nói đấy là thịt xiên, nó cũng chẳng thấy ghê nữa. Cuối cùng thì, ở nhà hình như đấy là món duy nhất có thịt mà nó ăn. Cũng giống như tôi chỉ ăn mỗi ruốc là món có thịt duy nhất, cho đến khi lớn lên và ăn được nhiều thứ hơn, dù so với bất kỳ người quen nào, trừ Tal, thì tập thức ăn ăn được của tôi lúc nào cũng là một tập con của tập hợp tương ứng của họ.

    Chúng tôi đã không thích ăn thịt, vì một lẽ mà tôi không biết. Chúng tôi không bao giờ hành hạ động vật và có xu hướng ngăn người khác làm việc đó, nhưng chuyện không ăn thịt thì có lẽ không phải vì tình thương, khi mà chúng tôi vẫn ăn ruốc hay thịt xiên. Là một thói quen còn vương lại chăng.

    Quay lại với quán chay sau trường Sư phạm. Dần dần tôi biết đó không phải là quán duy nhất với tên gọi ấy, nó là một quán nằm trong một chuỗi nhà hàng đang ăn nên làm ra. Có đôi lần cô chủ đến quán. Cô ấy mặc đồ nâu như các Phật tử tại gia hay mặc. Cách nói chuyện, cách trang điểm của cô ấy luôn làm tôi nghĩ về một nữ doanh nhân thành đạt tuổi trung niên lúc nào cũng bận rộn với công việc của mình, hơn là về bất kỳ một hình tượng nào khác.

    Có lần, cô ấy hào hứng nói về những món sắp ra trong chuỗi cửa hàng. Hình như là đùi gà, xúc xích, dăm bông, hay là những thứ gì đó tương tự. Tất nhiên không phải đùi gà xúc xích thật, mà là giả gà, giả xúc xích.

    Chuyện ấy làm tôi băn khoăn về điều mà cô ấy quan niệm về ăn chay. Có phải, ý nghĩa đích thực của việc ăn chay là đảm bảo rằng không có con vật nào bị sát hại cho mục đích trực tiếp là chuẩn bị bữa ăn của ta không?

    Tôi nghĩ là không.

    京都の哲学の道

    Tôi nghĩ có nhiều điều trong Giới luật mà ý nghĩa thực sự đã bị lãng quên. Đó là điều đáng tiếc, bởi vì, khi Giới luật được đặt ra, Phật đã hướng tới mục đích đằng sau những điều luật chứ không phải bản thân việc thực hành điều luật ấy.

    Tôi còn nhớ có chuyện kể rằng, một tỳ kheo khi ở gần nhà mình đã về ngủ với vợ một đêm. Sự lưu luyến làm ông ta mất tập trung vào việc tu tập. Điều luật không lấy vợ chỉ được bổ sung sau đó, trước đó việc vừa tu tập vừa có vợ vẫn là bình thường. Chuyện này có nghĩa là gì? Thiển ý của tôi là bản thân việc có vợ hay gần gũi phụ nữ không phải là tội lỗi, nhưng nhớ mong và ham muốn thì có. Ham muốn dẫn đến xao nhãng đã bị cấm, nhưng khó mà cấm cảm xúc và suy nghĩ, vì thế những thứ đồng hành với chúng, là việc lập gia đình của tỳ kheo, đã bị cấm. Ngay từ đầu việc lập gia đình không có lỗi lầm và không bị hạn chế, chỉ vì nó thường dẫn đến nhục dục nên điều luật kia mới ra đời.

    Cũng như thế, ăn mặn không có lỗi. Sự tàn nhẫn luôn đi cùng với ăn mặn mới là tội ác. Trong nhiều nhánh của Phật giáo, mà nổi bật là Phật giáo được thực hành ở Tây Tạng, các vị sư có thể ăn bất kỳ thứ gì được cúng dường, kể cả thịt, nhưng họ tuyệt đối không ăn con vật gì bị giết để làm đồ ăn cho họ. Tức là, khi người ta muốn làm thịt một con vật để cúng dường, họ sẽ và phải từ chối nó, vì đồng ý nghĩa là khuyến khích sự tàn ác.

    Thế người ta đang làm gì với ngành dịch vụ đồ chay vậy?

    Một hành động mà lẽ ra là vị tha, đã trở thành vị kỷ. Những người làm đồ chay giả mặn làm việc dựa trên niềm tin rằng con người ta muốn ăn mặn nhưng bị kìm kẹp bởi những điều luật hà khắc nên không thể. Vì thế, họ cố gắng thay đổi món ăn sao cho chúng kích thích thị giác và vị giác càng giống đồ ăn mặn càng tốt. Nói cách khác, cái người ta quan tâm là sự ngon miệng và chỉ thế thôi. Dù món ăn có gợi lên một màn giết chóc man rợ thì cũng không có vấn đề gì, họ yên tâm rằng không có con vật nào bị giết và chỉ thế là đủ. Việc ăn uống ấy không nuôi dưỡng từ tâm, không nuôi dưỡng tinh thần, mà chỉ nuôi xác thân sớm muộn sẽ tan biến của họ. Một người không biết đồng cảm với người khác như tôi sẽ đơn thuần gọi đó là đạo đức giả, nếu họ nghĩ ăn chay như vậy khiến họ giống một Phật tử thuần thành.

    Nếu thứ chúng ta rèn luyện thuộc về tinh thần, việc làm không quan trọng bằng suy nghĩ, dù chúng có hay cùng đi với nhau. Tôi ăn chay, chỉ vì tôi thích đồ chay. Quán ấy chẳng bao giờ kín chỗ, có lẽ vì gần trường đại học, mà các bạn sinh viên thì tin rằng phải ăn nhiều chất. Chẳng biết quán giờ còn không.

    Dục tốc bất đạt

    Những người hay nói đạo lý thì thường sống như tôi. Tôi thường hay nói đạo lý để nhắc nhở mình, và những đứa trẻ tương lai vẫn còn phơi phới.

    Sự thật tôi muốn nói tới hôm nay, là chúng ta có thể làm bất kỳ việc gì con người có thể làm được, chúng ta có thể đến bất kỳ đâu con người có thể đến được, chỉ là không phải ngay bây giờ. Với thời gian và kiên nhẫn, chuyện tưởng không thể trở thành khó, chuyện khó trở thành dễ, chỉ cần ta luôn hướng về nó.

    Bạn và tôi, chúng ta có thể giàu, chúng ta có thể giỏi, chúng ta có thể giác ngộ, chỉ là không phải trong ngày một ngày hai.

    Điều này đã được nói vô số lần và gần như đã trở nên sáo rỗng. Trớ trêu, chân lý vẫn là chân lý, người đã hiểu không cần nghe, người chưa hiểu có nghe cũng không hiểu. Kinh nghiệm cá nhân dạy họ tốt hơn những người thầy.

    Đây hoàn toàn không phải là điều chỉ đúng với con người. Cũng như những chân lý khác, ngay khi ta để ý tìm kiếm, ta thấy biểu hiện của nó tràn ngập vũ trụ.

    Hãy bắt dầu bằng một câu chuyện: Chuyện của cây tre Trung Hoa.

    Mất bao nhiêu ngày để cây tre mọc lên?

    Từ khi chúng ta nhìn thấy mầm măng nhú lên khỏi mặt đất, cho đến khi cây tre vươn cao tới 30m, tất cả thời gian mà chúng cần là 6 tuần. Người ta nói tre là loài cây mọc nhanh nhất trên thế giới. Khi được hỏi mất bao lâu để cây tre lớn lên, câu trả lời của bạn là gì?

    Không phải 6 tuần, là 5 năm. Cây tre mất 5 năm tích lũy dinh dưỡng, để chuẩn bị ra đời. Nói một cách công bằng, cây tre không phải là loài mọc nhanh nhất trên thế giới, mà chỉ là loài chúng ta nhìn thấy mọc lên nhanh nhất mà thôi.

    Nhiều câu chuyện ngụ ngôn chúng ta thấy trên internet, chẳng hạn chuyện đại bàng tự đập mỏ để tái sinh, là bịa đặt. Thỉnh thoảng người ta vẫn nghĩ mục đích hoàn toàn có thể biện hộ cho phương tiện, thường là những phương tiện dối trá. Chuyện về cây tre thì khác, là thật.

    How bamboo grows?

    Video trên là của một công ty cung cấp tre. Tôi không có ý quảng cáo, chỉ là cách giải thích của họ dễ hiểu :). Tùy loài, tre mất những khoảng thời gian khác nhau ở trong lòng đất, nhưng luôn là hàng năm.

    Quá trình của cây tre tuân theo quy luật về lượng và chất, là một quy luật phổ quát. Ve sầu cũng ở trong lòng đất 17 năm, trước khi làm phiền chúng ta bằng âm thanh chói tai của chúng. Thường các đội quân được tập luyện vài năm trước khi thực sự tham gia chiến đấu. Nói chung, người bình thường chỉ thi quốc tế sau khoảng 10 năm học tập. Có người thống kê rằng cần 10.000 giờ tập luyện để một người đạt đẳng cấp thế giới ở bất kỳ lĩnh vực nào (có vấn đề với con số đó, hãy chỉ coi nó là đại diện cho một con số rất lớn.)

    Nếu bạn đọc đến đây, tôi nghĩ bạn có thời gian nghe kể chuyện. Là vài mẩu chuyện nhỏ tự nhiên tôi nhớ ra khi nói về điều này.

    Có lần, một người hâm mộ nhận ra Picasso ở một nhà hàng khi ông đang vẽ phác trên một tấm giấy ăn. Người ấy chờ Picasso vẽ xong thì ra chào và ngỏ ý muốn được giữ tấm giấy ăn đó. Picasso đáp: “Được thôi, nhưng hãy trả tôi 40.000 francs.” Người kia sững sờ: “Nhưng ông chỉ mất có 10 phút để vẽ nó!” Picasso đáp: “Không, bạn nhầm rồi. Tôi đã phải mất 40 năm để có thể vẽ được như vậy.”

    Chuyện này có một biến thể khác mà tôi đã đọc từ rất lâu và không xác thực được: Picasso là bạn của Hồ Chí Minh (probably true). Vào năm 1946 khi Hồ Chủ tịch đến Pháp dự hội nghị Fontainebleau, ông đã đến thăm Picasso và được danh họa vẽ tặng một bức tranh truyền thần (unverified). Có lẽ thời gian hoàn thành bức tranh cũng chỉ trên dưới mươi phút, nhưng bức tranh lại truyền tải được thần thái của Hồ Chủ tịch. Ông ngạc nhiên hỏi: “Làm sao bạn có thể vẽ được như vậy chỉ trong vài phút!” Picasso đáp: “Không bạn ơi, tôi đã mất hai mươi năm cho bức tranh này đấy.” Hai mươi năm có lẽ là thời gian kể từ khi Picasso quen biết Hồ Chí Minh, từ lần đầu gặp nhau ở nhóm Clarté.

    Một câu chuyện khác cũng hay được kể là khi một thiết bị cơ giới tinh vi bị hỏng (có phiên bản là ô tô), người ta mời một người thợ lành nghề tới sửa. Sau một hồi xem xét, ông ta lấy búa gõ nhẹ vào hộp máy một tiếng. Chiếc máy hoạt động bình thường. Ông ta đòi 10.000 đô tiền công. Người chủ máy thốt lên: “Nhưng ông chỉ gõ có một tiếng!” Ông ta trả lời: “Để gõ được một tiếng ấy, tôi đã mất hàng chục năm học tập rồi hành nghề. Nó thật sự đáng giá 10.000 đô.” (*)

    Hồi tôi còn học ở ULIS, có lần một thầy giáo nói với chúng tôi: “Các em đừng nghĩ các bạn giỏi tiếng Anh là do các bạn thông minh, đó phần nhiều là kết quả của nhiều năm học tập mà thôi.” Tôi thấy thầy nói đúng. Với ngoại ngữ thì sự cần cù có tầm quan trọng quyết định. Nhưng ngoài ngoại ngữ ra, thì có vẻ thứ gì cũng như vậy cả. Trước khi người ta biết đến Warren, thì ông đã chơi chứng khoán nhiều chục năm, kể từ khi là một đứa trẻ. Trước tấm huy chương vàng Olympic, không nhiều người Việt biết Hoàng Xuân Vinh, trong khi anh đã theo đuổi môn bắn súng hàng chục năm. Cũng như vậy, ngày nay chắc người Việt ai cũng biết Ngô Bảo Châu, vài người biết Vũ Hà Văn nhờ viện Big Data, nhưng ít người biết lớp tiền bối xuất chúng của họ ở nước ngoài, như Trịnh Xuân Thuận hay Trần Thanh Vân, hay những người cùng thời với họ, như Đàm Thanh Sơn hay Hồ Tú Bảo. Tự tôi sẽ không thấy bất ngờ nếu một ngày nghe tin GS. Sơn nhận giải Nobel Vật lý. Đó là một vài người tôi tự dưng nghĩ tới, còn những nhà khoa học gốc Việt tầm cỡ Ngô Bảo Châu ở nước ngoài, quan tâm tới Việt Nam hoặc không, khó có thể kể hết tên.

    Nói ngắn gọn, những thành công mà tôi biết thường không phải là qua một đêm. Ánh hào quang của thành công chỉ giống như phần nhìn thấy của một tảng băng mà thôi. Nếu hướng đến một sự nghiệp to lớn, ai chắc cũng phải bắt đầu từ phần chìm của tảng băng, ở những tầng nước sâu muốn nhìn cũng không thấy. Lúc tôi học viết chữ, có được xem bài giảng của thầy Vọng Tây Cư Sĩ, thầy nói: “Muốn có ngày ngẩng đầu, thì phải có những năm tháng cúi đầu.” Tôi thấy đó là một lời chí lý. Bây giờ, nếu ai nói với tôi về thành công sau một đêm, thì tôi hoặc sẽ nghĩ đó là một loại may mắn kỳ diệu nào đó, không phải thành công, hoặc là một sự hiểu lầm, không phải là một đêm. Sự éo le trong cuộc đời này là, chúng ta thích nhìn kết quả hơn là quá trình, lúc nào cũng vậy. Nên từ ngàn năm rồi đã có câu: Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả. Chúng ta không phải là những gì chúng ta làm hôm nay, chúng ta là kết quả của một quá trình tích lũy dài hơn những năm tháng chúng ta tưởng rằng mình đã sống, một quá trình dài đến mức không thể nghĩ bàn.

    Step by Step
    In a bamboo grove in Kyoto

    Chúng ta cần một năng lực bình thường và sự nỗ lực bền bỉ, chứ không phải là tài năng trác tuyệt, để đạt được mục tiêu. Tôi có nghe rằng, trên đời này không có gì nhiều hơn những kẻ tài năng mà thất bại. Được sống và làm việc với những người được coi là tài năng hơn những người đồng trang lứa từ khi tuổi đời còn rất nhỏ, tôi thấm thía điều đó. Một số thiếu may mắn, nhưng số đông đơn giản là thiếu kiên trì. Sau này, nếu bạn nhận ra sếp của bạn không thông minh bằng bạn, không nhanh nhạy bằng bạn, nhưng lại giỏi hơn bạn một cách không phải bàn cãi, thì đó hoàn toàn không phải là chuyện hy hữu, mà ngược lại, vô cùng phổ biến.

    Để hoàn thành mục tiêu, quan trọng là kiên trì, là tần số chứ không phải cường độ.

    Nếu muốn đi ngàn dặm, hãy bắt đầu bằng một bước chân, cứ thế từ từ tiến lên. Đừng bắt đầu con đường ấy với việc chạy nước rút, nó không khiến bạn đi nhanh hơn đâu, mà là ngược lại. Khi muốn thay đổi thứ gì đó, hãy bắt đầu từ từ. Bởi vì thế giới này có quán tính. Làm những chuyện như nhất nhật thiên lý là chống lại quán tính ấy. Lực cản sẽ rất lớn, không phải là không thể vượt qua được, nhưng sẽ rất khó khăn. Tại sao không dùng một cách dễ dàng và hiệu quả hơn, là từ từ tiến bước.

    Nếu bạn muốn sống lành mạnh hơn một chút, đọc sách nhiều hơn một chút, tập thể dục nhiều hơn một chút, dành nhiều thời gian cho gia đình hơn một chút, và bền vững, chứ không phải chỉ một hai ngày, hãy bắt đầu từ từ. Nếu bạn muốn làm thủ tướng, giành giải Nobel, hay là đem lại hòa bình và xóa bỏ đói nghèo trên thế giới, cũng hãy cứ từ từ. Bởi vì, đường càng dài, bạn càng nhanh tới đích nếu đi từ từ, hay nói cách khác là trái với toán học, thực tế cho thấy chẳng có cách nào đi nhanh hơn so với đi chậm. Nếu được, bạn hãy thử đọc Atomic Habit của James Clear xem sao.

    Bền bỉ sẽ cho một kết quả phi thường. Chắc bạn đã nghe về hiệu quả của việc cải thiện bản thân 1% mỗi ngày?

    James Clear đã minh họa cho ý tưởng ấy một cách rất trực quan ở trên. Tóm lại, chúng ta không cần phải tuyên bố với cả thế giới rằng chúng ta sẽ trở nên vĩ đại. Nếu chúng ta liên tục tiến lên phía trước, không có cách nào để không trở nên vĩ đại.

    Và đừng sốt ruột.

    Xin được dùng hai ví dụ để kết thúc bài viết này.

    Thứ nhất là câu chuyện của hiệp sỹ Milo thành Croton. Chàng là nhà vô địch môn vật của Hy Lạp ở thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Tương truyền, chàng đã bắt đầu luyện tập bằng cách nâng một con bê con mỗi ngày. Ai cũng có thể nâng một con bê. Hình ảnh nực cười về sự luyện tập đó khiến chàng bị nhiều người mỉa mai, nhưng chàng tiếp tục nâng con bê mỗi ngày. Con bê lớn lên, chàng vẫn tập luyện. Khi con bê đã trở thành bò mộng, chàng tham dự Olympic và vô địch. Không phải ai cũng có thể nhấc bổng một con bò mộng.

    Progressive Overloading – Câu chuyện về Lực sỹ Milo của thành Croton

    Ví dụ thứ hai là về chất lỏng phi Newton, là chất lỏng không tuân theo định luật Newton về độ nhớt, tức là độ nhớt của chúng phụ thuộc vào áp suất. Chất lỏng càng nhớt thì chuyển động giữa các lớp càng khó, nếu độ nhớt quá lớn thì chúng hành xử giống như chất rắn. Và độ nhớt tăng khi áp suất tăng. Để chạy trên mặt nước có lẽ cần mười năm tập luyện ở Thiếu Lâm hay một nơi nào đó cũng đẹp như thế, còn để chạy trên mặt chất lỏng phi Newton thì tất cả những gì chúng ta cần là biết chạy.

    Khi áp suất tăng, chất lỏng trở nên “cứng” hơn. Có lẽ bạn đã từng nghe về hiệu ứng vỗ nước: nếu bạn rơi từ độ cao trên 20m xuống nước và tiếp nước bằng lưng hoặc ngực, kết quả giống hệt như rơi xuống một bức tường bê tông. Với chất lỏng phi Newton thì không cần độ cao phải là 20m. Bạn có thể nhẹ nhàng đưa tay vào sâu trong chất lỏng ấy, nhưng không thể đấm xuyên qua chúng. Đấm vào chất lỏng phi Newton giống như đấm vào một bức tường. Tôi được nghe sự liên tưởng này lần đầu tiên từ Thomas Frank và cảm thấy rất tâm đắc.

    Nôn nóng thành công cũng giống như đấm vào chất lỏng này. Không phải là chúng ta không làm được, mà chỉ là chúng ta không thể làm ngay được. Mọi giai đoạn đều có thể được vượt qua, chỉ là không thể vượt qua bằng cách đốt cháy.

    Non Newtonian Fluid

    Video về chất lỏng phi Newton nhìn có vẻ vui, nhưng lao vào chất lỏng ấy ngoài đời thực thì không vui.

    Ngoài giác ngộ, tôi chẳng thấy có một cái đích nào thật sự là cái đích. Và rất có thể, vào phút giây chúng ta giác ngộ, nhận thức về đích đến của chúng ta sẽ thay đổi. Vì thế, bây giờ, đừng nghĩ về đích đến nữa, hãy coi việc tiến bước trên con đường của bạn, bây giờ, là quan trọng. Mong bạn luôn giữ được nhiệt tình và quyết tâm trên con đường ấy.


    Chú thích:

    (*) Trong một phiên bản khác, người thợ ghi biên lai trong đó viết: “Tiền công gõ một tiếng: 1 đô. Tiền công tìm ra vị trí gõ và xác định lực gõ mạnh hay yếu: 9999 đô.”

    Chúng ta có thể nhìn thấy một tấm gương không?

    Lần duy nhất tôi không đồng ý với Perelman là khi ông nói chúng ta không thể nhìn thấy những tấm gương.

    Đó là chuyện của mười mấy năm trước. Hôm nay chuyện này quay lại. Sự khác biệt là, ngày hôm nay, vẫn là không tiếp thu giải thích của ai cả, tôi nghĩ rằng câu trả lời là không.

    Tại sao trước đây tôi nghĩ câu trả lời không phải là phủ định? Tôi đã nghĩ gương cũng giống như mặt trăng. Cả hai cùng không phát ra ánh sáng. Chúng phản xạ ánh sáng từ một hay nhiều nguồn khác. Nếu không ai nghi ngờ chuyện chúng ta có thể nhìn thấy mặt trăng, thì cũng không cần phải đặt câu hỏi về những chiếc gương.

    Có điều, tôi nghĩ tôi đã nhầm. Cả hai đều phản xạ, nhưng với một tấm gương tốt, sự phản xạ ấy là tuyệt đối. Nhìn mặt trăng, ta biết được về mặt trăng. Ta thấy những ngọn núi, những dấu vết do va chạm, thấy biển và cao nguyên. Nhìn tấm gương, ta không biết được gì về tấm gương. Ta có thể thấy được viền của tấm gương, thấy được một số thứ ở hướng ngược lại của tấm gương, được gọi là ảnh, còn bản thân tấm gương thì không.

    Hãy tưởng tượng một tấm gương được đặt trong một không gian đơn điệu vô hạn, vũ trụ chẳng hạn. Lúc ấy, chuyện không thể nhìn được những tấm gương trở nên rõ ràng hơn.

    Photo of a mirror, taken in Toyama

    Bạn có thể chấp nhận chuyện chúng ta không thể nhìn thấy gương, hoặc không. Tôi hiểu. Mười mấy năm trước, tôi đã không thể chấp nhận được điều đó.

    Thực ra, nếu có thời gian đặt câu hỏi về những điều bạn vẫn hằng tin, có khi bạn sẽ bất ngờ khi chẳng tìm ra lý do nào.

    Bây giờ, hãy để ý có một thứ cũng giống như tấm gương, tên của nó là cuộc đời. Tấm gương phản chiếu mọi thứ quanh nó, bạn có thể chẳng biết đó là thứ gì. Cuộc đời lúc nào cũng ở trước mặt ta, và nó phản chiếu tâm trí của chúng ta.

    Một tấm gương hoạt động như một tấm gương không thể được nói là xấu hay đẹp. Nhiều nhất, ta chỉ có thể nói thứ đằng trước nó xấu hay đẹp, dựa vào những gì ta nhìn thấy.

    Trong “Chân tướng cuộc đời,” ngài Masaharu viết rằng trái tim chúng ta giống như một thỏi nam châm, nó thu hút mọi thứ, tốt đẹp hay xấu xa. Tôi từng nghĩ, có những thỏi nam châm tốt đẹp hơn những thỏi nam châm khác, nên có những cuộc đời tốt đẹp hơn những cuộc đời khác.

    Nhưng có lẽ, tất cả vốn đã ở đó. Nói một tấm gương, thứ chẳng có hình dáng gì cả, đẹp hay xấu, là vô nghĩa. Cuộc đời này cũng thế. Chúng ta đang không nhận xét về cuộc đời, chúng ta đang nhận xét về chúng ta.

    Có lẽ, cuộc sống này không xấu cũng không đẹp, nhưng có những tâm hồn đẹp.

    Một mình

    Tôi có đọc được ở đâu đó, rằng một giáo sư khi nói chuyện với sinh viên thì luôn để cửa mở, ít nhất là khép hờ. Nếu giáo sư tiếp sinh viên mà đóng kín cửa, đó có thể là một chi tiết chống lại họ trước tòa. Vị giáo sư nói ra chuyện này làm ở Mỹ. Ở trường cũ của tôi thì cửa phòng nào cũng có một khe trong suốt có thể nhìn được vào trong.

    Bạn có cảm nhận rằng nếu bạn biết người khác đang nhìn vào hành động của mình, thì bạn sẽ làm khác đi không?

    Giao thừa

    Tôi cũng từng nghe rằng, việc mà chúng ta làm khi chúng ta rảnh rỗi sẽ định hình con người chúng ta. Bây giờ, khi được làm bất kỳ thứ gì, có người học, có người nghiên cứu, có người luyện tập, có người chế ra máy móc mới, có người lướt fb. Khi bạn có toàn quyền lựa chọn, lựa chọn của bạn nói lên bản chất con người bạn. Vì những gì bạn làm qua thời gian tạo nên con người bạn, bạn có thể nhìn vào những quyết định không bị giới hạn của mình để đoán bạn sẽ trở thành ai hay cái gì.

    Nếu bạn nghĩ bạn không hiểu nổi mình, hãy quan sát bản thân lúc bạn ở một mình. Nếu không hoàn toàn nhận ra, ít nhất, bạn cũng hiểu rõ hơn về mình.

    Hầu hết con người hành xử gần với chuẩn mực hơn khi có người quan sát họ. Tôi không biết gần với chuẩn mực hơn là tốt hơn hay xấu hơn. Tốt hay xấu bị đánh giá lại rất nhanh, còn chuẩn mực ở một thời điểm, ở một hoàn cảnh, một vị trí địa lý, là đủ rõ ràng. Nghịch lý là, nếu bạn quan sát một người không biết rằng họ đang bị quan sát, bạn dễ đạt được mục đích của việc quan sát hơn. Bạn hầu như chắc chắn không biết được một người là người như thế nào bằng cách công khai quan sát họ. Làm như vậy, bạn dễ biết được về họ như một hình ảnh mà họ tạo ra và muốn người khác tin.

    Khi ở một mình, con người có xu hướng hành xử như con người mà họ thật sự là. Vì chúng ta cũng có khuynh hướng đi theo những con đường có ít cản trở trước mắt nhất, sự ở một mình làm gia tăng khả năng đầu hàng những ham muốn nhất thời của chúng ta, làm chúng ta tha hóa.

    Phương pháp tu tập tốt nhất mà tôi biết là tự nhìn vào chính mình. Phương pháp tốt thứ hai là hiểu rằng có những thực thể, những tồn tại khác đang quan sát mình.

    Là “hiểu rằng,” chứ không phải là “làm như thể,” vì thực sự thì họ đang quan sát chúng ta. Bạn có thể đã nghe đến thuộc lòng rằng bất kì việc gì ta làm, quang minh hay mờ ám, thì đều được trời biết, đất biết, và quỷ thần đều biết. Không phải cái gì bạn nghe nhiều thì đều đúng, nhưng chuyện này thì đúng. Họ đang quan sát chúng ta.

    Bạn cảm thấy không thoải mái, bạn cảm thấy không còn riêng tư nữa? Thế thì cứ gạt họ qua một bên đi. Những nhà chép sử, dù có trung thực hay không, cơ bản không hề thay đổi và cũng không thể thay đổi những gì họ đã chứng kiến. Có điều, sự tồn tại của họ làm cho những người có quyền thay đổi lịch sử thận trọng hơn. Họ đang quan sát bạn và có thể khiến bạn muốn làm gì đó khác đi, nhưng họ không tác động được vào luật nhân quả. Bạn có thể yên tâm.

    Nếu bạn thấy hành vi của mình thay đổi vì lúc nào cũng bị ai đó nhìn vào, và cảm thấy mình thật là đạo đức giả, thì cũng không phải là vấn đề lớn lắm đâu. Không có sự khác biệt nào giữa kết quả của hành động của người có đạo đức không giả và người có đạo đức giả. Khi người đạo đức giả làm việc tồi tệ, khi đó họ cũng không còn là người đạo đức giả nữa. Căn bản là, đạo đức không có đóng góp gì cho xã hội, hành động thì có. Chừng nào chúng ta còn làm những chuyện tốt đẹp, chừng đó mọi chuyện vẫn tốt đẹp.

    Không chỉ việc làm, chúng ta nên quan tâm hơn đến suy nghĩ của mình. Tất nhiên họ đọc được suy nghĩ của chúng ta. Điều đó không quan trọng lắm, ta đã nói rằng mọi chuyện vẫn hoàn toàn ổn nếu ta gạt họ qua một bên. Điều ta cần lưu tâm là, lúc mà ta tưởng mình đang độc thoại, là thực ra ta đang đối thoại với cả vũ trụ. Vũ trụ hào phóng và ưu ái chúng ta, nên lãng phí những cuộc đối thoại ấy là một lỗi lầm với bản thân mà rồi sẽ có một lúc nào đó ta thấy khó mà tha thứ.

    In Kyoto

    Hoặc ta sẽ thấy đã quá muộn.

    Về năng lực của chúng ta

    Sự bất lực do học được

    Vào năm 1965, Martin Seligman bắt đầu các thí nghiệm với mục đích mở rộng nghiên cứu về phản xạ có điều kiện của Pavlov. Các thí nghiệm của ông đã tạo nền tảng cho khái niệm “Learned Helplessness.”

    Nếu là người đầu tiên dịch khái niệm trên ra tiếng Việt, tôi sẽ dịch là “Hội chứng bất lực mắc phải,” và cố gắng gợi nhắc đến một căn bệnh. Với tôi thì sự bất lực này (cảm giác không có khả năng tự lực, tự lo liệu, không phải do tự nhiên mà do kinh nghiệm), nguy hiểm với con người như căn bệnh tôi đang nhắc tới. Không may là đã có người dịch trước, và gọi nó là “sự bất lực do học được.”

    Để nói về thí nghiệm của Seligman, trước hết nên nhắc sơ qua về thí nghiệm của Pavlov. Các chú chó trong thí nghiệm của Pavlov được cho ăn ngay sau tiếng chuông, vì thế lâu dần chúng hình thành phản xạ tiết nước bọt sau khi nghe chuông. Ngay cả khi không có thức ăn, chúng vẫn tiết nước bọt khi nghe được tiếng chuông.

    Seligman thay đổi thí nghiệm như sau:

    Chú chó được nhốt trong một chiếc hộp. Khi chuông reo, chú chó bị sốc điện. Vì sốc điện nhẹ nên chú chó không chết, nhưng cảm giác vô cùng khó chịu. Chú chó tìm mọi cách để thoát ra nhưng không thể, vì chiếc hộp hoàn toàn kín.

    Sau một quá trình “huấn luyện,” chú chó được chuyển ra một chiếc hộp khác có lối thoát. Khi chuông reo, Seligman dự đoán rằng chú chó sẽ nhảy ra, nhưng không, chú ngồi trong hộp và chịu sốc điện. Khi thay bằng một chú chó khác chưa từng bị nhốt vào hộp kín, chú chó mới này đã nhảy ra.

    Hành vi của chú chó đã trải qua “huấn luyện” được mô tả là “learned helplessness.” Đó là hành vi chúng ta thực hiện khi cho rằng không có cách nào thoát khỏi thực tại tồi tệ, do trước đó chúng ta đã có kinh nghiệm thất bại, có kinh nghiệm rằng những nỗ lực của chúng ta sẽ kết thúc trong vô vọng.

    Các bạn có thể đọc chi tiết hơn ở đây, hoặc chi tiết hơn nữa trong “You are not so smart.” [1]

    Khi còn nhỏ, tôi có được nghe kể mấy câu chuyện sau, chúng giống như phiên bản khác của thí nghiệm trên.

    Người ta nhốt bọ chét vào trong một cái lọ và đậy nắp lại. Bọ chét có thể nhảy cao hàng mét, nhưng khi nhảy lên, chúng sẽ chỉ va vào cái nắp và đau đớn rơi xuống. Sau nhiều lần như vậy, chúng học được rằng không nên nhảy cao quá chiều cao cái lọ. Khi người ta chuyển mấy con bọ chét sang một cái lọ không đậy nắp, chúng không bao giờ nhảy cao quá miệng cái lọ, và đương nhiên không bao giờ thoát ra.

    Xích voi trong vườn thú to, nhưng voi hoàn toàn có thể giật đứt được. Lý do mà những con voi lúc nào cũng ngoan ngoãn đi loanh quanh trong phạm vi mà sợi xích cho phép là bởi vì chúng đã bị xích bằng những sợi xích tương tự từ khi còn nhỏ, và chúng đã học được rằng cố gắng thoát ra khỏi những sợi xích đó chỉ gây đau đớn. Khi có đủ sức giật đứt sợi xích, chúng hoàn toàn không còn ý định đó nữa.

    Chứng bất lực mắc phải này là thường thấy, và nguy hiểm hơn chúng ta tưởng tượng. Nếu bạn đã đọc link tới blog ở trên, chắc bạn đã xem video này. Nếu chưa, hãy xem và suy nghĩ một chút:

    Ví dụ về sự bất lực mắc phải

    Trong video trên, giáo viên giao cho hai nhóm trong lớp, mỗi nhóm 3 anagram để giải. (Mất khoảng 3s google và bạn sẽ hiểu anagram là gì. Nhiều năm trước tôi cũng có viết về anagram trên blog này.) Tất cả các học sinh được làm cho hiểu lầm rằng họ nhận được đề bài giống nhau, nhưng thực ra chỉ có anagram thứ ba là giống nhau, hai anagram đầu tiên của nhóm thứ hai là không thể giải được.

    Sau khi yêu cầu tất cả học sinh giải từng anagram, giáo viên bảo những ai đã làm xong giơ tay. Tất nhiên với hai anagram đầu, chỉ có nhóm thứ nhất giơ tay. Điều đáng để suy nghĩ là, anagram thứ ba, hoàn toàn giải được, bị hầu hết học sinh ở nhóm thứ hai bỏ qua. Họ tin rằng các anagram dành cho họ là quá khó và chấp nhận bỏ cuộc. Nếu thử thì họ sẽ biết rằng họ làm được.

    Bây giờ, chúng ta có thể thấy rằng, learned helplessness không chỉ là hành vi quan sát được ở động vật.

    Rào cản

    Điều kiện để xây dựng một phản xạ có điều kiện là tín hiệu và kích thích. Trong thí nghiệm với chú chó, tín hiệu là tiếng chuông, kích thích là thức ăn. Ban đầu, kích thích tạo ra phản xạ có điều kiện. Sau quá trình huấn luyện, tín hiệu cũng tạo ra phản xạ có điều kiện.

    “Learned helplessness,” như đã nói, là sự mở rộng của phản xạ có điều kiện. Ngoài hai yếu tố trên, nó cần có “điều kiện giới hạn” trong quá trình huấn luyện. Ta có thể gọi điều kiện giới hạn này là “rào cản.” Trong ví dụ với chú chó, rào cản chính là chiếc hộp kín mà nó không thể thoát ra. Với con bọ chét, rào cản là cái nắp hộp; với con voi, rào cản là sợi xích; với các em học sinh, rào cản là độ khó cao vô hạn (không giải được 🙂 ) của câu đố.

    Khi rào cản bị loại bỏ, hoặc khi rào cản không đủ mạnh để giới hạn đối tượng, nhưng đối tượng từ chối hoạt động, đó là biểu hiện của bất lực học được. Chiếc hộp đã có vách hở, chiếc lọ không còn bị đậy kín, sợi xích không còn đủ chắc, câu hỏi không còn đủ khó, nhưng các đối tượng của chúng ta đã không chọn vượt qua giới hạn mà họ nhìn thấy trước đó.

    Là một người đứng ngoài, điều chúng ta nhìn thấy khi learned helplessness đã hình thành rất khó hiểu. Chúng ta không thể hiểu tại sao chú chó chịu bị sốc điện chứ không nhảy ra khỏi cái hộp. Đó là vì chúng ta đã không nhìn thấy cái hộp kín và nỗi tuyệt vọng của chú chó trước đây.

    Tự nhiên tôi nhớ một câu của người Việt: “Chim sợ cành cong.” Thậm chí ngay cả một con chim cũng không thể hiểu tại sao đồng loại của nó nhất quyết không chịu đậu vào một chiếc cành cong. Nếu con chim ấy biết đọc suy nghĩ và biết rằng bạn nó đã thấy mũi tên bắn về phía mình từ một chiếc cành cong như thế, nó sẽ ngay lập tức hiểu tại sao.

    Đây không phải là điều quan trọng tôi muốn nói trong bài viết này, chỉ là bỗng nhiên nhớ tới.

    Nếu bạn thấy người khác hành động vô lý, khả năng họ thật sự vô lý thấp hơn nhiều so với khả năng bạn chưa nhìn thấy hết những lý do của họ. Việc nên làm không phải là băn khoăn, mà là tìm động cơ và nguyên nhân thật sự.

    Chứng bất lực mắc phải này là thường thấy, và nguy hiểm hơn chúng ta tưởng tượng. Vì sao? Một nguyên nhân theo tôi là vì con người vô thức tạo ra cho nhau những rào cản. Người ta có thể thu mình vì những kinh nghiệm thất bại trong quá khứ của bản thân, hoặc của người khác; vì những niềm tin của bản thân, hoặc của người khác.

    Chẳng hạn, tôi nghĩ rằng nhiều đứa trẻ bị nói rằng chúng sẽ không làm nên trò trống gì, vì xuất thân của chúng tầm thường. Trong lịch sử, câu “Đất sỏi có chạch vàng” đi cùng với chữ “không” nhiều hơn là đi một mình. Con vua thường lại làm vua, con sãi ở chùa thường giỏi nhất là quét lá đa. Chuyện người giàu thường sống ở khu người giàu, người nghèo thường sống ở khu người nghèo có những nguyên nhân ngoài nguyên nhân quy hoạch. Nếu một đứa bé sống ở khu ổ chuột, nhiều khả năng từ nhỏ tới lúc gần lớn, nó luôn được nghe rằng rồi nó sẽ lại sống cuộc đời như cha mẹ và hàng xóm của nó. Những người xung quanh nó đã thi công xong cái hộp, nhưng lần này là cho một con người, và vô hình.

    Thực tế là có người thích lao vào những việc người khác nói rằng bản thân không thể làm, và lấy đó làm vui. Chính vì thế nên SpaceX mới phóng tên lửa bay ra rồi lại bay vào cái hộp. Tuy nhiên, trên đời không có nhiều người lấy việc phá vỡ rào cản và làm những việc người khác nói rằng không thể, làm vui. Vì bản thân những việc đó, để làm được thì rất mệt mỏi.

    Tôi không thể lấy ví dụ về những ước mơ bị dập tắt, dù tôi nghĩ rằng chúng có rất nhiều. Chúng không được lên báo như những ví dụ ở trên. Chúng nhiều đến mức trở thành bình thường, đến mức chúng ta chấp nhận và gọi chúng là thực tế cuộc sống. Không, đó không phải là một thực tế hiển nhiên, đó là một hiện tượng nhân tạo: Khi người ta không được khích lệ và tin tưởng, người ta ít cố gắng hơn. Đó hoàn toàn là nhân tạo.

    Hãy thận trọng khi nói với người khác về năng lực của họ, dù có ý tốt và nhiều kinh nghiệm. Chúng ta cơ bản không biết được năng lực thực sự của đối phương, càng không biết rõ thì càng cần thận trọng. Một điều mà đến tận bây giờ vẫn có người nói, đó là để học ngoại ngữ cần có năng khiếu. Có thể họ có kinh nghiệm đau đớn khi học ngoại ngữ, và có lòng tốt không muốn người khác lao đầu vào một bức tường như họ đã từng. Nhưng sự thật là, năng khiếu không phải là điều cần thiết. Gần như tất cả người dân Quebec và Hongkong nói hai thứ tiếng. Người châu Âu thường biết nhiều hơn một thứ tiếng. Nếu nói rằng tất cả họ có năng khiếu thì vô cùng khó tin.

    Có cả những ví dụ ngược lại. Khi “Learned Helplessness” được áp dụng cho thế giới mà một con người đang sống, chứ không chỉ là khả năng thoát khỏi thực tại tồi tệ của người đó.

    Gần đây tôi có nghe câu chuyện của một diễn giả. Khi còn trẻ, anh ấy cùng với bạn bè đi làm từ thiện ở một trại trẻ mồ côi. Trong vài ngày, anh ấy chơi với lũ trẻ với lòng yêu thương chân thành và được chúng quý mến. Ngày cuối cùng, chúng hỏi anh sau buổi liên hoan anh sẽ quay lại chứ. Anh trả lời nhất định rồi.

    Anh không bao giờ quay lại.

    Vì bận việc, vì dòng đời xô đẩy, vì rất nhiều lý do, anh chưa bao giờ quay lại. Anh ấy nói, đó là một việc đáng ân hận suốt đời. Lẽ ra anh phải suy nghĩ chín chắn hơn, đừng để chúng quý anh như vậy. Việc anh làm là tàn nhẫn, vì sao?

    Lũ trẻ tin rằng chúng được yêu thương. Chúng tin anh coi chúng là thân thiết. Chúng tin anh sẽ quay lại. Anh hứa với chúng. Rồi anh biến mất. Anh nói về sau anh được biết chúng đã mỏi mòn chờ anh và nhắc về anh, hàng tháng. Nhưng anh không quay lại.

    Điều đó làm chúng nghĩ chúng bị bỏ rơi. Một lần nữa. Lũ trẻ đã bị bỏ rơi từ khi chúng mới sinh ra. Chúng vừa có một tia hy vọng, thì hành động của anh lặp lại với chúng rằng chúng không thể có hạnh phúc. Hành động của anh giống như cái nắp chai, giống như sợi xích. Liệu sau này chúng có hy vọng có được sự che chở, yêu thương của người lớn không? Rất khó nói. Nhưng có thể nói rằng hành động của anh đúng là tàn nhẫn.

    Learned helplessness có muôn hình muôn vẻ.

    Điều chúng ta muốn làm sẽ thành hiện thực !

    Learned Optimism

    Nếu có sự bất lực học được thì cũng có sự lạc quan học được. Sự lạc quan này không đến từ kinh nghiệm thành công, mà là từ một yếu tố đối nghịch với rào cản. Tôi tạm gọi nó là những bậc thang.

    Trong một nghiên cứu nổi tiếng cách đây gần 20 năm [2], người ta đã tìm ra liên hệ giữa sự kỳ vọng của bố mẹ đối với con cái và thành tích học tập của những đứa con.

    Kỳ vọng của phụ huynh và Thành tích học tập của con cái [2]

    Hãy chú ý vào đường biểu thị quan hệ giữa kỳ vọng của cha mẹ và thành tích thực tế của đứa trẻ, trong trường hợp cha mẹ ít có cảm xúc tiêu cực về bản thân (đường với các dấu vuông). Trong trường hợp này, kỳ vọng càng cao, thành tích càng tốt. Ở một cực, chúng ta thấy các “rào cản niềm tin,” ở cực còn lại, chúng ta thấy các “nấc thang niềm tin.”

    Có một số cách để giải thích cho điều này. Thứ nhất, các bậc phụ huynh có kỳ vọng cao vào con cái có xu hướng tạo những điều kiện tốt cho con cái của mình đạt được kỳ vọng của họ. Chẳng hạn, nếu bạn không tin tưởng tưởng rằng con bạn sẽ trở thành nghệ sỹ dương cầm nổi tiếng sau này, bạn sẽ không thuê gia sư hay mua đàn cho đứa bé. Ngược lại, nếu bạn có niềm hy vọng đó, nhiều khả năng bạn sẽ làm mọi thứ để con bạn phát triển khả năng âm nhạc. Vừa rồi là cách giải thích trong [2]. Tuy nhiên, chúng ta có thể quan tâm hơn đến một cách giải thích khác: Khi đứa trẻ cảm nhận được sự kỳ vọng dành cho nó, nó nỗ lực nhiều hơn. Ngược lại, khi đứa trẻ cảm thấy không ai nghĩ nó sẽ làm được chuyện gì, nó ít có động lực để cố gắng. Điều này được phản ánh trực tiếp bởi thành tích của đứa trẻ.

    Kỳ vọng của cha mẹ thể hiện ở mỗi hành động của họ đối với con cái. Ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, kỳ vọng ấy biến thành “learned hopelessness” hay “learned optimism” nơi đứa trẻ.

    Một ví dụ mở rộng của ví dụ trên, là ví dụ của gia đình Polgar. Tôi tin rằng không có một người chơi cờ chuyên nghiệp nào không biết câu chuyện về gia đình Polgar, đôi khi được giới tâm lý học gọi là “Thí nghiệm Đại Kiện tướng.”

    Laszlo Polgar là một nhà tâm lý học Hungary. Ông tuyên bố rằng thiên tài là được nuôi dưỡng, chứ không phải là được sinh ra. Ông thật sự đã nuôi dưỡng ba cô con gái của mình trở thành những thiên tài. Cô con gái đầu Zsusa Polgar (English name: Susan Polgar), là người phụ nữ đầu tiên trở thành Đại Kiện tướng quốc tế. Cô là vô địch nữ thế giới nhiều năm liền. Hiện nay Zsusa chịu trách nhiệm cho ‘Trung tâm Cờ vua Xuất sắc Susan Polgar’ tại Đại học Webster (nơi Lê Quang Liêm của chúng ta từng học tập và thi đấu.) Cô con gái út Judit Polgar được coi là nữ kỳ thủ mạnh nhất trong lịch sử (về sau Hou Yifan cạnh tranh vị trí này, nhưng trong thời kỳ đỉnh cao của Judit Polgar, ngay cả huyền thoại Garry Kasparov cũng phải dè chừng.) Cô con gái giữa, Sofia Polgar, không nổi bật đến mức vô tiền khoáng hậu như hai chị, chỉ mang danh hiệu Kiện tướng quốc tế, và Đại Kiện tướng nữ, nhưng như vậy đã là rất đáng ngưỡng mộ. Có rất nhiều câu chuyện về ba chị em Polgar, tôi xin kể một câu chuyện nhỏ để các bạn thấy họ mạnh đến thế nào. Trước đây, trong giải đồng đội nữ thế giới, đội tuyển Nga luôn giành thắng lợi tuyệt đối. Họ áp đảo đến mức nghe nói cho các đội nữ còn lại chọn ra những người mạnh nhất để thi đấu, họ vẫn thắng như thường. Vậy mà lần đầu tiên ba chị em Polgar thi đấu, đội Hungary đã thắng Nga và vô địch. Chuyện cả ba bàn của một đội tuyển được thi đấu bởi ba người trong một gia đình cũng là hy hữu.

    Learned Optimism không phải là yếu tố duy nhất làm nên câu chuyện này. Nếu bạn có con nhỏ và quan tâm đến việc “nuôi dạy thiên tài”, hãy tìm đọc cuốn Bring Up Genius! của Laszlo Polgar.

    Hãy nói về một ví dụ khác của “Learned Optimism.”

    Nhiều năm trước đây, một cậu bé bị thương nặng ở chân sau một trận hỏa hoạn. Anh trai cậu mất trong trận hỏa hoạn đó. Bác sỹ nói rằng cậu sẽ tàn phế và đề nghị cưa chân. Cha mẹ cậu không đồng ý, họ cũng không bao giờ nói cho cậu biết nhận định của bác sỹ. Họ để cậu tham gia một hình thức trị liệu mới. Bằng sự nỗ lực của mình, hai năm sau cậu có thể đi dược, 13 năm sau đó, cậu tham gia Thế Vận Hội mùa hè. Thêm bốn năm nữa, cậu tham gia Thế Vận Hội lần thứ hai, được bình chọn là vận động viên được yêu thích nhất, và xác lập kỷ lục thế giới nội dung 800m. Đó chỉ là một vài thành tích tiêu biểu trong số rất nhiều thành tích của cậu.

    Sau này, khi đã là một tiến sỹ, cậu mở trung tâm của riêng mình. Cùng với vợ, cậu đã giúp đỡ 10.000 trẻ em khó khăn hoặc bị ngược đãi.

    Người ta đã đặt tên cậu cho một công viên ở quê nhà Elkhart, Kansas để vinh danh. Cậu bé năm nào ấy chính là Glenn Cunningham. Bạn có thể đọc nhiều hơn về cậu ấy ở đây, một trang web của Đại học Kansas.

    Vậy là chúng ta đã biết một chút về Learned Optimism. Chính Seligman đã xuất bản một cuốn sách về vấn đề này [3]. Learned Optimism khác với Learned Helplessness ở chỗ, nó thiên về rèn luyện hơn là kinh nghiệm. Điều này có nghĩa là, bạn học được sự bất lực từ kết quả của các sự kiện bên ngoài, nhưng bạn học được sự lạc quan từ suy nghĩ của chính mình. Phải rèn luyện cách nghĩ, hoặc được đào tạo cách suy nghĩ để có sự “Learned Optimism.”

    Dưới đây là tóm tắt những điểm quan trọng trong cuốn sách:

    • Việc bạn là người lạc quan hay bi quan phụ thuộc vào cách bạn giải thích cách sự việc xảy đến với mình.
    • Cách giải thích này chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi gia đình và nhà trường (mẹ và cô giáo của bạn).
    • Bạn luôn có thể thay đổi cách mình giải thích các sự kiện, để trở thành một người lạc quan hơn. Bạn nhìn cốc nước nửa đầy hay nửa vơi, có thể rèn luyện để thay đổi.

    Ví dụ về cách giải thích sự kiện, trong trường hợp một cô gái không tỏ ra thích bạn.

    (Nguồn: Learned Optimism by Martin Seligman – Animation)

    • Người bi quan cho rằng các sự kiện xấu xảy ra là có tính cá nhân, do những nguyên nhân cố hữu (xác định, phổ biến và không thay đổi được), nhưng lại nguyên nhân của những sự việc tốt đẹp là ngẫu nhiên, nhất thời, hay may mắn. Người lạc quan thì ngược lại, họ cho rằng những thứ xấu chỉ là nhất thời, nguyên nhân của những sự việc tốt đẹp thì là thường hằng. Bởi thế, họ nhanh chóng đứng dậy sau thất bại và tiếp tục tiến lên. Họ tin vào thành công, vì nguyên nhân của những sự việc tốt đẹp là thường hằng.

    Tuy nhiên, không phải lạc quan có nghĩa là có ưu thế tuyệt đối trước bi quan. Những người bi quan có khả năng đánh giá tình hình một cách thực tế hơn. Trong một số trường hợp, quá lạc quan là nguy hiểm. Sự lạc quan cần phải có giới hạn.

    Ảo tưởng sức mạnh

    Tôi từng nghĩ rằng đây là đơn giản là một cụm từ nói theo trào lưu của mấy người trẻ (trendy/cool words), và nó tồn tại tới giờ vì nghe có vẻ hài hước và bắt tai. Hóa ra, đây là một hiện tượng tâm lý thật sự. Trong tiếng Anh, nó được gọi là Illusory superiority.

    Đây là một hiện tượng tâm lý, khi người ta nghĩ rằng họ giỏi hơn mức trung bình. Hiện tượng này liên quan mật thiết đến Dunning–Kruger effect, khi người ta cho rằng mình có năng lực hơn hẳn so với năng lực thật sự.

    Điều này có nguy hiểm không? Có, nó vô cùng nguy hiểm. Nó nguy hiểm cho chính bản thân người ảo tưởng, và nguy hiểm cho những người mà người đó chịu trách nhiệm.

    Hãy nghe một câu chuyện cười. Vào năm 1995, một người đàn ông không đeo mặt nạ đi cướp hai ngân hàng. Trước khi rời đi, anh ta còn nhìn camera và cười. Buổi tối cùng ngày, khi bị cảnh sát bắt, anh ta kinh ngạc và lẩm bẩm, đại ý: Không thể như thế được, tôi có một lớp nước ép trên mặt.

    Hóa ra anh ta đọc được ở đâu đó rằng nước ép chanh là một thứ mực vô hình, và chừng nào không bị đặt gần nguồn nhiệt thì không ai có thể nhìn thấy nó. Anh ta tự tin vào hiểu biết của mình đến mức phết nước chanh lên mặt rồi đi cướp ngân hàng, sau đó nhìn camera và cười, như chúng ta đã biết. Cảnh sát kết luận anh ta không bị điên, nhưng có sự tự tin thái quá vào trí tuệ của mình.

    Sự việc này là khởi đầu cho nghiên cứu của Dunning và Kruger, với kết quả nổi tiếng mà chúng ta đã nói tới ở trên. Hóa ra hiện tượng người ta cho rằng mình tốt đẹp hơn cái mình thật sự là, là một hiện tượng vô cùng phổ biến. Chi tiết về một số thí nghiệm khác và bình luận, các bạn có thể đọc ở đây. Một giải thích đơn giản cùng với các ví dụ có thể được xem ở đây:

    Why incompetent people think they’re amazing – David Dunning (TED-Ed)

    Khi một người chịu ảnh hưởng của cái ảo tưởng này, anh ta sẽ tự làm hại mình như thế nào, chúng ta vừa thấy một ví dụ. Sẽ ra sao nếu anh ta ở vị trí có ảnh hưởng quan trọng đến hàng triệu người? Tôi nghĩ ngay bây giờ chúng ta đang thấy một ví dụ, với các cập nhật được lên báo hàng ngày. Cá nhân tôi không thấy ai phù hợp với các miêu tả về ảo tưởng sức mạnh hơn là Donald Trump.

    Hãy thận trọng khi nói với người khác về năng lực của họ, dù có ý tốt và nhiều kinh nghiệm.

    Bây giờ, bạn có thực sự muốn giúp người khác xây dựng “learned optimism” của họ không? Tin tốt, và cũng là tin xấu, là sự lạc quan thì thường không có giới hạn, cũng như trí tuệ của người đàn ông cướp ngân hàng ở trên vậy. Tôi nghĩ chúng ta cần phải biết được năng lực của người chúng ta nói chuyện, hay ít nhất là tiềm năng của họ.

    Thực sự thì, chúng ta có năng lực tới đâu?

    Grit – sự gan góc và bền bỉ

    Cách đây nhiều năm, tôi được nghe một bài nói chuyện của Angela Duckworth, bài nói mà nội dung của nó đã trở thành nền tảng cho một cuốn sách có nhiều ảnh hưởng sau này [4]. Bài nói chuyện nói về yếu tố quyết định đến thành công của một đứa trẻ trong trường học, trong cuộc thi, hay của một người trong cuộc đời. Đó không phải là sự giàu có của gia đình, trí thông minh, hay một điều kiện ngoại cảnh nào.

    Grit: the power of passion and perseverance | Angela Lee Duckworth

    Điều quan trọng nhất ảnh hưởng tới thành tích của một đứa trẻ, hay sự nghiệp của một người, là GRIT. Nó có thể được dịch là sự gan góc, sự kiên trì, sự bền bỉ, hoặc thứ gì đó là tổng hợp của tất cả những thứ trên. Đây là kết quả mà diễn giả tìm ra sau rất nhiều thí nghiệm và quan sát.

    Chúng ta biết được rằng grit là quan trọng, vậy làm thế nào để xây dựng được grit? Làm thế nào để một người dễ chán nản trở thành một người có quyết tâm, cố gắng đến cùng? Và cuối cùng thì grit với chuyện năng lực chúng ta đang nói ở trên có liên quan gì đến nhau?

    Hóa ra, cách tốt nhất để có được grit, là có được growth mindset. Growth mindset là tư tưởng cho rằng năng lực của bản thân có thể được cải thiện. Khi một đứa trẻ tin rằng nó có thể giỏi lên, dù nó hiểu rõ rằng nó đang làm một việc ngoài khả năng, nó sẽ không từ bỏ dễ dàng. Chuyện ngày hôm nay không làm được, không có nghĩa là ngày mai sẽ không làm được.

    Có một thí nghiệm thế này. Tôi không biết chi tiết, thậm chí không biết nó có thật không, nhưng đã được đọc ở đâu đó trên mạng. Người ta cho hai nhóm trẻ em giải toán. Nhóm thứ nhất được khen rằng chúng rất ưu tú, ngay từ đầu. Nhóm thứ hai không được nghe gì về sự ưu tú cả, nhưng người ta giải thích cho chúng hiểu rằng nếu làm nhiều thì chúng sẽ giỏi lên và càng ngày càng giải được những bài toán khó.

    Đầu tiên, người ta cho cả hai nhóm làm những bài toán dễ, sau đó khó dần lên một chút. Cả hai nhóm làm được, và chúng đều hạnh phúc. Rồi người ta cho chúng làm một bài toán mà trẻ em không thể giải được. Điều người ta quan sát được là, nhóm “được gọi là ưu tú” bỏ cuộc rất sớm. Nhóm còn lại, dù cuối cùng cũng bỏ cuộc, nhưng thời gian chúng dành để cố gắng giải bài toán dài hơn rất nhiều.

    Chuyện này được giải thích là, những đứa trẻ “ưu tú” tin rằng chúng thông minh, nhưng chúng cũng nghĩ về giới hạn của bản thân như một cái vạch cố định. Độ khó của bài toán, hiển nhiên nằm ngoài vạch đó, vì thế chúng bỏ cuộc. Những đứa trẻ đó được gọi là có “fixed mindset.” Những đứa trẻ “chưa ưu tú” thì biết có “growth mindset.” Chúng biết rằng chúng sẽ giỏi lên, và càng làm nhiều, chúng càng giỏi. Thí nghiệm đã kết thúc, nhưng tôi tin rằng nếu ngày tiếp theo, cũng những đứa trẻ đó được đưa cho bài toán, nhóm đầu tiên sẽ bỏ cuộc như lần đầu, và nhóm thứ hai sẽ tiếp tục cố gắng. Nhóm thứ nhất đã học được sự bất lực quá nhanh.

    Vậy có một câu hỏi đặt ra. Giả sử bài toán thật sự là không thể giải nổi, liệu cuối cùng chúng có học được cái sự bất lực chúng ta đang bàn không?

    Tôi không thể trả lời. Tôi chỉ biết rằng growth mindset và learned helplessness là hai thứ đối nghịch. Chúng không thể cùng tồn tại, chỉ là thứ gì mạnh hơn mà thôi. Nếu những kinh nghiệm thất bại quá sâu sắc và làm chúng ta quá tổn thương, chúng ta rất có thể sẽ ngừng cố gắng. Nhưng nếu niềm tin rằng bản thân có thể tiến bộ còn lớn hơn những nỗi đau đó, chúng ta có lý do để tiếp tục.

    Tuy nhiên, chúng ta không biết mình có thể tiến xa tới đâu. Trên đời thật sự có những thứ không thể và không ai biết được ranh giới. Nói rằng mọi chuyện đều có thể, thì cũng giống như nói rằng có thể nhận được 1 xu của Thượng Đế sau một giây vậy.

    Tôi chỉ tin, không có cơ sở, rằng hầu hết những giới hạn mà chúng ta có thể nhìn thấy, là có thể vượt qua. Và cách tốt nhất để xây dựng sự lạc quan cho chính mình, và cho thế hệ sau, là hiểu và làm cho người khác hiểu về growth mindset. Năng lực của chúng ta không phải là thứ có thể được biểu diễn bằng một hằng số. Chuyện ngày hôm nay ta làm được không có nghĩa là ngày mai ta cũng làm được, và ngược lại. Tự thuyết phục mình hay thuyết phục người khác rằng chúng ta làm được, bản thân nó không đem lại kết quả. Chỉ có thật sự dốc sức vào công việc mới đưa chúng ta đến nơi ta cần đến và có thể đến.

    京都御所

    Tham khảo

    [1] McRaney, David. You are not so smart: why you have too many friends on Facebook, why your memory is mostly fiction, and 46 other ways you’re deluding yourself. Avery, 2012.

    [2] Kaplan, Diane S., Xiaoru Liu, and Howard B. Kaplan. “Influence of parents’ self-feelings and expectations on children’s academic performance.” The Journal of Educational Research 94.6 (2001): 360-370.

    [3] Seligman, Martin EP. Learned optimism: How to change your mind and your life. Vintage, 2006.

    [4] Duckworth, Angela: The power of passion and perseverance. Vol. 234. New York, NY: Scribner, 2016.

    Chuyện học tiếng Anh của tôi

    Tôi bắt đầu học tiếng Anh từ năm lớp ba. Ở nước ta thì tùy địa phương mà học sinh bắt đầu học tiếng Anh từ năm lớp ba hoặc lớp sáu. Thực ra cũng không khác biệt nhiều. Bài đầu tiên của lớp sáu cho những học sinh bắt đầu học tiếng Anh từ lớp ba cũng vẫn là “Hello! How are you? […]” 

    Trong ba năm tiểu học, có lẽ tôi đã không học được bao nhiêu. Tôi chỉ còn lại mấy ký ức với môn tiếng Anh hồi đó. Đầu tiên là ký ức về những buổi học cùng đội tuyển HSG với giáo viên riêng. Đội tuyển HSG Toán – Văn, nhưng phải học tiếng Anh để thi khỏi trượt, có lẽ thế. Cô giáo là giáo viên một trường khác, vì lý do gì thì tôi không còn nhớ lắm. Tôi cũng chẳng nhớ cô ấy nhìn thế nào, có lẽ cô ấy xinh đẹp. Mọi cô giáo thời tiểu học của tôi đều xinh và hiền hậu. Cô ấy thường lấy nhiều ví dụ mỗi khi chúng tôi học cái gì đó mới. Tôi rất thích cách học đó. Cô giáo vẫn thường dạy chúng tôi thường chỉ cho chúng tôi đọc ví dụ trong sách thôi.

    Ký ức thứ hai là một câu hỏi trong bài thi, yêu cầu dịch sang tiếng Anh câu: “Cô ấy có vóc người người tầm thước.” Tôi đoán là người ra đề đã nhầm lẫn, vì từ “tầm thước” thì người lớn cũng chưa chắc đã biết.

    Cuối cùng là những lời của cô hiệu trưởng trong một buổi tập trung toàn trường, hay tổng kết gì đó, có lẽ là sau bài thi kia. Tôi không còn nhớ chính xác lời cô nữa, nhưng tôi nhớ điều cô muốn nói: “Năm nay không có một em nào ở khối … đạt học lực giỏi môn tiếng Anh. Các em đến lớp học tiếng Anh để làm gì vậy?” Giờ nghĩ lại, tôi thấy hồi đó không biết tự mình hay là ai đó đã làm chúng tôi nghĩ là chỉ cần giỏi Toán với Văn là được, tiếng Anh để cho vui thôi. Nên giờ học tiếng Anh chắc chúng tôi đã chơi rất vui vẻ.

    Một công viên ở Fukushima, Toyama

    Khi lên cấp hai tôi chơi thân với một ngôi sao của trường. Hãy gọi nó là Illusion (cái tên này là cắt ra từ tên tài khoản Yahoo của nó). Chơi với Illusion làm sự dốt nát của tôi lộ ra, giống như mấy con quạ thì rất nổi bật dưới ánh mặt trời. Có lần, cô giáo dạy tiếng Anh của tôi nói với cả lớp: “Trong lớp có những bạn giỏi như Illusion, nhưng có những bạn thì vẫn còn hỏi “động từ kết thúc bằng ‘e’ ” chia như thế nào.” Cái động từ kết thúc bằng “e” đó là động từ “to be,” còn “những bạn” đó là một bạn thôi – tôi. Trớ trêu là lúc hỏi cô câu đó tôi đang ngồi cạnh Illusion. Bây giờ tôi sẽ không cảm giác gì với những lời như thế, nhưng lúc đó dây thần kinh xấu hổ của tôi chắc chưa đứt, nên tôi đi học thêm. Một năm sau, có lần tôi được điểm 10 môn tiếng Anh, cao hơn điểm của thằng bạn. Tôi rất vui. Bây giờ tôi không còn tinh thần chiến đấu hay cạnh tranh gì nữa, nhưng hồi đó tôi rất vui khi điểm cao nhất lớp, và cao hơn Illusion, thằng bé xuất chúng mà năm trước đó đạt điểm tuyệt đối tổng kết môn tiếng Anh, và sau này khi vào học ở khối A0, nó vẫn xếp top. (Giờ nó đang làm ở Sing sau khi tốt nghiệp NUS.) Qua đây, tôi cũng muốn nói là nếu học thêm có thể giúp bạn thì nên học thêm, ai nói kệ ai. Tôi hết sức biết ơn cô giáo ở lớp học thêm của tôi ngày đó. Về sau thì cả tôi và Illusion đi học thêm cô giáo dạy chúng tôi trên lớp 🙂

    Một ngôi làng dưới chân núi, dọc tuyến Shinkansen Toyama – Tokyo

    Lên cấp ba, tôi học chuyên, là Khối B0 nếu bạn nào quan tâm. Trên đời thứ tồn tại duy nhất là môn chuyên, những môn khác, kể cả tiếng Anh, có hay không, không quan trọng. Vì những điều kỳ diệu nào đó, chúng tôi vẫn biết những môn khác, vẫn thi đỗ những khối không có môn chuyên, vẫn được giáo viên dạy văn khen là những người có phong cách này nọ. 

    Nhưng môn tiếng Anh thì có số phận đặc biệt hẩm hiu. Ngoài các bạn trẻ giỏi tiếng Anh từ bé, vào trường vẫn giỏi (nhóm 1), và những bạn muốn du học (nhóm 2), thì những người khác (nhóm tôi), không có lý do gì đáng kể để phải học tiếng Anh. Sự hẩm hiu của môn tiếng Anh lên đến đỉnh điểm khi cô chủ nhiệm của chúng tôi, giáo viên dạy tiếng Anh, vừa nói vừa khóc trước lớp (lại là đại ý, vì tôi không còn nhớ rõ nữa): “Tiếng Anh của tôi có thể kém, vì chuyên môn của tôi là tiếng Nga, tôi được thầy … nhờ nên mới chuyển đến đây và giờ dạy các em tiếng Anh. Tôi cũng đã cố gắng rất nhiều để học tiếng Anh và dạy cho các em. Nếu là tiếng Nga thì tôi chẳng thua kém ai cả, tôi đã được đào tạo rất bài bản.” Tôi chẳng hiểu là chuyện gì, chắc có bạn trẻ nào ở nhóm 1 đã nói ra mấy câu xuẩn ngốc, hoặc tỏ thái độ không cần học. Lúc đó cô giáo tôi đã sắp về hưu rồi, nên cô nói tiếng Anh kém chẳng qua là do lúa chín có bản tính là thích cúi đầu, hoặc mấy bạn kia quá thần thánh (một giả thuyết phi lý). Dù thế nào thì tôi thấy nói ra những lời hay làm những chuyện không phải với giáo viên vẫn là chuyện đáng ăn năn.

    Lại vì một lẽ kỳ diệu nào đó mà tôi cũng không biết nữa, tự nhiên nửa cuối năm lớp 12 tôi thích học tiếng Anh. Tôi thích đến mức đã cố gắng chép bài môn Văn và môn Sử bằng tiếng Anh. Tôi nhớ điện thoại của tôi lúc đó rất lởm, tôi thường hay mượn điện thoại của thằng bạn, hãy gọi nó là Veselin, một thằng ở nhóm 1, để dùng từ điển Việt Anh. Chép bài bằng tiếng Anh là một việc không dễ, nhưng chẳng hiểu sao tôi thích. Tra từ bằng điện thoại cũng không tiện, nhưng vì thích nên tôi vẫn làm. Cuối cùng thì đã có những bài tôi chép được bằng tiếng Anh thật. Mỗi người có đam mê riêng của mình. Veselin thích mày mò máy tính, thằng bạn khác thì thích ngắm sao trời, tôi thì thích dùng tiếng Anh. Cái so sánh này thì khập khiễng, nhưng tôi nghĩ cảm giác thấy phần mềm chạy không (chưa thấy) bug sau bao khó nhọc của những đêm không ngủ (đủ), cảm giác khi nhìn được mặt trăng bằng kính mình tự lắp sau biết bao nhiêu thời gian mày mò, với cảm giác thấy mình viết được bằng tiếng Anh sau biết bao nhiêu ngày phải vừa nghe vừa tra từ điển, nó cũng sung sướng từa tựa nhau vậy.

    Một ngôi nhà ở Toyama, trên nền núi tuyết

    Mùa hè trước khi vào đại học, tôi đã dành phần lớn để học tiếng Anh qua tin tức. Năm đó, Lê Quang Liêm đại thắng ở Aeroflot Open, giành suất đặc cách đấu ở giải Siêu Đại kiện tướng Dortmund. Nếu bạn chưa biết thì trong cờ vua, các Đại kiện tướng, như Nguyễn Ngọc Trường Sơn hay Đào Thiên Hải chẳng hạn, có Elo trên 2500. Còn Elo trên 2700 thì trên thế giới có rất ít, thời điểm tôi đang nói tới chỉ có trên dưới 40 người, họ được gọi là Siêu Đại kiện tướng (Super-Grandmaster). Giải Dortmund quy tụ những người mạnh nhất thế giới, tất nhiên là toàn Siêu Đại kiện tướng, và người thắng cuộc ở Aeroflot, bất kể người đó đang giữ danh hiệu gì. Năm ấy Lê Quang Liêm, khi vẫn đang là Đại kiện tướng, đã giành suất này. Điều đó có thể chẳng là gì đối với bạn, nhưng đối với tôi thì đáng là một niềm tự hào dân tộc. Tôi đã theo dõi tin tức về giải Dortmund trên chessbase.com mỗi ngày. Mỗi sáng thức giấc, việc đầu tiên của tôi là cầm điện thoại lên và vào chessbase. Những bài viết trên chessbase có thể không phải là do người bản xứ viết, nhưng họ dùng một thứ tiếng Anh đẳng cấp. Nếu khi chơi cờ với máy nhiều lúc bạn thấy phục nó vì cùng biết một thứ luật chơi như bạn, nó lại chơi được những nước đẹp đến mức bạn không ngờ tới, thì khi đọc chessbase, chắc nhiều người bản xứ cũng phải thán phục cách sử dụng từ ngữ và văn phạm của các tác giả. Tôi đã học cách viết trên chessbase, đã tra mọi từ mà tôi không biết mỗi buổi sáng, và rồi cuối ngày lại chờ sáng hôm sau thức dậy có bài viết mới. Thời gian đó, tôi cũng bắt đầu tập nghe và nói. Tôi đã dùng giáo trình Ship or Sheep?. Vì sao lại là giáo trình ấy thì cũng không còn nhớ nữa. Tôi đã nghĩ rằng mình tiến bộ rất nhiều trong thời gian ấy.

    Khi vừa vào đại học, tôi có tham gia kỳ thi đánh giá năng lực. Tôi bị sốc ở phần thi nghe, tôi thậm chí không biết khi nào ví dụ kết thúc và bài thi thật sự bắt đầu. Tôi nghĩ mình đã tiến bộ nhưng sự thật là tôi vẫn chẳng ở đâu cả. Phần thi nói lần đó có chủ đề chính (Part 2) là về người nổi tiếng. Như bạn có thể đoán, tôi nói về Lê Quang Liêm. Hình như khi mùa hè kết thúc, thành tích tốt ở Dortmund đã đưa anh ấy trở thành Siêu Đại kiện tướng đầu tiên của chúng ta. Dù bài nghe rất tệ, nhưng bài thi viết, đọc, và nói tạm ổn nên lần đó tôi đã đạt B2 CEF.

    Chương trình đại học của tôi là một chương trình đặc biệt. Trên nguyên tắc thì chúng tôi sẽ học mọi môn, trừ Triết học và Giáo dục Thể chất, bằng tiếng Anh. Để chuẩn bị, chúng tôi có một năm học tiếng Anh ở ULIS trong một chương trình gọi là ISP. Tôi học cùng với một nhóm vài bạn đến từ các trường thành viên của VNU. Chúng tôi có giáo viên chủ nhiệm, là một cô giáo trẻ và giỏi, cho tôi được nhấn mạnh là cô rất giỏi. Cô giáo rất thương chúng tôi, chúng tôi cũng thương cô. Chúng tôi gọi cô là mama, hoặc momy, dù cô còn trẻ. Đây chắc không phải là chuyện bạn nghĩ sinh viên đại học vẫn có thể gặp, nhưng đó là những gì tôi đã trải qua. Chúng tôi học tiếng Anh hơn 4 tiếng mỗi ngày trên lớp, năm ngày một tuần, ròng rã một năm. Thực ra tôi không học đủ bằng các bạn, có một thời gian tôi đã ở nhà, nhưng học tiếng Anh cũng là một phần quan trọng trong lịch trình của tôi khi ở nhà.

    Lớp chúng tôi đã rất thân thiết, tôi đã coi đó như gia đình của mình. Chúng tôi đã học cùng nhau, và sống cùng nhau. Chúng tôi đã đến nhà nhau, cùng lên núi, cùng xuống biển, cùng đốt lửa kể chuyện ma, cùng nói đủ thứ chuyện trên đường về, cùng hát bài hát khiến cô giáo của chúng tôi rơi nước mắt. Khi chia tay B0, tôi đã nghĩ đó là lần cuối cùng tôi khóc khi chia tay một lớp học, tôi nghĩ rồi đây những tình cảm trong sáng ấy khó mà lại có được. Nhưng không, khi chia tay ISP 20 tôi nhận ra tôi lúc nào cũng là một cậu nhóc mau nước mắt mà thôi. Ngày cô Akemi rời Kyoto, tôi cũng đã khóc suốt đường về, một mình. Những tháng ngày ISP là những tháng ngày tươi đẹp trong cuộc đời tôi. Cảm nhận đó cũng giống như cảm nhận của tất cả ISPer mà tôi được biết. Ngay cả bây giờ, dù đã ở khắp mọi phương trời, chúng tôi vẫn giữ liên lạc với nhau. 

    Con đường triết học, Kyoto

    Chúng tôi học ngữ pháp và ngữ âm trong một vài tháng đầu, sau đó là luyện thi, cho đến lúc phải đạt C1 CEF để được tốt nghiệp. 

    Có nhiều lớp như lớp của chúng tôi. Tôi nhớ đã học ngữ âm với cô Mai, người Việt, ở lớp tôi, và cô April, người Mỹ, ở lớp của bạn tôi, vì buổi đó tôi trống lịch và tôi đặc biệt quan tâm đến ngữ âm. Có một điều thú vị là thường cô April chấp nhận phát âm của tôi, còn cô Mai thì hay bắt tôi phải nói đi nói lại. Có lẽ tiêu chuẩn của hai người khác nhau. Cô April thì chỉ cần nói để cô hiểu là được, còn cô Mai cần chúng tôi nói giống với những gì mà cô nghe người bản xứ nói, BrE hoặc NAmE. Tôi cảm thấy rất may mắn vì đã có cơ hội học ngữ âm với cả giáo viên người Việt và người Mỹ. Cô April giúp tôi xác nhận là tôi nói người bản xứ có hiểu không, còn cô Mai thực sự dạy chúng tôi nhiều lý thuyết và cách thực hành, với kinh nghiệm của một người không nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ. Tôi vẫn còn nhớ cô nói với chúng tôi, ngữ âm quan trọng, bởi vì khi chúng ta không nói đúng thì chúng ta cũng không nghe được. Tôi cũng nhớ đã tập nói đến đau cả miệng mà vẫn thấy vui, vì đang đi theo đúng con đường mà cô nói: để phát âm một số âm tiếng Anh, cần dùng đến những cơ chúng ta không dùng khi phát âm tiếng Việt, nên nếu chưa đau có nghĩa là chưa phát âm đúng. Tôi đã mất ba tháng trước khi có thể phát âm được chữ /æ/. Lần đầu khi tôi nhận ra tôi đã có thể phát âm được âm đó, tôi đang nằm trong phòng thằng bạn. Đến giờ tôi vẫn có thể hình dung ra căn phòng lúc đó, nó đã trở thành một phần ký ức của tôi.

    Chúng tôi có giờ học nghe riêng, khác với ngữ pháp và ngữ âm bị bỏ khỏi chương trình khi bước vào luyện thi, giờ học nghe vẫn được giữ nguyên trong suốt cả năm. Đầu tiên chúng tôi đã dùng bộ Listen Carefully. Chắc mấy bạn trẻ bây giờ chẳng còn biết đó là sách nào nữa, nhưng dù các bạn không biết thì nó vẫn hay. Cô chủ nhiệm đã mua sách cho chúng tôi, hình như cô nói rằng cô có thể mua được rẻ hơn so với chúng tôi mua, và đã tặng chúng tôi mỗi đứa một cuốn. Tôi biết, lại là chuyện mà bạn không nghĩ sẽ xảy ra ở trường đại học.

    Lần đầu tiên tôi có thể nghe một chương trình hoàn toàn bằng tiếng Anh là một gameshow hỏi đáp cho thiếu niên trên kênh ABC, sau không biết bao nhiêu đêm để cái TV ở kênh CNN và cho nó thích nói gì thì nói, còn tôi đi ngủ. Nếu bạn chưa nghe được tiếng Anh, hãy cứ luyện tập, rồi một ngày, điều kỳ diệu sẽ xảy ra, tự nhiên bạn thấy từ ngữ cứ đi thẳng vào đầu mình, chứ không chỉ vào tai rồi dừng lại. Có thể bạn sẽ sung sướng đến mức thiếu chút nữa thì òa khóc, như tôi đã từng.

    Tôi đã viết những điều tôi học được về tiếng Anh vào những quyển vở dày 300 trang. Tôi thường vẽ linh tinh, dùng bút đánh dấu, và để khoảng trống lớn giữa các nội dung. Tôi đọc lại và viết thêm vào quyển vở mỗi ngày. Nếu khi đọc lại có gì hay hay tôi nhớ ra hoặc vừa tra cứu thêm được, như là một cách dùng mới tôi chưa biết, một mối liên hệ với các từ hay cụm từ khác, hay một kỷ niệm tôi có với nội dung ấy, tôi sẽ viết hay vẽ vào các khoảng trống. Có vẻ tôi đã đối xử với những quyển vở đó như là thể hiện của “tôi học,” còn những quyển vở khác là “tôi được dạy.” Tôi nghĩ mình đã tiến không nhanh, nhưng chắc chắn. Một năm ISP tôi đã viết kín hai quyển vở như thế, đối với tôi đó đã là cách học hiệu quả nhất.

    Thời gian đó, tôi hỏi rất nhiều. Tôi đọc, và mỗi khi thấy gì không hiểu tôi ghi lại hoặc đánh dấu trang sách rồi hỏi các thầy cô hoặc anh chị ở trường. Tôi có hai chị tutor là sinh viên năm ba, hai chị ấy dễ thương và giỏi. Tôi cũng thỉnh thoảng hỏi mấy anh chị ở EC, các anh chị ấy cũng lại giỏi. Nhiều anh chị hiện giờ đang là giảng viên tiếng Anh ở ULIS, một trường khác, hay ở nước ngoài. Hồi đó tôi ở cùng nhà với một cô ngày xưa cũng từng học ULIS, cô có lần bảo đề tiếng Anh đại học khó được điểm tối đa chỉ vì người ta hay thêm vào những câu trăm năm mới có một lần. Tôi hay hỏi những câu kiểu đó. Có lần cô giáo người Mỹ của chúng tôi băn khoăn đến nỗi hỏi tôi lấy câu vừa hỏi từ đâu, và chỉ thấy ổn khi tôi chỉ ra câu đó trong sách của Azar Betty. Về chuyện ấy, chính vì hỏi nhiều mà tôi có cái kinh nghiệm là những thứ bạn thấy sai sai, có thể là sai thật, hoặc là ngữ pháp cao cấp. Chẳng hạn, “some of the book,” “persons,” “I do want …,” “I was being …,” “He didn’t do nothing,” “I am missing …,” etc. là những thứ đúng, mà khi mới vào đại học tôi không biết có, hoặc nghĩ là sai.

    Có lần tôi và Veselin (lúc này học cùng trường với tôi, nhưng khác chương trình) cùng đến nghe một bác mới ở Harvard sang nói chuyện. Có nhiều anh chị ở EC ULIS cũng tới. Khi nghe tôi hỏi một chị ở EC, Veselin đã nói: “Cứ thế này tiếng Anh của Hidetaka (not my real name) sẽ vượt tớ mất thôi. Tớ phải cố gắng hơn mới được.” Về tiếng Anh, tôi đã luôn cảm thấy không bằng Veselin, người đã ở nhóm 1 🙂 , yêu thích và có nhiều điều kiện tiếp xúc với tiếng Anh, lúc đó đã sắp trở thành chủ tịch CLB tiếng Anh trường thành viên của chúng tôi. Nhưng vào thời điểm đó tôi đã từ lâu không còn so sánh với Veselin nữa. Khi bạn vượt qua một ngưỡng nào đó, ý nghĩa của nhiều thứ sẽ thay đổi. Vì những kinh nghiệm khi học tiếng Anh, giờ thậm chí khi học một ngôn ngữ mới tôi cũng không lấy người bản xứ làm một thước đo nữa.

    Trong một năm ngắn ngủi ở ULIS, tôi nghĩ tiếng Anh của tôi đã tiến rất xa. Tôi còn nhớ những lần tôi đã nghe cô chủ nhiệm, để rồi giữa chừng nhận ra cô đang không nói tiếng Việt. Tôi hoàn thành tốt chương trình và vượt yêu cầu đầu ra về tiếng Anh cho ngành Sư phạm tiếng Anh của ULIS trong kỳ thi cuối cùng, dù bản thân là sinh viên kỹ thuật.

    Kể từ khi vào đại học, tôi đọc nhiều nhưng đọc tiếng Việt rất ít. Nguồn văn bản tiếng Việt lớn nhất có lẽ là email. Từ khi bắt đầu lên lab làm nghiên cứu cho đến khi rời trường lúc là một research assistant, tôi đã đọc rất nhiều bài báo khoa học bằng tiếng Anh. Tôi cũng cân nhắc sang Mỹ, nếu có cơ hội, nên học GRE để chuẩn bị, và đọc cả sách GMAT cho vui. Ở một thời điểm, tôi nhận ra là nhiều người bản xứ viết không hay lắm, nên nếu không muốn nạp rác vào trong lúc học thì phải cất công tìm một chút. Tôi theo dõi một vài người trên Quora (thường là giáo sư hoặc người có nhiều năm kinh nghiệm trong vài ngành tôi quan tâm), đọc Op Ed trên The New York Times, và Opinion của US Supreme Court, dù ủng hộ Plain English. Tôi đọc thấy các thẩm phán diễn đạt ý kiến của họ bằng một thứ tiếng Anh mẫu mực và sang trọng, không phải kiểu đưa từ hoa mỹ vào để làm màu, và muốn cũng nói được như vậy. Không thể tìm được nguồn để đọc những ý kiến đó, tôi chấp nhận đọc Opinion, chắc được viết bởi các clerk, dù sao cũng vẫn là một thứ tiếng Anh tốt. 

    Như vậy, trong một vài năm, tôi đã đọc, với một niềm yêu thích, ngày này qua ngày khác, những thứ mà không phải người bản xứ nào cũng đọc được. Và tôi nghĩ mình đọc tiếng Anh nhanh hơn số đông người bản xứ.

    Bây giờ, để không hiểu tiếng Anh, với tôi cũng khó như không hiểu tiếng Việt. Tức là nếu họ nói giọng như giọng Quảng, thì tôi chỉ hiểu mờ mờ, ngoài ra thì không có vấn đề. Tôi từng nói chuyện với một giáo ở Penang, người có giọng tiếng Anh khó nghe nhất mà tôi biết, và vẫn có thể hiểu nhau. Tôi hoàn toàn không có khó khăn khi nói chuyện với người từ Ấn Độ, Nhật, Trung Quốc, hoặc các đảo ở Châu Đại dương, những vùng mà hay bị cho là có accent đặc trưng.

    Từ một tổ hợp công nghiệp ở Yatsuomachi, Toyama

    Đến cuối cùng, tôi muốn nói hai điều. 

    Đầu tiên, tôi có chút hối hận vì khi còn học đại học đã học tiếng Anh quá nhiều. Tôi đã có thể lựa chọn, hoặc là ở trong nhóm những người có chuyên môn tốt nhất trong số những người có tiếng Anh đủ dùng, hoặc là ở trong nhóm những người có tiếng Anh tốt nhất trong số những người có chuyên môn tàm tạm. Vô tình hay cố ý, tôi đã chọn cái thứ hai. Tiếng Anh có thể học lúc nào cũng được, còn chuyên môn thì tốt nhất nên học khi bạn còn ở cạnh những người giỏi nhất và có môi trường thuận lợi cho việc học. Kể cả môi trường khi làm việc có thuận lợi, thì cái gì biết sớm cũng vẫn tốt hơn. Khi tôi còn ở ULIS, một người anh mà tôi kính trọng đã nói rằng thật tốt vì không chọn chuyên ngành là tiếng Anh, nó chỉ nên là công cụ thôi. Tôi đã không suy nghĩ đủ kỹ về lời của anh. Bây giờ, tôi gần như không có khả năng trả lời sai câu hỏi đọc hay nghe ở những kỳ thi tiếng Anh phổ biến, ngay cả khi không chắc chắn thì trực giác của tôi vẫn đúng. Nhưng ai cần chúng ta biết đến mức đó? Người ta đâu có kỳ vọng ta giống, hay giỏi hơn người bản xứ. Trừ những công việc mà chuyên môn là tiếng Anh, vượt qua một ngưỡng nào đó thì giỏi tiếng Anh cũng không thay đổi gì nhiều. Giỏi chuyên môn của mình là một chuyện khác. Càng giỏi bạn càng có thể làm việc hiệu quả hơn, càng nhanh chạm đến giấc mơ của mình hơn, và càng hạnh phúc hơn. 

    Thứ hai, bí quyết học tiếng Anh là gì? Trong nhiều bí quyết mà ai google cũng thấy thì quan trọng nhất, theo tôi, là sự kiên trì và bền bỉ. Nếu bạn giỏi việc gì đó hơn ai khác, có khi chẳng phải vì bạn có tố chất, mà chỉ là vì một sự tình cờ của số phận đã đưa đẩy để bạn có thể dành nhiều thời gian cho việc đó hơn người khác. Ngay cả khi bạn chẳng có đam mê gì, nếu bạn chăm chỉ mỗi ngày, thì giỏi lên là một kết cục không thể tránh khỏi. Đó là quy luật tự nhiên. Một cây con nếu được tưới nước và chăm bón mỗi ngày, nó sẽ lớn lên dù nó có muốn hay không. Cây đại thụ mà bạn chiêm ngưỡng hôm nay, nó đã từng là một hạt mầm, chỉ là một hạt mầm đã bền bỉ mỗi ngày lớn lên từng chút một, chẳng có gì kỳ diệu cả. Không cần những liều thuốc tăng trưởng hay ứng dụng công nghệ sinh học gì gì đó, cái cây vẫn lớn. Vấn đề lớn nhất với chúng ta có lẽ là, không như con người, cái cây luôn có thể vượt qua trì hoãn để bắt đầu, và nó không sợ tốn thời gian. Kiên trì thường đi đôi với tốn thời gian, cũng như nó thường đi đôi với thành công. Ai cũng muốn sớm thành công, nhưng chúng ta không thể đốt cháy giai đoạn. Ở đây thời gian giống như cái giá mà bạn phải trả nếu bạn muốn có một thứ tốt đẹp. Nếu có ai muốn giỏi lên qua một đêm (hay qua 180 đêm thì cũng vậy thôi, chúng ta cần hàng ngàn), thì có nghĩa là họ không muốn trả giá. Những thứ tốt đẹp thì không miễn phí, dù bạn có nhìn ra cách trả hay không. Tôi nghĩ nguyên nhân quan trọng nhất khiến nhiều người, dù được nghe biết bao lời hay ý đẹp, được học thầy giỏi, đến trung tâm tốt, mà không đi đến đâu cả, là vì họ không thể kiên trì. Phương pháp tốt đến đâu cũng không thể có kết quả nếu nó không được áp dụng, chuyện đơn giản thế mà đau lòng thay vẫn có người không hiểu.

    Cảm ơn bạn đã đọc đến đây. Chúc bạn một ngày tốt lành!

    thái

    Trong mùa của lệnh cách ly, các bạn có thời gian để làm nhiều việc. Nếu bạn chưa tìm ra được việc mình muốn đầu tư thời gian một cách nghiêm túc, thì tôi tiến cử việc đọc. Chỗ tôi không có lệnh cách ly, tôi cũng không có nhiều thời gian, nhưng gần đây tôi có đọc được một vài bài viết thú vị trong series “Nhật ký trong nhà” trên blog của anh Dương Ngọc Thái và muốn giới thiệu nó đến những ai chưa biết.

    Các bạn có thể truy cập blog ở đây: https://vnhacker.blogspot.com/

    Anh Thái là chuyên gia bảo mật ở Google. Lý do mà blog có tên là hacker thì cũng đơn giản thôi. Hacker và chuyên gia bảo mật về cơ bản sở hữu những kỹ năng tương đồng, họ chỉ khác nhau ở mục đích mà họ sử dụng những kỹ năng ấy. Anh Thái từng học đại học ở VN, làm bảo mật, (và làm ca sỹ phòng trà, theo lời anh kể. Nhờ một bạn đọc blog mà tôi mới biết đó chỉ là một ví dụ về sự hài hước của anh.), sau đó sang Canada và giờ là một chuyên gia bảo mật có tên tuổi.

    Tôi đã theo dõi blog của anh từ khi nào không rõ nữa, bài cũ nhất tôi nhớ là về chính phủ Việt Nam và an ninh mạng. Chủ đề chính của các bài viết trên blog của anh là các vấn đề xã hội, sau đó mới tới công nghệ. Anh tự nói rằng mình có sở trường là chửi chính phủ, nhưng nếu thật sự đọc thì bạn sẽ thấy những góp ý của anh ấy thường mang tính xây dựng. Anh cũng viết về nhiều chủ đề khác. Các bài viết của anh có giọng văn hài hước và có nhiều thông tin giá trị. Đôi lúc bạn có thể thấy những bài học về nhân sinh trong đó. Chẳng hạn như trong bài viết kể về đám bạn tuổi thơ, anh có nói rằng may mắn thì làm ca sỹ, xui thì làm thằng Tư, một câu mà tôi nhớ mãi.

    Nếu đọc một bài mà không thấy hay, mong bạn hãy đọc thêm bài nữa. Nếu vẫn chưa thấy hay, hãy đọc thêm bài nữa. Nếu bạn đọc đến phát chán mà chưa thấy hay thì đành thôi vậy, blog đó không có cái may mắn và cái duyên được bạn đọc. Cá nhân tôi thì tin là những bài viết của anh Thái đều có giá trị, dù có những bài dễ đọc hơn những bài khác.

    Physics for Entertainment – more than a popular science book

    A must-read for any physics lover, especially those who are young and aspire to be a scientist.

    I have a lot of fond memories with this book. I first read it when I was at junior high school. The contents are really interesting, and the author is a true master of explaining things. I remember back then I had a close friend, who also loved math and physics so badly. I would read the book and days later discuss with him what I read. We spent a lot of time to dive into those topics and see ourselves grow over the course of those discussions.

    Perelman is a master of writing general science for the public. In this book, he posed intriguing questions, showed how our common sense may deceive us, and help us to gradually build a strong foundation of physics as well as critical thinking.

    Hình minh họa trong cuốn sách
    (Tên tiếng Việt: Vật lý vui)

    At 14, I was admitted to my country’s most prestigious specialized school of physics for high school students. I think it was partly thanks to this book. Later, I learned that many of my classmates are also Perelman’s readers. In one account, even the prominent physics professor Dam Thanh Son, the 19th person to hold the University Professorship at University of Chicago, revealed that this book was among the ones that raised the love for physics in him.

    Fun fact: Grigori Perelman, the mathematician who famously decline Fields Medal, probably started his scientific career with books like this one. Here is an excerpt from book description on Amazon.com: “Physics for Entertainment was translated from Russian into many languages and influenced science students around the world. Among them was Grigori Yakovlevich Perelman, the Russian mathematician (unrelated to the author), who solved the Poincaré conjecture, and who was awarded and rejected the Fields Medal. Grigori’s father, an electrical engineer, gave him Physics for Entertainment to encourage his son’s interest in mathematics.”

    So, if you want to have some good time with physics, just for entertainment, this book is highly recommended. If you know some young fellows (grade-school pupils, maybe 🙂 ) who may consider a career in physics, this book is even more highly recommended. It is the best book I’ve ever known, to foster a love for physics in its readers.

    Ước mơ của bạn nhất định thành hiện thực – Inamori Kazuo

    Mình đọc cuốn sách này thời còn học đại học, và đến giờ vẫn thường giới thiệu nó với bạn bè và các em đi sau.

    Cuốn sách giống như hồi ký của Inamori, từ thời thơ ấu cho đến khi đứng đầu cả một đế chế với Kyocera, KDDI, và cả những tập đoàn khổng lồ mà ông không phải là người xây dựng, như JAL. Trong hành trình ấy, Inamori đã gặp những khó khăn như thế nào; trong những thời điểm khó khăn, ông đã nghĩ những gì; điều gì làm ông vượt qua được tất cả để rồi không những thành công trong sự nghiệp mà còn có được sự bình an trong tâm hồn, tất cả đều được trình bày trong cuốn sách này.

    Giống như những cuốn hồi ký khác, cuốn sách này cho bạn một cái nhìn về bối cảnh lịch sử thời kỳ mà tác giả sống và cho bạn biết những điều tác giả đã suy nghĩ. Đọc hồi ký có thể khiến bạn được sống trong một thời kỳ khác, được nói chuyện và học hỏi từ một bậc tiền bối. Đó là lý do mà hồi ký là một trong số những thể loại mình yêu thích nhất.

    Vậy thì cuốn sách này khác những cuốn hồi ký khác ở điểm gì? Tại sao bạn nên đọc nó?

    Đó là tư tưởng và triết lý sống của tác giả. Đây giống như một cuốn sách về tư tưởng hơn là hồi ký của một doanh nhân. Xuyên suốt trong cuốn sách, tác giả sẽ giải thích cho bạn, một người có thái độ tốt và niềm tin đúng đắn thì sẽ vượt qua mọi trở ngại và thành công như thế nào.

    Nếu bạn chưa biết, Inamori Kazuo là một Phật tử và đã từng có thời gian sống trong một thiền viện. Vâng, người đứng đằng sau sự trỗi dậy của Kyocera và sự hồi sinh của JAL là một Phật tử. Tư tưởng về sự tử tế, lòng tốt, và tinh tấn thấm nhuần từng trong từng hành động của ông, dù ông không gọi tên chúng như vậy. Đâu đó người ta nói rằng kinh doanh thì phải khôn khéo, đến mức đôi khi ta không cần trung thực. Người Việt thậm chí có từ “gian thương,” đã “thương” thì thường “gian.” Nhưng có phải như vậy không? Cuốn sách này sẽ cho bạn thấy người ta có thể tiến xa đến thế nào nếu giữ một thái độ tốt, luôn luôn cố gắng và nghĩ về người khác. Mình rất mong có nhiều người biết đến cuốn sách này.


    Tài liệu liên quan
    Cuốn sách này nói nhiều về triết lý của Inamori. Nếu bạn là một nhà quản trị và muốn biết những triết lý đó biến thành phương châm quản lý cụ thể như thế nào, bạn có thể tìm đọc “Amoeba Management,” một cuốn sách cũng của tác giả Inamori.

    Năm 2015, Inamori có một bài giảng ở Ritsumekan, nói về phương châm vị tha trong kinh doanh, là một trong những kim chỉ nam cho đế chế của ông, bạn có thể tìm đọc ở đây.

    Nếu bạn quan tâm đến luật nhân quả, và các tư tưởng triết học khác sẽ được trình bày trong cuốn sách này, bạn có thể tìm đọc “Liễu Phàm tứ huấn” của Viên Liễu Phàm và “Chân tướng cuộc đời” (Seicho no ie) của Masaharu Taniguchi. Nếu bạn không thể tìm được “Liễu Phàm tứ huấn,” mình có thể gửi bản PDF. “Chân tướng cuộc đời” là sách nhưng đã xuất bản quá lâu, mình không tìm được nhưng thấy có tạp chí online.

    Ngoài ra, nếu bạn yêu thích Inamori, tìm đọc các sách khác, ví dụ như “Cách sống,” có thể sẽ cho bạn một cái nhìn sâu sắc hơn về tư tưởng của ông.

    Happy reading!

    Một số từ tiếng Việt

    Có một số từ trong tiếng Việt không được thông dụng lắm, hoặc thường được dùng không đúng. Những từ này có thể sẽ ngày càng hiếm gặp và biến mất, hoặc phổ biến hơn và không ai phải tra cứu khi gặp chúng nữa. Danh sách dưới đây là những từ mình nhớ ra được, sẽ cập nhật thêm trong vòng vài tháng tới. Mong là giúp các bạn giảm thời gian tra từ điển khi đọc sách 🙂



    Từ

    Ví dụ, ghi chú

    Ngõ hầu: Rồi ra mới có thể.

    Có kháng chiến ngõ hầu mới giành được độc lập.

    Vị tất: Chắc gì; chưa chắc.

    Vị tất anh ta đã tin.

    Tục huyền: Lấy vợ khác, sau khi vợ trước chết.

    Rất nhiều người không phân biệt được tái giá và tục huyền. Tái giá chỉ dùng cho phụ nữ, tục huyền chỉ dùng cho đàn ông.

    Tu mi: mày râu, chỉ người đàn ông.

    Thường gặp: “đấng mày râu,” “trang tu mi nam tử.”

    Thảy: tất thảy, hết thảy, tất cả

    (từ ít dùng)

    (…) thế rồi tôi trở về nhà, lẩn thẩn như một thằng say rượu, lòng còn say sưa với hết thảy cái gì là không thực ở đời (Nguyễn Tuân).

    Cứu cánh: Mục đích cuối cùng

    nghệ thuật là phương tiện, không phải là cứu cánh.

    Yếu điểm: (H. yếu: quan trọng; điểm: nơi) Chỗ quan trọng

    Chí Linh là một yếu điểm về quân sự (Chớ lầm yếu điểm với điểm yếu tức là nhược điểm).

    Tham quan: Xem xét một nơi nào

    Đi tham quan khu gang thép. (thường hay bị viết sai chính tả thành “thăm quan“)

    Khuyến mãi: Kích thích việc mua (mãi: 買)

    Hàng khuyến mãi. (Lưu ý: Không có từ “khuyến mại,” đó chỉ là cách dùng sai từ “khuyến mãi.”)

    (…) từ tối đến giờ ngồi nói với nhau đủ mọi thứ chuyện, tựu trung vẫn là chuyện chính trị (Nguyễn Khải)

     Lưu manh nói chung đều ngoan cố, tựu trung cũng có đứa giáo dục được.

    Vô hình trung: tuy không chủ ý, chủ tâm nhưng tự nhiên lại là như thế [tạo ra, gây ra việc nói đến]

    Cách tính gộp vô hình trung gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

    Sáp nhập: nhập vào với nhau làm một

    Sáp nhập ba xã làm một.

    Phong thanh: đồn đại, chưa có gì thật chính xác.

    Nghe phong thanh anh sắp lấy vợ. (Có khi bị nhầm với “phong phanh.”)

    Bàng quan: Làm ngơ, đứng ngoài cuộc, coi như không dính líu gì đến mình

     thái độ bàng quan; bàng quan với mọi việc chung quanh.

    Thường hay bị nhầm với bàng quang: túi chứa nước tiểu từ thận tiết ra (bọng đái; bong bóng).


    Trong những từ ở trên, có những từ ít gặp, ví dụ như “ngõ hầu” hay “vị tất”; cũng có những từ hay gặp nhưng hay bị dùng sai, ví dụ như “cứu cánh”; có nhiều từ thì thường bị viết sai chính tả, ví dụ như “vô hình trung.”

    Chúng ta biết rằng ý nghĩa của từ ngữ có thể thay đổi theo thời gian. Những từ có ý nghĩa hiện tại khác với nghĩa nguyên gốc không được liệt kê ở đây. Ví dụ quan ngại vốn là danh từ có nghĩa là vật cản trở, ngày nay nó có nghĩa là quan tâm và lo ngại. Tuy nhiên mình không xếp nó vào những từ bị dùng sai, vì nghĩa của nó đã thay đổi.

    Những từ được liệt kê ra ở trên nghĩa chưa bị thay đổi, và được viết đúng chính tả. Nếu bạn đọc được bài báo nào viết những từ đó với nghĩa khác hoặc chính tả khác, thì 99% là tác giả bài báo viết sai. Tồn tại 1% còn lại là do mình có niềm tin rằng trên đời này không có thứ gì chắc chắn cả.

    Nếu trên đời có một triệu người và một ngàn người trong số đó viết sai, ta nói một ngàn người ấy viết sai. Tuy nhiên nếu một trăm năm sau chỉ có một ngàn người viết đúng và gần một triệu người còn lại viết sai, thì những người đúng hóa ra lại trở thành sai. Đó là một nghịch lý về sự biến chuyển của ngôn ngữ. Ngày nay, cái đúng vẫn còn đang đúng, nhưng một số người mang danh nhà báo hoặc nhà văn lại đang đi theo cái sai.

    Mình sợ rằng một trăm năm nữa khi cái sai trở thành cái đúng, những người nghiên cứu ngôn ngữ chân chính lại phải mệt mỏi giải thích tại sao lẽ ra từ nào đó phải có nghĩa này hay phải được viết thế này, mà nay lại mang nghĩa khác và được viết khác. Để tránh hoặc kéo dài thời gian đến cái ngày không mấy vui vẻ đó, chúng ta rất cần những người viết có lương tâm và đạo đức. Với nghề viết, học hành nghiêm chỉnh có lẽ nên được công nhận là một nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp căn bản. Chúng ta tất nhiên nghĩ đó là hiển nhiên, nhưng một số người làm nghề thì không có đủ trí tuệ và lương tâm để nhận ra điều hiển nhiên đó, nên có lẽ nó phải được phát biểu rõ ràng để người ta có thể nghe.


    Các từ điển dùng để tham khảo trong bài viết này:

    Từ điển Hồ Ngọc Đức

    Từ điển Lạc Việt

    Từ điển VLSP

    Từ điển Hán Nôm


    Bài viết tham khảo:


    Chuyện cái dấu

    Phạm Chu Sa

    (Available here)

    (PL)- Không phải chuyện cái dấu mộc “đóng nhầm chỗ” gây hại ra sao qua các vụ án bị phanh phui. Ở đây là sự đặt nhầm dấu chữ – tuy không gây nguy hiểm đến tính mệnh, tài sản nhưng đó có thể là nguy cơ dẫn đến sự “rối loạn tri thức” ở lớp hậu học.

    Một đứa cháu tôi học lớp 11 đem khoe tôi bài làm văn của nó được 8,5 điểm. Đọc thấy có mấy chữ mãi quốc cầu vinh nhưng cô giáo không sửa, có lẽ cô cũng không thông!

    Mãi và mại

    Thành ngữ này viết đúng phải là mại quốc cầu vinh (bán nước cầu vinh), vì mại là bán, còn mãi là mua. Không ai đi mua nước cầu vinh! Cũng như người ta nói gái mại dâm (gái bán dâm) chứ không nói gái mãi dâm; hoặc khuyến mãi chứ không phải khuyến mại. Sẵn dịp, tôi nói thêm về những nhầm lẫn dấu tương tự, chẳng hạn nói bệnh mạn tính (là bệnh đến từ từ, kéo dài lâu năm, rất khó chữa trị) chứ không nói bệnh mãn tính như trên nhiều báo, đài vẫn viết và nói! Cháu tôi không tranh cãi, chỉ nhíu mày nghĩ ngợi hồi lâu rồi chợt reo lên: “A, con hiểu rồi, từ Hán Việt dấu ngã và dấu nặng thường đồng nhất, tùy lúc và tùy thói quen mà người ta dùng khác nhau thôi. Nếu không tại sao nhà báo, nhà văn mà viết sai, lại nhiều người sai quá vậy”? Nó đi lục lọi mang vô số “bằng chứng” đến. Đặc biệt, ngay trên một tờ báo lớn có bài tựa là “Khuyến mại bán hàng, ai quản lý?”. Trong bài dùng ngót chục từ khuyến mại. Nhưng dẫu sao thì cũng đỡ hơn khi ghép chung khuyến mại bán hàng (khuyến khích bán… bán hàng) không hiểu nổi. “Nhà văn, nhà báo lẽ nào viết sai” hẳn là suy nghĩ của nhiều người. Nhất là các em học sinh cứ viết theo các bài báo đó thì không biết sau này sẽ ra sao.

    Chữ nghĩa tùy tiện

    Mà đâu phải chỉ có chuyện cái dấu, người ta vẫn thấy chữ nghĩa được sử dụng tùy tiện ở khắp nơi. Đó đã là chuyện “khổ lắm, nói mãi”. Cháu tôi từng cho rằng chỉ cần viết chữ đúng chính tả, còn nghĩa ai hiểu sao thì tùy người ta. Cơ sự này đành phải ngồi cắt nghĩa cho nó về ý nghĩa gốc của từ, rồi đến thói quen sử dụng dần dần thay đổi theo thời gian. Nó gục gặc đầu: “Ở trường, môn văn có phần ngữ pháp, phải chi có thêm tiết dạy ngữ nghĩa nữa thì hay biết mấy”.

    Sau khi nghe cháu tôi kể chuyện tôi giải thích ngữ nghĩa, các bạn cháu thường tìm đến tôi để hỏi về nghĩa của các từ thông dụng khi xảy ra cuộc tranh luận không có hồi kết – bởi vì đứa nào cũng có bằng chứng hẳn hoi rằng sách báo chỗ này chỗ này đã viết thế đấy thế đấy… Có một vụ điển hình: Nhóm của cháu tôi cho rằng phải viết là dầu hàu mới đúng, còn nhóm bạn nó thì trưng ra đủ loại nhãn của các nhà sản xuất đồng loạt in là dầu hào. Lý luận của nhóm này rất vững chắc không cãi vào đâu được, là từ nào tới giờ luôn viết là dầu hào, nếu sai thì người ta đã chỉnh sửa từ lâu rồi, bởi vì nhãn hiệu chính là bộ mặt của nhà sản xuất mà! “Còn hào là gì hả? Đó là một thứ nguyên liệu để ép ra dầu chứ còn gì nữa”. Phe cháu tôi phản pháo: “Rõ ràng trên nhãn có in ảnh con hàu, lật từ điển mà coi: Con hàu chứ không phải con hào”.

    Tôi bảo viết đúng phải là dầu hàu. Cũng như nhiều người Nam Bộ vẫn thường đọc và nói là các cháo nhưng khi viết vẫn viết là các cháu đấy thôi!


    10 cặp từ ai cũng dễ “lẫn lộn” trong Tiếng Việt

    VYKA, theo TRÍ THỨC TRẺ  (Available here)

    Dám cá rằng, bạn đã từng dùng sai rất nhiều lần khi dịch thuật sang tiếng Việt cũng như nói viết  hằng ngày mà không hề hay biết!

    Đi khắp Đông Tây, thật hiếm có ngôn ngữ nào chứa từ tượng hình và tượng thanh nhiều như Tiếng Việt. Tuy nhiên, dù Tiếng Việt đẹp bao nhiêu, dễ học, dễ nhớ bao nhiêu thì vẫn có không ít người Việt hay bị nhầm lẫn khi sử dụng hằng ngày, kể cả các chuyên gia biên dịch thường xuyên dịch thuật tài liệu từ các ngôn ngữ khác sang tiếng Việt.

    Hãy cùng xem 10 cặp từ ai cũng dễ “lẫn lộn” trong Tiếng Việt là gì và xem liệu bạn có thường xuyên dùng nhầm không nhé!

    1. “Chia sẻ” hay “chia xẻ”

    Hẳn nói đến cặp từ này, không ít bạn quả quyết “chia sẻ” mới là từ đúng bởi ít khi nhìn thấy ai dùng từ “chia xẻ” cả. Nhưng bạn có hay, hai từ này đều được sử dụng, mặc dù nghĩa của chúng có hơi khác nhau.

    Từ “chia sẻ”, “chia” có nghĩa là làm ra thành từng phần, từ một chỉnh thể; “sẻ” là chia bớt ra, lấy ra một phần. Do đó, “chia sẻ” có nghĩa là cùng chia với nhau để cùng hưởng, hoặc cùng chịu đựng. (ví dụ: Chia cơm sẻ áo, chia sẻ nỗi buồn).

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"


    “Chia xẻ” – “chia” vẫn có nghĩa là làm nhỏ ra thành từng phần từ một chỉnh thể, trong khi đó “xẻ” nghĩa là chia, bổ, cắt cho rời ra theo chiều dọc, không để dính liền nhau nữa, hay có nghĩa là đào cái gì cho thông, thoát (VD: xẻ rãnh thoát nước).

    Bởi vậy, có thể nói, hai từ “chia sẻ” và “chia xẻ” này cùng là động từ, có nghĩa gần giống nhau. Tuy nhiên, cách dùng các từ này lại khác nhau. Bạn nên chọn từ đúng trong mỗi trường hợp, chứ đừng cãi cố là không có từ “chia xẻ” nhé!

    2. “Giả thuyết” hay “giả thiết”

    Trời, từ này là cực hay nhầm lẫn luôn đó! Có người thì khăng khăng nói rằng, chỉ có “giả thuyết” mới đúng và dùng trong tất cả các trường hợp, người khác thì lại quả quyết – “giả thiết” mới thật chính xác. Và sự thật là… cả hai từ đều dùng được nhưng ở trong các trường hợp khác nhau.

    Cụ thể, “giả thuyết” được sử dụng trong trường hợp muốn nêu luận điểm mới trong khoa học để giải thích một hiện tượng tự nhiên nào đó và tạm được chấp nhận, chưa được kiểm nghiệm, kiểm chứng.

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"

    Dịch thuật sang tiếng Việt – 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ “lẫn lộn”

    Trong khi đó, “giả thiết” được dùng để chỉ điều cho trước trong một định lý hay một bài toán để căn cứ vào đó mà suy ra kết luận của định lý hay để giải bài toán.

    Một định nghĩa khác được đề cập trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê như sau: “giả thiết” – điều coi như là có thật, nêu ra làm căn cứ để phân tích, suy luận, giả định. Bởi vậy, hai từ “giả thiết” và “giả thuyết” đều đúng, chỉ là bạn nên chọn từ thật đúng trong mỗi trường hợp mà thôi.

    3. “Độc giả” hay “đọc giả”

    Cần chỉ rõ rằng, “độc giả” là từ Hán Việt gồm hai chữ gốc Hán. “Độc” mang ý nghĩa “đọc” hay “học” và “Giả” mang ý nghĩa “người”. Khi hai chữ đó được kết hợp với nhau, từ “độc giả” có nghĩa là “người đọc”.

    Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê xuất bản năm 2000, trang 336 cũng có định nghĩa từ “độc giả” – đó là người đọc sách báo, trong quan hệ với tác giả, nhà xuất bản, cơ quan báo chí, thư viện.

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"


    Trong khi đó, từ “đọc giả” được một số người sử dụng với nghĩa “người đọc” hay “bạn đọc”. Trong đó, “đọc” là một từ thuần Việt và “giả” là một chữ Hán Việt. Khi ghép hai từ này vào, ta sẽ nhận thấy một sự kết hợp không hợp lý.

    Bởi vậy có thể khẳng định rằng, “độc giả” mới là từ đúng.

    4. “Chín mùi” hay “chín muồi”

    Theo định nghĩa của Hoàng Phê – trong Từ điển Tiếng Việt 2000 (trang 161) có đề cập “chín muồi” là (quả cây) rất chín, đạt đến độ ngon nhất. Đạt đến độ phát triển đầy đủ nhất, để có thể chuyển giai đoạn hoặc trạng thái. (VD: Điều kiện để chín muồi).

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"


    Nhưng lại có rất ít từ điển đề cập đến từ “chín mùi”. Ngay cả từ điển của Nguyễn Kim Thản (2005) cũng chỉ nêu “chín muồi” là…. chín mùi như một cách nói tắt.

    Bởi vậy, có thể khẳng định, từ đúng ở đây phải là “chín muồi”.

    5. “Tựu chung” hay “tựu trung”

    Trường hợp đúng ở đây phải là “tựu trung”. Tuy nhiên, không ít người dùng “tựu chung” hàng ngày bởi họ cho rằng, nghĩa của “chung” trong “tựu chung” giống trong từ “chung quy”.

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"


    Thật ra, từ “tựu trung” – “tựu” có nghĩa là tới (tề tựu); trung: là ở giữa, trong, bên trong. “Tựu trung” có nghĩa là tóm lại, biểu thị điều sắp nêu ra là cái chung, cái chính trong những điều vừa nói đến. Ví dụ: Mỗi người nói một kiểu nhưng tựu trung đều tán thành cả.

    6. “Vô hình chung” hay “vô hình trung”

    Không ít người thường dùng từ “vô hình chung” thay cho từ “vô hình trung” bởi nghĩ từ “chung” có nghĩa là chung quy. Tuy nhiên, cách hiểu này không đúng.

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"

    Dịch thuật sang tiếng Việt – 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ “lẫn lộn”

    Theo nghĩa Hán Việt, “vô hình trung” có nghĩa là “trong cái vô hình”. Còn trong Từ điển Tiếng Việt có định nghĩa: “vô hình trung”: tuy không có chủ định, không cố ý nhưng tự nhiên lại là (tạo ra, gây ra việc nói đến). Ví dụ: “Anh không nói gì, vô hình trung đã làm hại nó”.

    Trong khi đó, không có từ điển nào đề cập đến định nghĩa của từ “vô hình chung” cả. Vì thế, “vô hình trung” là từ đúng; còn “vô hình chung” là sai.

    7. “Nhậm chức” hay “nhận chức”

    Theo nghĩa Hán Việt, “nhậm” trong từ “nhậm chức” là gánh vác công vụ, nhiệm vụ; “chức” là chức trách, việc quan, bổn phận. “Nhậm chức” là giữ chức vụ, gánh vác, đảm đương chức vụ do cấp trên giao cho, hiểu đơn giản, cấp trên bổ nhiệm, cấp dưới nhậm chức.

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"


    Trong khi đó, từ “nhận chức” trong nghĩa Hán Nôm thì “nhận” là tiếp đón, chịu lấy, lĩnh lấy; nên “nhận chức” là nhận chức vụ, nhưng không diễn tả được trách nhiệm với chức vụ đó. Theo nghĩa Hán, “nhận” là nhìn, biết, chịu, bằng lòng nên “nhận chức” không có nghĩa.

    Do đó, dù theo từ điển Hán Nôm, hay Hán Việt thì từ “nhận chức” đều không có nghĩa diễn tả được trách nhiệm đối với chức vụ. Do đó, từ đúng phải là “nhậm chức”.

    8. “Chẩn đoán” hay “chuẩn đoán”

    Bạn cho rằng, chẩn đoán và chuẩn đoán là giống nhau ư? Nhưng sự thật là, trong này chỉ có một từ đúng mà thôi.

    “Chẩn đoán” – “chẩn” có nghĩa là xác định, phân biệt dựa theo những triệu chứng, dấu hiệu có sẵn; “đoán” có nghĩa là dựa vào cái có sẵn, đã thấy, đã biết để tìm cách suy ra điều chủ yếu còn chưa rõ hoặc chưa xảy ra.

    Như vậy, “chẩn đoán” có nghĩa là xác định bệnh, dựa theo triệu chứng và kết quả xét nghiệm. VD: Chẩn đoán bệnh có đúng thì điều trị mới có hiệu quả.

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"


    Trong khi đó, “chuẩn” trong từ “chuẩn đoán” lại không hề mang nghĩa như vậy. Từ “chuẩn” chỉ có nghĩa là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, hướng theo đó mà làm đúng; hay là cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc theo thói quen trong xã hội mà thôi.

    Vì vậy, “chẩn đoán” mới là từ đúng.

    9. “Tham quan” hay “thăm quan”

    Nhiều người cho rằng, “tham quan” hay “thăm quan” giống nhau về nghĩa nên có thể sử dụng xen lẫn. Nhưng sự thật là chỉ có 1 từ đúng thôi – và đó là “tham quan”. Thử phân tách nghĩa các từ ra nhé!

    Từ “thăm quan” được gắn nghĩa từ “thăm” – đến nơi nào đó bày tỏ sự quan tâm, hỏi han (đi thăm người ốm) hay xem xét để biết tình hình (thăm trường, lớp)… với từ “quan” – quan sát.

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"


    Trong khi từ “tham quan” (động từ) – theo gốc Hán thì “tham” có nghĩa là thêm vào; “quan” là quan sát, nhìn nhận. Do đó, “tham quan” nghĩa là đi tận nơi để quan sát, mở rộng hiểu biết, học hỏi kinh nghiệm.

    Tuy nhiên, từ này đồng âm khác nghĩa với từ “tham quan” (danh từ) chỉ viên quan có tính tham lam. Bởi vậy, từ “tham quan” mới là từ chính xác.

    10. “Sát nhập” hay “sáp nhập”

    Nếu ai đó hỏi bạn từ “sát nhập” hay “sáp nhập” mới đúng. Bạn sẽ trả lời sao? Sự thật là gốc của 2 từ “sát nhập” và “sáp nhập” này bắt nguồn từ “sáp nhập” – một từ ngoại lai. Trong đó, “Sáp” có nghĩa là cắm vào, cài vào; còn “Nhập” nghĩa là vào, tham gia vào, đưa vào.

    Do vậy, “sáp nhập” là nhập chung lại, gộp chung lại làm một. (Ví dụ: Sáp nhập ba xã làm một/ Công ty A sáp nhập vào công ty B). Với từ “sát nhập”, từ “sát” là từ biến âm, biến thể dân gian của từ “sáp” mà ra. Từ “sát” trong tiếng Việt có nghĩa phái sinh từ từ “sáp”.

    Dịch thuật sang tiếng Việt - 10 từ tiếng Việt phổ biến nhưng rất dễ "lẫn lộn"


    Ngoài nghĩa gốc là cắm vào, cài vào thì còn có nghĩa là liền ngay bên cạnh, xích gần lại đến mức không còn khoảng cách. Đứng trên quan điểm đồng đại, nhiều người sử dụng hai từ “sáp nhập” và “sát nhập” y như nhau. Một vài cuốn từ điển tiếng Việt đề cập đồng thời hai từ “sáp nhập” và “sát nhập” với nghĩa tương tự nhau.

    Tuy nhiên, theo ý kiến của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận – Trưởng Bộ môn Hán Nôm Khoa Văn học và khoa Ngôn ngữ – trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn thì không nên sử dụng hai từ này giống nhau bởi nó không thật hợp lý.

    Từ “sát” – tức là cạnh đến mức không còn khoảng cách, còn “sáp” nghĩa là cắm vào, cài vào; nếu sử dụng chung, nghĩa gốc của từ “sáp” không còn, từ đó, nghĩa của từ đã bị thay đổi.


    You and Your Research – by Richard Hamming

    Trong những lúc không có động lực lắm, những lúc cảm thấy khó khăn, nhìn vào vấn đề của người khác là một cách tốt. Hoặc là chúng ta sẽ cảm thấy bản thân còn may mắn, hoặc là chúng ta sẽ cảm thấy vấn đề của mình, hoặc cả con đường của mình, đều nhỏ bé và nên hướng đến những thứ ý nghĩa hơn.

    Một ngày khi tôi gần như tuyệt vọng vì kết quả mô phỏng không hội tụ, tôi đã đọc được bài nói chuyện của Richard Hamming. Khi bạn chỉ cần có bài báo hoặc tốt nghiệp thôi, và bạn đọc về việc làm thế nào để tạo ra những nghiên cứu có thể thay đổi lịch sử loài người, những nghiên cứu mà thường thường sẽ được giải Nobel, tự nhiên bạn sẽ thấy chuyện bạn đang làm không đáng để phải đau đầu như vậy. Tôi đã đọc Richard Hamming, cảm thấy trong lòng thoải mái, tiếp tục làm việc, và giờ thì mọi chuyện cơ bản là tốt đẹp.

    Tất nhiên những gì tôi vừa nói không phải là cách tốt nhất để giới thiệu một bài nói chuyện. Đó chỉ đơn giản là những gì tôi đã trải qua. Nhưng bài nói chuyện của Richard Hamming thì thật sự có giá trị. Nếu bạn muốn làm những nghiên cứu như những người mà bạn thuộc tên qua những công thức đã làm, hay chỉ đơn giản là quan tâm đến nghiên cứu, thì bài nói chuyện dưới đây có thể sẽ rất có ích với bạn:



    You and Your Research

    Richard Hamming

    Transcription of the
    Bell Communications Research Colloquium Seminar
    7 March 1986

    J. F. Kaiser
    Bell Communications Research
    445 South Street
    Morristown, NJ 07962-1910
    jfk@bellcore.com

    At a seminar in the Bell Communications Research Colloquia Series, Dr. Richard W. Hamming, a Professor at the Naval Postgraduate School in Monterey, California and a retired Bell Labs scientist, gave a very interesting and stimulating talk, `You and Your Research’ to an overflow audience of some 200 Bellcore staff members and visitors at the Morris Research and Engineering Center on March 7, 1986. This talk centered on Hamming’s observations and research on the question “Why do so few scientists make significant contributions and so many are forgotten in the long run?” From his more than forty years of experience, thirty of which were at Bell Laboratories, he has made a number of direct observations, asked very pointed questions of scientists about what, how, and why they did things, studied the lives of great scientists and great contributions, and has done introspection and studied theories of creativity. The talk is about what he has learned in terms of the properties of the individual scientists, their abilities, traits, working habits, attitudes, and philosophy.

    In order to make the information in the talk more widely available, the tape recording that was made of that talk was carefully transcribed. This transcription includes the discussions which followed in the question and answer period. As with any talk, the transcribed version suffers from translation as all the inflections of voice and the gestures of the speaker are lost; one must listen to the tape recording to recapture that part of the presentation. While the recording of Richard Hamming’s talk was completely intelligible, that of some of the questioner’s remarks were not. Where the tape recording was not intelligible I have added in parentheses my impression of the questioner’s remarks. Where there was a question and I could identify the questioner, I have checked with each to ensure the accuracy of my interpretation of their remarks.

    INTRODUCTION OF DR. RICHARD W. HAMMING

    As a speaker in the Bell Communications Research Colloquium Series, Dr. Richard W. Hamming of the Naval Postgraduate School in Monterey, California, was introduced by Alan G. Chynoweth, Vice President, Applied Research, Bell Communications Research.

    Alan G. Chynoweth: Greetings colleagues, and also to many of our former colleagues from Bell Labs who, I understand, are here to be with us today on what I regard as a particularly felicitous occasion. It gives me very great pleasure indeed to introduce to you my old friend and colleague from many many years back, Richard Hamming, or Dick Hamming as he has always been know to all of us.

    Dick is one of the all time greats in the mathematics and computer science arenas, as I’m sure the audience here does not need reminding. He received his early education at the Universities of Chicago and Nebraska, and got his Ph.D. at Illinois; he then joined the Los Alamos project during the war. Afterwards, in 1946, he joined Bell Labs. And that is, of course, where I met Dick – when I joined Bell Labs in their physics research organization. In those days, we were in the habit of lunching together as a physics group, and for some reason this strange fellow from mathematics was always pleased to join us. We were always happy to have him with us because he brought so many unorthodox ideas and views. Those lunches were stimulating, I can assure you.

    While our professional paths have not been very close over the years, nevertheless I’ve always recognized Dick in the halls of Bell Labs and have always had tremendous admiration for what he was doing. I think the record speaks for itself. It is too long to go through all the details, but let me point out, for example, that he has written seven books and of those seven books which tell of various areas of mathematics and computers and coding and information theory, three are already well into their second edition. That is testimony indeed to the prolific output and the stature of Dick Hamming.

    I think I last met him – it must have been about ten years ago – at a rather curious little conference in Dublin, Ireland where we were both speakers. As always, he was tremendously entertaining. Just one more example of the provocative thoughts that he comes up with: I remember him saying, “There are wavelengths that people cannot see, there are sounds that people cannot hear, and maybe computers have thoughts that people cannot think.” Well, with Dick Hamming around, we don’t need a computer. I think that we are in for an extremely entertaining talk.

    THE TALK: “You and Your Research” by Dr. Richard W. Hamming

    It’s a pleasure to be here. I doubt if I can live up to the Introduction. The title of my talk is, “You and Your Research.” It is not about managing research, it is about how you individually do your research. I could give a talk on the other subject – but it’s not, it’s about you. I’m not talking about ordinary run-of-the-mill research; I’m talking about great research. And for the sake of describing great research I’ll occasionally say Nobel-Prize type of work. It doesn’t have to gain the Nobel Prize, but I mean those kinds of things which we perceive are significant things. Relativity, if you want, Shannon’s information theory, any number of outstanding theories – that’s the kind of thing I’m talking about.

    Now, how did I come to do this study? At Los Alamos I was brought in to run the computing machines which other people had got going, so those scientists and physicists could get back to business. I saw I was a stooge. I saw that although physically I was the same, they were different. And to put the thing bluntly, I was envious. I wanted to know why they were so different from me. I saw Feynman up close. I saw Fermi and Teller. I saw Oppenheimer. I saw Hans Bethe: he was my boss. I saw quite a few very capable people. I became very interested in the difference between those who do and those who might have done.

    When I came to Bell Labs, I came into a very productive department. Bode was the department head at the time; Shannon was there, and there were other people. I continued examining the questions, “Why?” and “What is the difference?” I continued subsequently by reading biographies, autobiographies, asking people questions such as: “How did you come to do this?” I tried to find out what are the differences. And that’s what this talk is about.

    Now, why is this talk important? I think it is important because, as far as I know, each of you has one life to live. Even if you believe in reincarnation it doesn’t do you any good from one life to the next! Why shouldn’t you do significant things in this one life, however you define significant? I’m not going to define it – you know what I mean. I will talk mainly about science because that is what I have studied. But so far as I know, and I’ve been told by others, much of what I say applies to many fields. Outstanding work is characterized very much the same way in most fields, but I will confine myself to science.

    In order to get at you individually, I must talk in the first person. I have to get you to drop modesty and say to yourself, “Yes, I would like to do first-class work.” Our society frowns on people who set out to do really good work. You’re not supposed to; luck is supposed to descend on you and you do great things by chance. Well, that’s a kind of dumb thing to say. I say, why shouldn’t you set out to do something significant. You don’t have to tell other people, but shouldn’t you say to yourself, “Yes, I would like to do something significant.”

    In order to get to the second stage, I have to drop modesty and talk in the first person about what I’ve seen, what I’ve done, and what I’ve heard. I’m going to talk about people, some of whom you know, and I trust that when we leave, you won’t quote me as saying some of the things I said.

    Let me start not logically, but psychologically. I find that the major objection is that people think great science is done by luck. It’s all a matter of luck. Well, consider Einstein. Note how many different things he did that were good. Was it all luck? Wasn’t it a little too repetitive? Consider Shannon. He didn’t do just information theory. Several years before, he did some other good things and some which are still locked up in the security of cryptography. He did many good things.

    You see again and again, that it is more than one thing from a good person. Once in a while a person does only one thing in his whole life, and we’ll talk about that later, but a lot of times there is repetition. I claim that luck will not cover everything. And I will cite Pasteur who said, “Luck favors the prepared mind.” And I think that says it the way I believe it. There is indeed an element of luck, and no, there isn’t. The prepared mind sooner or later finds something important and does it. So yes, it is luck. The particular thing you do is luck, but that you do something is not.

    For example, when I came to Bell Labs, I shared an office for a while with Shannon. At the same time he was doing information theory, I was doing coding theory. It is suspicious that the two of us did it at the same place and at the same time – it was in the atmosphere. And you can say, “Yes, it was luck.” On the other hand you can say, “But why of all the people in Bell Labs then were those the two who did it?” Yes, it is partly luck, and partly it is the prepared mind; but `partly’ is the other thing I’m going to talk about. So, although I’ll come back several more times to luck, I want to dispose of this matter of luck as being the sole criterion whether you do great work or not. I claim you have some, but not total, control over it. And I will quote, finally, Newton on the matter. Newton said, “If others would think as hard as I did, then they would get similar results.”

    One of the characteristics you see, and many people have it including great scientists, is that usually when they were young they had independent thoughts and had the courage to pursue them. For example, Einstein, somewhere around 12 or 14, asked himself the question, “What would a light wave look like if I went with the velocity of light to look at it?” Now he knew that electromagnetic theory says you cannot have a stationary local maximum. But if he moved along with the velocity of light, he would see a local maximum. He could see a contradiction at the age of 12, 14, or somewhere around there, that everything was not right and that the velocity of light had something peculiar. Is it luck that he finally created special relativity? Early on, he had laid down some of the pieces by thinking of the fragments. Now that’s the necessary but not sufficient condition. All of these items I will talk about are both luck and not luck.

    How about having lots of `brains?’ It sounds good. Most of you in this room probably have more than enough brains to do first-class work. But great work is something else than mere brains. Brains are measured in various ways. In mathematics, theoretical physics, astrophysics, typically brains correlates to a great extent with the ability to manipulate symbols. And so the typical IQ test is apt to score them fairly high. On the other hand, in other fields it is something different. For example, Bill Pfann, the fellow who did zone melting, came into my office one day. He had this idea dimly in his mind about what he wanted and he had some equations. It was pretty clear to me that this man didn’t know much mathematics and he wasn’t really articulate. His problem seemed interesting so I took it home and did a little work. I finally showed him how to run computers so he could compute his own answers. I gave him the power to compute. He went ahead, with negligible recognition from his own department, but ultimately he has collected all the prizes in the field. Once he got well started, his shyness, his awkwardness, his inarticulateness, fell away and he became much more productive in many other ways. Certainly he became much more articulate.

    And I can cite another person in the same way. I trust he isn’t in the audience, i.e. a fellow named Clogston. I met him when I was working on a problem with John Pierce’s group and I didn’t think he had much. I asked my friends who had been with him at school, “Was he like that in graduate school?” “Yes,” they replied. Well I would have fired the fellow, but J. R. Pierce was smart and kept him on. Clogston finally did the Clogston cable. After that there was a steady stream of good ideas. One success brought him confidence and courage.

    One of the characteristics of successful scientists is having courage. Once you get your courage up and believe that you can do important problems, then you can. If you think you can’t, almost surely you are not going to. Courage is one of the things that Shannon had supremely. You have only to think of his major theorem. He wants to create a method of coding, but he doesn’t know what to do so he makes a random code. Then he is stuck. And then he asks the impossible question, “What would the average random code do?” He then proves that the average code is arbitrarily good, and that therefore there must be at least one good code. Who but a man of infinite courage could have dared to think those thoughts? That is the characteristic of great scientists; they have courage. They will go forward under incredible circumstances; they think and continue to think.

    Age is another factor which the physicists particularly worry about. They always are saying that you have got to do it when you are young or you will never do it. Einstein did things very early, and all the quantum mechanic fellows were disgustingly young when they did their best work. Most mathematicians, theoretical physicists, and astrophysicists do what we consider their best work when they are young. It is not that they don’t do good work in their old age but what we value most is often what they did early. On the other hand, in music, politics and literature, often what we consider their best work was done late. I don’t know how whatever field you are in fits this scale, but age has some effect.

    But let me say why age seems to have the effect it does. In the first place if you do some good work you will find yourself on all kinds of committees and unable to do any more work. You may find yourself as I saw Brattain when he got a Nobel Prize. The day the prize was announced we all assembled in Arnold Auditorium; all three winners got up and made speeches. The third one, Brattain, practically with tears in his eyes, said, “I know about this Nobel-Prize effect and I am not going to let it affect me; I am going to remain good old Walter Brattain.” Well I said to myself, “That is nice.” But in a few weeks I saw it was affecting him. Now he could only work on great problems.

    When you are famous it is hard to work on small problems. This is what did Shannon in. After information theory, what do you do for an encore? The great scientists often make this error. They fail to continue to plant the little acorns from which the mighty oak trees grow. They try to get the big thing right off. And that isn’t the way things go. So that is another reason why you find that when you get early recognition it seems to sterilize you. In fact I will give you my favorite quotation of many years. The Institute for Advanced Study in Princeton, in my opinion, has ruined more good scientists than any institution has created, judged by what they did before they came and judged by what they did after. Not that they weren’t good afterwards, but they were superb before they got there and were only good afterwards.

    This brings up the subject, out of order perhaps, of working conditions. What most people think are the best working conditions, are not. Very clearly they are not because people are often most productive when working conditions are bad. One of the better times of the Cambridge Physical Laboratories was when they had practically shacks – they did some of the best physics ever.

    I give you a story from my own private life. Early on it became evident to me that Bell Laboratories was not going to give me the conventional acre of programming people to program computing machines in absolute binary. It was clear they weren’t going to. But that was the way everybody did it. I could go to the West Coast and get a job with the airplane companies without any trouble, but the exciting people were at Bell Labs and the fellows out there in the airplane companies were not. I thought for a long while about, “Did I want to go or not?” and I wondered how I could get the best of two possible worlds. I finally said to myself, “Hamming, you think the machines can do practically everything. Why can’t you make them write programs?” What appeared at first to me as a defect forced me into automatic programming very early. What appears to be a fault, often, by a change of viewpoint, turns out to be one of the greatest assets you can have. But you are not likely to think that when you first look the thing and say, “Gee, I’m never going to get enough programmers, so how can I ever do any great programming?”

    And there are many other stories of the same kind; Grace Hopper has similar ones. I think that if you look carefully you will see that often the great scientists, by turning the problem around a bit, changed a defect to an asset. For example, many scientists when they found they couldn’t do a problem finally began to study why not. They then turned it around the other way and said, “But of course, this is what it is” and got an important result. So ideal working conditions are very strange. The ones you want aren’t always the best ones for you.

    Now for the matter of drive. You observe that most great scientists have tremendous drive. I worked for ten years with John Tukey at Bell Labs. He had tremendous drive. One day about three or four years after I joined, I discovered that John Tukey was slightly younger than I was. John was a genius and I clearly was not. Well I went storming into Bode’s office and said, “How can anybody my age know as much as John Tukey does?” He leaned back in his chair, put his hands behind his head, grinned slightly, and said, “You would be surprised Hamming, how much you would know if you worked as hard as he did that many years.” I simply slunk out of the office!

    What Bode was saying was this: “Knowledge and productivity are like compound interest.” Given two people of approximately the same ability and one person who works ten percent more than the other, the latter will more than twice outproduce the former. The more you know, the more you learn; the more you learn, the more you can do; the more you can do, the more the opportunity – it is very much like compound interest. I don’t want to give you a rate, but it is a very high rate. Given two people with exactly the same ability, the one person who manages day in and day out to get in one more hour of thinking will be tremendously more productive over a lifetime. I took Bode’s remark to heart; I spent a good deal more of my time for some years trying to work a bit harder and I found, in fact, I could get more work done. I don’t like to say it in front of my wife, but I did sort of neglect her sometimes; I needed to study. You have to neglect things if you intend to get what you want done. There’s no question about this.

    On this matter of drive Edison says, “Genius is 99% perspiration and 1% inspiration.” He may have been exaggerating, but the idea is that solid work, steadily applied, gets you surprisingly far. The steady application of effort with a little bit more work, intelligently applied is what does it. That’s the trouble; drive, misapplied, doesn’t get you anywhere. I’ve often wondered why so many of my good friends at Bell Labs who worked as hard or harder than I did, didn’t have so much to show for it. The misapplication of effort is a very serious matter. Just hard work is not enough – it must be applied sensibly.

    There’s another trait on the side which I want to talk about; that trait is ambiguity. It took me a while to discover its importance. Most people like to believe something is or is not true. Great scientists tolerate ambiguity very well. They believe the theory enough to go ahead; they doubt it enough to notice the errors and faults so they can step forward and create the new replacement theory. If you believe too much you’ll never notice the flaws; if you doubt too much you won’t get started. It requires a lovely balance. But most great scientists are well aware of why their theories are true and they are also well aware of some slight misfits which don’t quite fit and they don’t forget it. Darwin writes in his autobiography that he found it necessary to write down every piece of evidence which appeared to contradict his beliefs because otherwise they would disappear from his mind. When you find apparent flaws you’ve got to be sensitive and keep track of those things, and keep an eye out for how they can be explained or how the theory can be changed to fit them. Those are often the great contributions. Great contributions are rarely done by adding another decimal place. It comes down to an emotional commitment. Most great scientists are completely committed to their problem. Those who don’t become committed seldom produce outstanding, first-class work.

    Now again, emotional commitment is not enough. It is a necessary condition apparently. And I think I can tell you the reason why. Everybody who has studied creativity is driven finally to saying, “creativity comes out of your subconscious.” Somehow, suddenly, there it is. It just appears. Well, we know very little about the subconscious; but one thing you are pretty well aware of is that your dreams also come out of your subconscious. And you’re aware your dreams are, to a fair extent, a reworking of the experiences of the day. If you are deeply immersed and committed to a topic, day after day after day, your subconscious has nothing to do but work on your problem. And so you wake up one morning, or on some afternoon, and there’s the answer. For those who don’t get committed to their current problem, the subconscious goofs off on other things and doesn’t produce the big result. So the way to manage yourself is that when you have a real important problem you don’t let anything else get the center of your attention – you keep your thoughts on the problem. Keep your subconscious starved so it has to work on your problem, so you can sleep peacefully and get the answer in the morning, free.

    Now Alan Chynoweth mentioned that I used to eat at the physics table. I had been eating with the mathematicians and I found out that I already knew a fair amount of mathematics; in fact, I wasn’t learning much. The physics table was, as he said, an exciting place, but I think he exaggerated on how much I contributed. It was very interesting to listen to Shockley, Brattain, Bardeen, J. B. Johnson, Ken McKay and other people, and I was learning a lot. But unfortunately a Nobel Prize came, and a promotion came, and what was left was the dregs. Nobody wanted what was left. Well, there was no use eating with them!

    Over on the other side of the dining hall was a chemistry table. I had worked with one of the fellows, Dave McCall; furthermore he was courting our secretary at the time. I went over and said, “Do you mind if I join you?” They can’t say no, so I started eating with them for a while. And I started asking, “What are the important problems of your field?” And after a week or so, “What important problems are you working on?” And after some more time I came in one day and said, “If what you are doing is not important, and if you don’t think it is going to lead to something important, why are you at Bell Labs working on it?” I wasn’t welcomed after that; I had to find somebody else to eat with! That was in the spring.

    In the fall, Dave McCall stopped me in the hall and said, “Hamming, that remark of yours got underneath my skin. I thought about it all summer, i.e. what were the important problems in my field. I haven’t changed my research,” he says, “but I think it was well worthwhile.” And I said, “Thank you Dave,” and went on. I noticed a couple of months later he was made the head of the department. I noticed the other day he was a Member of the National Academy of Engineering. I noticed he has succeeded. I have never heard the names of any of the other fellows at that table mentioned in science and scientific circles. They were unable to ask themselves, “What are the important problems in my field?”

    If you do not work on an important problem, it’s unlikely you’ll do important work. It’s perfectly obvious. Great scientists have thought through, in a careful way, a number of important problems in their field, and they keep an eye on wondering how to attack them. Let me warn you, `important problem’ must be phrased carefully. The three outstanding problems in physics, in a certain sense, were never worked on while I was at Bell Labs. By important I mean guaranteed a Nobel Prize and any sum of money you want to mention. We didn’t work on (1) time travel, (2) teleportation, and (3) antigravity. They are not important problems because we do not have an attack. It’s not the consequence that makes a problem important, it is that you have a reasonable attack. That is what makes a problem important. When I say that most scientists don’t work on important problems, I mean it in that sense. The average scientist, so far as I can make out, spends almost all his time working on problems which he believes will not be important and he also doesn’t believe that they will lead to important problems.

    I spoke earlier about planting acorns so that oaks will grow. You can’t always know exactly where to be, but you can keep active in places where something might happen. And even if you believe that great science is a matter of luck, you can stand on a mountain top where lightning strikes; you don’t have to hide in the valley where you’re safe. But the average scientist does routine safe work almost all the time and so he (or she) doesn’t produce much. It’s that simple. If you want to do great work, you clearly must work on important problems, and you should have an idea.

    Along those lines at some urging from John Tukey and others, I finally adopted what I called “Great Thoughts Time.” When I went to lunch Friday noon, I would only discuss great thoughts after that. By great thoughts I mean ones like: “What will be the role of computers in all of AT&T?”, “How will computers change science?” For example, I came up with the observation at that time that nine out of ten experiments were done in the lab and one in ten on the computer. I made a remark to the vice presidents one time, that it would be reversed, i.e. nine out of ten experiments would be done on the computer and one in ten in the lab. They knew I was a crazy mathematician and had no sense of reality. I knew they were wrong and they’ve been proved wrong while I have been proved right. They built laboratories when they didn’t need them. I saw that computers were transforming science because I spent a lot of time asking “What will be the impact of computers on science and how can I change it?” I asked myself, “How is it going to change Bell Labs?” I remarked one time, in the same address, that more than one-half of the people at Bell Labs will be interacting closely with computing machines before I leave. Well, you all have terminals now. I thought hard about where was my field going, where were the opportunities, and what were the important things to do. Let me go there so there is a chance I can do important things.

    Most great scientists know many important problems. They have something between 10 and 20 important problems for which they are looking for an attack. And when they see a new idea come up, one hears them say “Well that bears on this problem.” They drop all the other things and get after it. Now I can tell you a horror story that was told to me but I can’t vouch for the truth of it. I was sitting in an airport talking to a friend of mine from Los Alamos about how it was lucky that the fission experiment occurred over in Europe when it did because that got us working on the atomic bomb here in the US. He said “No; at Berkeley we had gathered a bunch of data; we didn’t get around to reducing it because we were building some more equipment, but if we had reduced that data we would have found fission.” They had it in their hands and they didn’t pursue it. They came in second!

    The great scientists, when an opportunity opens up, get after it and they pursue it. They drop all other things. They get rid of other things and they get after an idea because they had already thought the thing through. Their minds are prepared; they see the opportunity and they go after it. Now of course lots of times it doesn’t work out, but you don’t have to hit many of them to do some great science. It’s kind of easy. One of the chief tricks is to live a long time!

    Another trait, it took me a while to notice. I noticed the following facts about people who work with the door open or the door closed. I notice that if you have the door to your office closed, you get more work done today and tomorrow, and you are more productive than most. But 10 years later somehow you don’t know quite know what problems are worth working on; all the hard work you do is sort of tangential in importance. He who works with the door open gets all kinds of interruptions, but he also occasionally gets clues as to what the world is and what might be important. Now I cannot prove the cause and effect sequence because you might say, “The closed door is symbolic of a closed mind.” I don’t know. But I can say there is a pretty good correlation between those who work with the doors open and those who ultimately do important things, although people who work with doors closed often work harder. Somehow they seem to work on slightly the wrong thing – not much, but enough that they miss fame.

    I want to talk on another topic. It is based on the song which I think many of you know, “It ain’t what you do, it’s the way that you do it.” I’ll start with an example of my own. I was conned into doing on a digital computer, in the absolute binary days, a problem which the best analog computers couldn’t do. And I was getting an answer. When I thought carefully and said to myself, “You know, Hamming, you’re going to have to file a report on this military job; after you spend a lot of money you’re going to have to account for it and every analog installation is going to want the report to see if they can’t find flaws in it.” I was doing the required integration by a rather crummy method, to say the least, but I was getting the answer. And I realized that in truth the problem was not just to get the answer; it was to demonstrate for the first time, and beyond question, that I could beat the analog computer on its own ground with a digital machine. I reworked the method of solution, created a theory which was nice and elegant, and changed the way we computed the answer; the results were no different. The published report had an elegant method which was later known for years as “Hamming’s Method of Integrating Differential Equations.” It is somewhat obsolete now, but for a while it was a very good method. By changing the problem slightly, I did important work rather than trivial work.

    In the same way, when using the machine up in the attic in the early days, I was solving one problem after another after another; a fair number were successful and there were a few failures. I went home one Friday after finishing a problem, and curiously enough I wasn’t happy; I was depressed. I could see life being a long sequence of one problem after another after another. After quite a while of thinking I decided, “No, I should be in the mass production of a variable product. I should be concerned with all of next year’s problems, not just the one in front of my face.” By changing the question I still got the same kind of results or better, but I changed things and did important work. I attacked the major problem – How do I conquer machines and do all of next year’s problems when I don’t know what they are going to be? How do I prepare for it? How do I do this one so I’ll be on top of it? How do I obey Newton’s rule? He said, “If I have seen further than others, it is because I’ve stood on the shoulders of giants.” These days we stand on each other’s feet!

    You should do your job in such a fashion that others can build on top of it, so they will indeed say, “Yes, I’ve stood on so and so’s shoulders and I saw further.” The essence of science is cumulative. By changing a problem slightly you can often do great work rather than merely good work. Instead of attacking isolated problems, I made the resolution that I would never again solve an isolated problem except as characteristic of a class.

    Now if you are much of a mathematician you know that the effort to generalize often means that the solution is simple. Often by stopping and saying, “This is the problem he wants but this is characteristic of so and so. Yes, I can attack the whole class with a far superior method than the particular one because I was earlier embedded in needless detail.” The business of abstraction frequently makes things simple. Furthermore, I filed away the methods and prepared for the future problems.

    To end this part, I’ll remind you, “It is a poor workman who blames his tools – the good man gets on with the job, given what he’s got, and gets the best answer he can.” And I suggest that by altering the problem, by looking at the thing differently, you can make a great deal of difference in your final productivity because you can either do it in such a fashion that people can indeed build on what you’ve done, or you can do it in such a fashion that the next person has to essentially duplicate again what you’ve done. It isn’t just a matter of the job, it’s the way you write the report, the way you write the paper, the whole attitude. It’s just as easy to do a broad, general job as one very special case. And it’s much more satisfying and rewarding!

    I have now come down to a topic which is very distasteful; it is not sufficient to do a job, you have to sell it. `Selling’ to a scientist is an awkward thing to do. It’s very ugly; you shouldn’t have to do it. The world is supposed to be waiting, and when you do something great, they should rush out and welcome it. But the fact is everyone is busy with their own work. You must present it so well that they will set aside what they are doing, look at what you’ve done, read it, and come back and say, “Yes, that was good.” I suggest that when you open a journal, as you turn the pages, you ask why you read some articles and not others. You had better write your report so when it is published in the Physical Review, or wherever else you want it, as the readers are turning the pages they won’t just turn your pages but they will stop and read yours. If they don’t stop and read it, you won’t get credit.

    There are three things you have to do in selling. You have to learn to write clearly and well so that people will read it, you must learn to give reasonably formal talks, and you also must learn to give informal talks. We had a lot of so-called `back room scientists.’ In a conference, they would keep quiet. Three weeks later after a decision was made they filed a report saying why you should do so and so. Well, it was too late. They would not stand up right in the middle of a hot conference, in the middle of activity, and say, “We should do this for these reasons.” You need to master that form of communication as well as prepared speeches.

    When I first started, I got practically physically ill while giving a speech, and I was very, very nervous. I realized I either had to learn to give speeches smoothly or I would essentially partially cripple my whole career. The first time IBM asked me to give a speech in New York one evening, I decided I was going to give a really good speech, a speech that was wanted, not a technical one but a broad one, and at the end if they liked it, I’d quietly say, “Any time you want one I’ll come in and give you one.” As a result, I got a great deal of practice giving speeches to a limited audience and I got over being afraid. Furthermore, I could also then study what methods were effective and what were ineffective.

    While going to meetings I had already been studying why some papers are remembered and most are not. The technical person wants to give a highly limited technical talk. Most of the time the audience wants a broad general talk and wants much more survey and background than the speaker is willing to give. As a result, many talks are ineffective. The speaker names a topic and suddenly plunges into the details he’s solved. Few people in the audience may follow. You should paint a general picture to say why it’s important, and then slowly give a sketch of what was done. Then a larger number of people will say, “Yes, Joe has done that,” or “Mary has done that; I really see where it is; yes, Mary really gave a good talk; I understand what Mary has done.” The tendency is to give a highly restricted, safe talk; this is usually ineffective. Furthermore, many talks are filled with far too much information. So I say this idea of selling is obvious.

    Let me summarize. You’ve got to work on important problems. I deny that it is all luck, but I admit there is a fair element of luck. I subscribe to Pasteur’s “Luck favors the prepared mind.” I favor heavily what I did. Friday afternoons for years – great thoughts only – means that I committed 10% of my time trying to understand the bigger problems in the field, i.e. what was and what was not important. I found in the early days I had believed `this’ and yet had spent all week marching in `that’ direction. It was kind of foolish. If I really believe the action is over there, why do I march in this direction? I either had to change my goal or change what I did. So I changed something I did and I marched in the direction I thought was important. It’s that easy.

    Now you might tell me you haven’t got control over what you have to work on. Well, when you first begin, you may not. But once you’re moderately successful, there are more people asking for results than you can deliver and you have some power of choice, but not completely. I’ll tell you a story about that, and it bears on the subject of educating your boss. I had a boss named Schelkunoff; he was, and still is, a very good friend of mine. Some military person came to me and demanded some answers by Friday. Well, I had already dedicated my computing resources to reducing data on the fly for a group of scientists; I was knee deep in short, small, important problems. This military person wanted me to solve his problem by the end of the day on Friday. I said, “No, I’ll give it to you Monday. I can work on it over the weekend. I’m not going to do it now.” He goes down to my boss, Schelkunoff, and Schelkunoff says, “You must run this for him; he’s got to have it by Friday.” I tell him, “Why do I?”; he says, “You have to.” I said, “Fine, Sergei, but you’re sitting in your office Friday afternoon catching the late bus home to watch as this fellow walks out that door.” I gave the military person the answers late Friday afternoon. I then went to Schelkunoff’s office and sat down; as the man goes out I say, “You see Schelkunoff, this fellow has nothing under his arm; but I gave him the answers.” On Monday morning Schelkunoff called him up and said, “Did you come in to work over the weekend?” I could hear, as it were, a pause as the fellow ran through his mind of what was going to happen; but he knew he would have had to sign in, and he’d better not say he had when he hadn’t, so he said he hadn’t. Ever after that Schelkunoff said, “You set your deadlines; you can change them.”

    One lesson was sufficient to educate my boss as to why I didn’t want to do big jobs that displaced exploratory research and why I was justified in not doing crash jobs which absorb all the research computing facilities. I wanted instead to use the facilities to compute a large number of small problems. Again, in the early days, I was limited in computing capacity and it was clear, in my area, that a “mathematician had no use for machines.” But I needed more machine capacity. Every time I had to tell some scientist in some other area, “No I can’t; I haven’t the machine capacity,” he complained. I said “Go tell your Vice President that Hamming needs more computing capacity.” After a while I could see what was happening up there at the top; many people said to my Vice President, “Your man needs more computing capacity.” I got it!

    I also did a second thing. When I loaned what little programming power we had to help in the early days of computing, I said, “We are not getting the recognition for our programmers that they deserve. When you publish a paper you will thank that programmer or you aren’t getting any more help from me. That programmer is going to be thanked by name; she’s worked hard.” I waited a couple of years. I then went through a year of BSTJ articles and counted what fraction thanked some programmer. I took it into the boss and said, “That’s the central role computing is playing in Bell Labs; if the BSTJ is important, that’s how important computing is.” He had to give in. You can educate your bosses. It’s a hard job. In this talk I’m only viewing from the bottom up; I’m not viewing from the top down. But I am telling you how you can get what you want in spite of top management. You have to sell your ideas there also.

    Well I now come down to the topic, “Is the effort to be a great scientist worth it?” To answer this, you must ask people. When you get beyond their modesty, most people will say, “Yes, doing really first-class work, and knowing it, is as good as wine, women and song put together,” or if it’s a woman she says, “It is as good as wine, men and song put together.” And if you look at the bosses, they tend to come back or ask for reports, trying to participate in those moments of discovery. They’re always in the way. So evidently those who have done it, want to do it again. But it is a limited survey. I have never dared to go out and ask those who didn’t do great work how they felt about the matter. It’s a biased sample, but I still think it is worth the struggle. I think it is very definitely worth the struggle to try and do first-class work because the truth is, the value is in the struggle more than it is in the result. The struggle to make something of yourself seems to be worthwhile in itself. The success and fame are sort of dividends, in my opinion.

    I’ve told you how to do it. It is so easy, so why do so many people, with all their talents, fail? For example, my opinion, to this day, is that there are in the mathematics department at Bell Labs quite a few people far more able and far better endowed than I, but they didn’t produce as much. Some of them did produce more than I did; Shannon produced more than I did, and some others produced a lot, but I was highly productive against a lot of other fellows who were better equipped. Why is it so? What happened to them? Why do so many of the people who have great promise, fail?

    Well, one of the reasons is drive and commitment. The people who do great work with less ability but who are committed to it, get more done that those who have great skill and dabble in it, who work during the day and go home and do other things and come back and work the next day. They don’t have the deep commitment that is apparently necessary for really first-class work. They turn out lots of good work, but we were talking, remember, about first-class work. There is a difference. Good people, very talented people, almost always turn out good work. We’re talking about the outstanding work, the type of work that gets the Nobel Prize and gets recognition.

    The second thing is, I think, the problem of personality defects. Now I’ll cite a fellow whom I met out in Irvine. He had been the head of a computing center and he was temporarily on assignment as a special assistant to the president of the university. It was obvious he had a job with a great future. He took me into his office one time and showed me his method of getting letters done and how he took care of his correspondence. He pointed out how inefficient the secretary was. He kept all his letters stacked around there; he knew where everything was. And he would, on his word processor, get the letter out. He was bragging how marvelous it was and how he could get so much more work done without the secretary’s interference. Well, behind his back, I talked to the secretary. The secretary said, “Of course I can’t help him; I don’t get his mail. He won’t give me the stuff to log in; I don’t know where he puts it on the floor. Of course I can’t help him.” So I went to him and said, “Look, if you adopt the present method and do what you can do single-handedly, you can go just that far and no farther than you can do single-handedly. If you will learn to work with the system, you can go as far as the system will support you.” And, he never went any further. He had his personality defect of wanting total control and was not willing to recognize that you need the support of the system.

    You find this happening again and again; good scientists will fight the system rather than learn to work with the system and take advantage of all the system has to offer. It has a lot, if you learn how to use it. It takes patience, but you can learn how to use the system pretty well, and you can learn how to get around it. After all, if you want a decision `No’, you just go to your boss and get a `No’ easy. If you want to do something, don’t ask, do it. Present him with an accomplished fact. Don’t give him a chance to tell you `No’. But if you want a `No’, it’s easy to get a `No’.

    Another personality defect is ego assertion and I’ll speak in this case of my own experience. I came from Los Alamos and in the early days I was using a machine in New York at 590 Madison Avenue where we merely rented time. I was still dressing in western clothes, big slash pockets, a bolo and all those things. I vaguely noticed that I was not getting as good service as other people. So I set out to measure. You came in and you waited for your turn; I felt I was not getting a fair deal. I said to myself, “Why? No Vice President at IBM said, `Give Hamming a bad time’. It is the secretaries at the bottom who are doing this. When a slot appears, they’ll rush to find someone to slip in, but they go out and find somebody else. Now, why? I haven’t mistreated them.” Answer, I wasn’t dressing the way they felt somebody in that situation should. It came down to just that – I wasn’t dressing properly. I had to make the decision – was I going to assert my ego and dress the way I wanted to and have it steadily drain my effort from my professional life, or was I going to appear to conform better? I decided I would make an effort to appear to conform properly. The moment I did, I got much better service. And now, as an old colorful character, I get better service than other people.

    You should dress according to the expectations of the audience spoken to. If I am going to give an address at the MIT computer center, I dress with a bolo and an old corduroy jacket or something else. I know enough not to let my clothes, my appearance, my manners get in the way of what I care about. An enormous number of scientists feel they must assert their ego and do their thing their way. They have got to be able to do this, that, or the other thing, and they pay a steady price.

    John Tukey almost always dressed very casually. He would go into an important office and it would take a long time before the other fellow realized that this is a first-class man and he had better listen. For a long time John has had to overcome this kind of hostility. It’s wasted effort! I didn’t say you should conform; I said “The appearance of conforming gets you a long way.” If you chose to assert your ego in any number of ways, “I am going to do it my way,” you pay a small steady price throughout the whole of your professional career. And this, over a whole lifetime, adds up to an enormous amount of needless trouble.

    By taking the trouble to tell jokes to the secretaries and being a little friendly, I got superb secretarial help. For instance, one time for some idiot reason all the reproducing services at Murray Hill were tied up. Don’t ask me how, but they were. I wanted something done. My secretary called up somebody at Holmdel, hopped the company car, made the hour-long trip down and got it reproduced, and then came back. It was a payoff for the times I had made an effort to cheer her up, tell her jokes and be friendly; it was that little extra work that later paid off for me. By realizing you have to use the system and studying how to get the system to do your work, you learn how to adapt the system to your desires. Or you can fight it steadily, as a small undeclared war, for the whole of your life.

    And I think John Tukey paid a terrible price needlessly. He was a genius anyhow, but I think it would have been far better, and far simpler, had he been willing to conform a little bit instead of ego asserting. He is going to dress the way he wants all of the time. It applies not only to dress but to a thousand other things; people will continue to fight the system. Not that you shouldn’t occasionally!

    When they moved the library from the middle of Murray Hill to the far end, a friend of mine put in a request for a bicycle. Well, the organization was not dumb. They waited awhile and sent back a map of the grounds saying, “Will you please indicate on this map what paths you are going to take so we can get an insurance policy covering you.” A few more weeks went by. They then asked, “Where are you going to store the bicycle and how will it be locked so we can do so and so.” He finally realized that of course he was going to be red-taped to death so he gave in. He rose to be the President of Bell Laboratories.

    Barney Oliver was a good man. He wrote a letter one time to the IEEE. At that time the official shelf space at Bell Labs was so much and the height of the IEEE Proceedings at that time was larger; and since you couldn’t change the size of the official shelf space he wrote this letter to the IEEE Publication person saying, “Since so many IEEE members were at Bell Labs and since the official space was so high the journal size should be changed.” He sent it for his boss’s signature. Back came a carbon with his signature, but he still doesn’t know whether the original was sent or not. I am not saying you shouldn’t make gestures of reform. I am saying that my study of able people is that they don’t get themselves committed to that kind of warfare. They play it a little bit and drop it and get on with their work.

    Many a second-rate fellow gets caught up in some little twitting of the system, and carries it through to warfare. He expends his energy in a foolish project. Now you are going to tell me that somebody has to change the system. I agree; somebody’s has to. Which do you want to be? The person who changes the system or the person who does first-class science? Which person is it that you want to be? Be clear, when you fight the system and struggle with it, what you are doing, how far to go out of amusement, and how much to waste your effort fighting the system. My advice is to let somebody else do it and you get on with becoming a first-class scientist. Very few of you have the ability to both reform the system and become a first-class scientist.

    On the other hand, we can’t always give in. There are times when a certain amount of rebellion is sensible. I have observed almost all scientists enjoy a certain amount of twitting the system for the sheer love of it. What it comes down to basically is that you cannot be original in one area without having originality in others. Originality is being different. You can’t be an original scientist without having some other original characteristics. But many a scientist has let his quirks in other places make him pay a far higher price than is necessary for the ego satisfaction he or she gets. I’m not against all ego assertion; I’m against some.

    Another fault is anger. Often a scientist becomes angry, and this is no way to handle things. Amusement, yes, anger, no. Anger is misdirected. You should follow and cooperate rather than struggle against the system all the time.

    Another thing you should look for is the positive side of things instead of the negative. I have already given you several examples, and there are many, many more; how, given the situation, by changing the way I looked at it, I converted what was apparently a defect to an asset. I’ll give you another example. I am an egotistical person; there is no doubt about it. I knew that most people who took a sabbatical to write a book, didn’t finish it on time. So before I left, I told all my friends that when I come back, that book was going to be done! Yes, I would have it done – I’d have been ashamed to come back without it! I used my ego to make myself behave the way I wanted to. I bragged about something so I’d have to perform. I found out many times, like a cornered rat in a real trap, I was surprisingly capable. I have found that it paid to say, “Oh yes, I’ll get the answer for you Tuesday,” not having any idea how to do it. By Sunday night I was really hard thinking on how I was going to deliver by Tuesday. I often put my pride on the line and sometimes I failed, but as I said, like a cornered rat I’m surprised how often I did a good job. I think you need to learn to use yourself. I think you need to know how to convert a situation from one view to another which would increase the chance of success.

    Now self-delusion in humans is very, very common. There are enumerable ways of you changing a thing and kidding yourself and making it look some other way. When you ask, “Why didn’t you do such and such,” the person has a thousand alibis. If you look at the history of science, usually these days there are 10 people right there ready, and we pay off for the person who is there first. The other nine fellows say, “Well, I had the idea but I didn’t do it and so on and so on.” There are so many alibis. Why weren’t you first? Why didn’t you do it right? Don’t try an alibi. Don’t try and kid yourself. You can tell other people all the alibis you want. I don’t mind. But to yourself try to be honest.

    If you really want to be a first-class scientist you need to know yourself, your weaknesses, your strengths, and your bad faults, like my egotism. How can you convert a fault to an asset? How can you convert a situation where you haven’t got enough manpower to move into a direction when that’s exactly what you need to do? I say again that I have seen, as I studied the history, the successful scientist changed the viewpoint and what was a defect became an asset.

    In summary, I claim that some of the reasons why so many people who have greatness within their grasp don’t succeed are: they don’t work on important problems, they don’t become emotionally involved, they don’t try and change what is difficult to some other situation which is easily done but is still important, and they keep giving themselves alibis why they don’t. They keep saying that it is a matter of luck. I’ve told you how easy it is; furthermore I’ve told you how to reform. Therefore, go forth and become great scientists!

    (End of the formal part of the talk.)

    DISCUSSION – QUESTIONS AND ANSWERS

    A. G. Chynoweth: Well that was 50 minutes of concentrated wisdom and observations accumulated over a fantastic career; I lost track of all the observations that were striking home. Some of them are very very timely. One was the plea for more computer capacity; I was hearing nothing but that this morning from several people, over and over again. So that was right on the mark today even though here we are 20 – 30 years after when you were making similar remarks, Dick. I can think of all sorts of lessons that all of us can draw from your talk. And for one, as I walk around the halls in the future I hope I won’t see as many closed doors in Bellcore. That was one observation I thought was very intriguing.

    Thank you very, very much indeed Dick; that was a wonderful recollection. I’ll now open it up for questions. I’m sure there are many people who would like to take up on some of the points that Dick was making.

    Hamming: First let me respond to Alan Chynoweth about computing. I had computing in research and for 10 years I kept telling my management, “Get that !&@#% machine out of research. We are being forced to run problems all the time. We can’t do research because were too busy operating and running the computing machines.” Finally the message got through. They were going to move computing out of research to someplace else. I was persona non grata to say the least and I was surprised that people didn’t kick my shins because everybody was having their toy taken away from them. I went in to Ed David’s office and said, “Look Ed, you’ve got to give your researchers a machine. If you give them a great big machine, we’ll be back in the same trouble we were before, so busy keeping it going we can’t think. Give them the smallest machine you can because they are very able people. They will learn how to do things on a small machine instead of mass computing.” As far as I’m concerned, that’s how UNIX arose. We gave them a moderately small machine and they decided to make it do great things. They had to come up with a system to do it on. It is called UNIX!

    A. G. Chynoweth: I just have to pick up on that one. In our present environment, Dick, while we wrestle with some of the red tape attributed to, or required by, the regulators, there is one quote that one exasperated AVP came up with and I’ve used it over and over again. He growled that, “UNIX was never a deliverable!”

    Question: What about personal stress? Does that seem to make a difference?

    Hamming: Yes, it does. If you don’t get emotionally involved, it doesn’t. I had incipient ulcers most of the years that I was at Bell Labs. I have since gone off to the Naval Postgraduate School and laid back somewhat, and now my health is much better. But if you want to be a great scientist you’re going to have to put up with stress. You can lead a nice life; you can be a nice guy or you can be a great scientist. But nice guys end last, is what Leo Durocher said. If you want to lead a nice happy life with a lot of recreation and everything else, you’ll lead a nice life.

    Question: The remarks about having courage, no one could argue with; but those of us who have gray hairs or who are well established don’t have to worry too much. But what I sense among the young people these days is a real concern over the risk taking in a highly competitive environment. Do you have any words of wisdom on this?

    Hamming: I’ll quote Ed David more. Ed David was concerned about the general loss of nerve in our society. It does seem to me that we’ve gone through various periods. Coming out of the war, coming out of Los Alamos where we built the bomb, coming out of building the radars and so on, there came into the mathematics department, and the research area, a group of people with a lot of guts. They’ve just seen things done; they’ve just won a war which was fantastic. We had reasons for having courage and therefore we did a great deal. I can’t arrange that situation to do it again. I cannot blame the present generation for not having it, but I agree with what you say; I just cannot attach blame to it. It doesn’t seem to me they have the desire for greatness; they lack the courage to do it. But we had, because we were in a favorable circumstance to have it; we just came through a tremendously successful war. In the war we were looking very, very bad for a long while; it was a very desperate struggle as you well know. And our success, I think, gave us courage and self confidence; that’s why you see, beginning in the late forties through the fifties, a tremendous productivity at the labs which was stimulated from the earlier times. Because many of us were earlier forced to learn other things – we were forced to learn the things we didn’t want to learn, we were forced to have an open door – and then we could exploit those things we learned. It is true, and I can’t do anything about it; I cannot blame the present generation either. It’s just a fact.

    Question: Is there something management could or should do?

    Hamming: Management can do very little. If you want to talk about managing research, that’s a totally different talk. I’d take another hour doing that. This talk is about how the individual gets very successful research done in spite of anything the management does or in spite of any other opposition. And how do you do it? Just as I observe people doing it. It’s just that simple and that hard!

    Question: Is brainstorming a daily process?

    Hamming: Once that was a very popular thing, but it seems not to have paid off. For myself I find it desirable to talk to other people; but a session of brainstorming is seldom worthwhile. I do go in to strictly talk to somebody and say, “Look, I think there has to be something here. Here’s what I think I see …” and then begin talking back and forth. But you want to pick capable people. To use another analogy, you know the idea called the `critical mass.’ If you have enough stuff you have critical mass. There is also the idea I used to call `sound absorbers’. When you get too many sound absorbers, you give out an idea and they merely say, “Yes, yes, yes.” What you want to do is get that critical mass in action; “Yes, that reminds me of so and so,” or, “Have you thought about that or this?” When you talk to other people, you want to get rid of those sound absorbers who are nice people but merely say, “Oh yes,” and to find those who will stimulate you right back.

    For example, you couldn’t talk to John Pierce without being stimulated very quickly. There were a group of other people I used to talk with. For example there was Ed Gilbert; I used to go down to his office regularly and ask him questions and listen and come back stimulated. I picked my people carefully with whom I did or whom I didn’t brainstorm because the sound absorbers are a curse. They are just nice guys; they fill the whole space and they contribute nothing except they absorb ideas and the new ideas just die away instead of echoing on. Yes, I find it necessary to talk to people. I think people with closed doors fail to do this so they fail to get their ideas sharpened, such as “Did you ever notice something over here?” I never knew anything about it – I can go over and look. Somebody points the way. On my visit here, I have already found several books that I must read when I get home. I talk to people and ask questions when I think they can answer me and give me clues that I do not know about. I go out and look!

    Question: What kind of tradeoffs did you make in allocating your time for reading and writing and actually doing research?

    Hamming: I believed, in my early days, that you should spend at least as much time in the polish and presentation as you did in the original research. Now at least 50% of the time must go for the presentation. It’s a big, big number.

    Question: How much effort should go into library work?

    Hamming: It depends upon the field. I will say this about it. There was a fellow at Bell Labs, a very, very, smart guy. He was always in the library; he read everything. If you wanted references, you went to him and he gave you all kinds of references. But in the middle of forming these theories, I formed a proposition: there would be no effect named after him in the long run. He is now retired from Bell Labs and is an Adjunct Professor. He was very valuable; I’m not questioning that. He wrote some very good Physical Review articles; but there’s no effect named after him because he read too much. If you read all the time what other people have done you will think the way they thought. If you want to think new thoughts that are different, then do what a lot of creative people do – get the problem reasonably clear and then refuse to look at any answers until you’ve thought the problem through carefully how you would do it, how you could slightly change the problem to be the correct one. So yes, you need to keep up. You need to keep up more to find out what the problems are than to read to find the solutions. The reading is necessary to know what is going on and what is possible. But reading to get the solutions does not seem to be the way to do great research. So I’ll give you two answers. You read; but it is not the amount, it is the way you read that counts.

    Question: How do you get your name attached to things?

    Hamming: By doing great work. I’ll tell you the hamming window one. I had given Tukey a hard time, quite a few times, and I got a phone call from him from Princeton to me at Murray Hill. I knew that he was writing up power spectra and he asked me if I would mind if he called a certain window a “Hamming window.” And I said to him, “Come on, John; you know perfectly well I did only a small part of the work but you also did a lot.” He said, “Yes, Hamming, but you contributed a lot of small things; you’re entitled to some credit.” So he called it the hamming window. Now, let me go on. I had twitted John frequently about true greatness. I said true greatness is when your name is like ampere, watt, and fourier – when it’s spelled with a lower case letter. That’s how the hamming window came about.

    Question: Dick, would you care to comment on the relative effectiveness between giving talks, writing papers, and writing books?

    Hamming: In the short-haul, papers are very important if you want to stimulate someone tomorrow. If you want to get recognition long-haul, it seems to me writing books is more contribution because most of us need orientation. In this day of practically infinite knowledge, we need orientation to find our way. Let me tell you what infinite knowledge is. Since from the time of Newton to now, we have come close to doubling knowledge every 17 years, more or less. And we cope with that, essentially, by specialization. In the next 340 years at that rate, there will be 20 doublings, i.e. a million, and there will be a million fields of specialty for every one field now. It isn’t going to happen. The present growth of knowledge will choke itself off until we get different tools. I believe that books which try to digest, coordinate, get rid of the duplication, get rid of the less fruitful methods and present the underlying ideas clearly of what we know now, will be the things the future generations will value. Public talks are necessary; private talks are necessary; written papers are necessary. But I am inclined to believe that, in the long-haul, books which leave out what’s not essential are more important than books which tell you everything because you don’t want to know everything. I don’t want to know that much about penguins is the usual reply. You just want to know the essence.

    Question: You mentioned the problem of the Nobel Prize and the subsequent notoriety of what was done to some of the careers. Isn’t that kind of a much more broad problem of fame? What can one do?

    Hamming: Some things you could do are the following. Somewhere around every seven years make a significant, if not complete, shift in your field. Thus, I shifted from numerical analysis, to hardware, to software, and so on, periodically, because you tend to use up your ideas. When you go to a new field, you have to start over as a baby. You are no longer the big mukity muk and you can start back there and you can start planting those acorns which will become the giant oaks. Shannon, I believe, ruined himself. In fact when he left Bell Labs, I said, “That’s the end of Shannon’s scientific career.” I received a lot of flak from my friends who said that Shannon was just as smart as ever. I said, “Yes, he’ll be just as smart, but that’s the end of his scientific career,” and I truly believe it was.

    You have to change. You get tired after a while; you use up your originality in one field. You need to get something nearby. I’m not saying that you shift from music to theoretical physics to English literature; I mean within your field you should shift areas so that you don’t go stale. You couldn’t get away with forcing a change every seven years, but if you could, I would require a condition for doing research, being that you will change your field of research every seven years with a reasonable definition of what it means, or at the end of 10 years, management has the right to compel you to change. I would insist on a change because I’m serious. What happens to the old fellows is that they get a technique going; they keep on using it. They were marching in that direction which was right then, but the world changes. There’s the new direction; but the old fellows are still marching in their former direction.

    You need to get into a new field to get new viewpoints, and before you use up all the old ones. You can do something about this, but it takes effort and energy. It takes courage to say, “Yes, I will give up my great reputation.” For example, when error correcting codes were well launched, having these theories, I said, “Hamming, you are going to quit reading papers in the field; you are going to ignore it completely; you are going to try and do something else other than coast on that.” I deliberately refused to go on in that field. I wouldn’t even read papers to try to force myself to have a chance to do something else. I managed myself, which is what I’m preaching in this whole talk. Knowing many of my own faults, I manage myself. I have a lot of faults, so I’ve got a lot of problems, i.e. a lot of possibilities of management.

    Question: Would you compare research and management?

    Hamming: If you want to be a great researcher, you won’t make it being president of the company. If you want to be president of the company, that’s another thing. I’m not against being president of the company. I just don’t want to be. I think Ian Ross does a good job as President of Bell Labs. I’m not against it; but you have to be clear on what you want. Furthermore, when you’re young, you may have picked wanting to be a great scientist, but as you live longer, you may change your mind. For instance, I went to my boss, Bode, one day and said, “Why did you ever become department head? Why didn’t you just be a good scientist?” He said, “Hamming, I had a vision of what mathematics should be in Bell Laboratories. And I saw if that vision was going to be realized, I had to make it happen; I had to be department head.” When your vision of what you want to do is what you can do single-handedly, then you should pursue it. The day your vision, what you think needs to be done, is bigger than what you can do single-handedly, then you have to move toward management. And the bigger the vision is, the farther in management you have to go. If you have a vision of what the whole laboratory should be, or the whole Bell System, you have to get there to make it happen. You can’t make it happen from the bottom very easily. It depends upon what goals and what desires you have. And as they change in life, you have to be prepared to change. I chose to avoid management because I preferred to do what I could do single-handedly. But that’s the choice that I made, and it is biased. Each person is entitled to their choice. Keep an open mind. But when you do choose a path, for heaven’s sake be aware of what you have done and the choice you have made. Don’t try to do both sides.

    Question: How important is one’s own expectation or how important is it to be in a group or surrounded by people who expect great work from you?

    Hamming: At Bell Labs everyone expected good work from me – it was a big help. Everybody expects you to do a good job, so you do, if you’ve got pride. I think it’s very valuable to have first-class people around. I sought out the best people. The moment that physics table lost the best people, I left. The moment I saw that the same was true of the chemistry table, I left. I tried to go with people who had great ability so I could learn from them and who would expect great results out of me. By deliberately managing myself, I think I did much better than laissez faire.

    Question: You, at the outset of your talk, minimized or played down luck; but you seemed also to gloss over the circumstances that got you to Los Alamos, that got you to Chicago, that got you to Bell Laboratories.

    Hamming: There was some luck. On the other hand I don’t know the alternate branches. Until you can say that the other branches would not have been equally or more successful, I can’t say. Is it luck the particular thing you do? For example, when I met Feynman at Los Alamos, I knew he was going to get a Nobel Prize. I didn’t know what for. But I knew darn well he was going to do great work. No matter what directions came up in the future, this man would do great work. And sure enough, he did do great work. It isn’t that you only do a little great work at this circumstance and that was luck, there are many opportunities sooner or later. There are a whole pail full of opportunities, of which, if you’re in this situation, you seize one and you’re great over there instead of over here. There is an element of luck, yes and no. Luck favors a prepared mind; luck favors a prepared person. It is not guaranteed; I don’t guarantee success as being absolutely certain. I’d say luck changes the odds, but there is some definite control on the part of the individual.

    Go forth, then, and do great work!

    (End of the General Research Colloquium Talk.)

    BIOGRAPHICAL SKETCH OF RICHARD HAMMING

    Richard W. Hamming was born February 11, 1915, in Chicago, Illinois. His formal education was marked by the following degrees (all in mathematics): B.S. 1937, University of Chicago; M.A. 1939, University of Nebraska; and Ph.D. 1942, University of Illinois. His early experience was obtained at Los Alamos 1945-1946, i.e. at the close of World War II, where he managed the computers used in building the first atomic bomb. From there he went directly to Bell Laboratories where he spent thirty years in various aspects of computing, numerical analysis, and management of computing, i.e. 1946-1976. On July 23, 1976 he `moved his office’ to the Naval Postgraduate School in Monterey, California where he taught, supervised research, and wrote books.

    While at Bell Laboratories, he took time to teach in Universities, sometimes locally and sometimes on a full sabbatical leave; these activities included visiting professorships at New York University, Princeton University (Statistics), City College of New York, Stanford University, 1960-61, Stevens Institute of Technology (Mathematics), and the University of California, Irvine, 1970-71.

    Richard Hamming has received a number of awards which include: Fellow, IEEE, 1968; the ACM Turing Prize, 1968; the IEEE Emanuel R. Piore Award, 1979; Member, National Academy of Engineering, 1980; and the Harold Pender Award, U. Penn., 1981. In 1987 a major IEEE award was named after him, namely the Richard W. Hamming Medal, “For exceptional contributions to information sciences and systems”; fittingly, he was also the first recipient of this award, 1988. In 1996 in Munich he received the prestigious $130,000 Eduard Rhein Award for Achievement in Technology for his work on error correcting codes. He was both a Founder and Past President of ACM, and a Vice Pres. of the AAAS Mathematics Section.

    He is probably best known for his pioneering work on error-correcting codes, his work on integrating differential equations, and the spectral window which bears his name. His extensive writing has included a number of important, pioneering, and highly regarded books. These are:

    • Numerical Methods for Scientists and Engineers, McGraw-Hill, 1962; Second edition 1973; Reprinted by Dover 1985; Translated into Russian.
    • Calculus and the Computer Revolution, Houghton-Mifflin, 1968.
    • Introduction to Applied Numerical Analysis, McGraw-Hill, 1971.
    • Computers and Society, McGraw-Hill, 1972.
    • Digital Filters, Prentice-Hall, 1977; Second edition 1983; Third edition 1989; translated into several European languages.
    • Coding and Information Theory, Prentice-Hall, 1980; Second edition 1986.
    • Methods of Mathematics Applied to Calculus, Probability and Statistics, Prentice-Hall, 1985.
    • The Art of Probability for Scientists and Engineers, Addison-Wesley, 1991.
    • The Art of Doing Science and Engineering: Learning to Learn, Gordon and Breach, 1997.

    He continued a very active life as Adjunct Professor, teaching and writing in the Mathematics and Computer Science Departments at the Naval Postgraduate School, Monterey, California for another twenty-one years before he retired to become Professor Emeritus in 1997. He was still teaching a course in the fall of 1997. He passed away unexpectedly on January 7, 1998.

    ACKNOWLEDGEMENT

    I would like to acknowledge the professional efforts of Donna Paradise of the Word Processing Center who did the initial transcription of the talk from the tape recording. She made my job of editing much easier. The errors of sentence parsing and punctuation are mine and mine alone. Finally I would like to express my sincere appreciation to Richard Hamming and Alan Chynoweth for all of their help in bringing this transcription to its present readable state.

    J. F. Kaiser


    Ấn Kim Cang

    Thủ ấn – Mudra là cử chỉ tay được thực hành trong Yoga kết hợp với Pranayama (bài tập thở), giúp hồi sinh dòng năng lượng đến các bộ phận khác nhau của cơ thể để cải thiện sức khỏe thể chất, và tinh thần của bạn. Theo truyền thống Vệ đà, các ngón tay của bàn tay đại diện cho năm yếu tố cơ bản tạo nên cơ thể con người: đất, nước, gió, không khí và lửa. Dựa trên sự hiểu biết này, đầu ngón tay của chúng ta có nhiều đầu rễ thần kinh tập trung đóng vai trò là điểm xả năng lượng tự do. Khi chạm các đầu ngón tay vào nhau theo những cách khác nhau hoặc đến các bộ phận khác của lòng bàn tay sẽ điều chỉnh và cân bằng dòng năng lượng (Prana) trong cơ thể chúng ta, và năng lượng truyền qua các dây thần kinh kích thích các luân xa khác nhau.

    Trong Phật giáo đại thừa, các thủ ấn chỉ các ấn nơi tay, mỗi thủ ấn đều tương ứng với các ý nghĩa đặc biệt. Trong các tông phái như Kim cương thừa Mật tông, các ấn này thường đi đôi với Mantra (thần chú). Ngoài ra, các ấn này giúp hành giả chứng được các cấp tâm thức nội tại, bằng cách giữ vững những vị trí thân thể nhất định và tạo mối liên hệ giữa hành giả với các vị Phật hoặc Đạo sư trong lúc hành trì một Thành tựu Pháp.

    An Nhiên

    Tôi nghĩ rằng biết về thủ ấn là một việc thú vị, và có thể đem lại nhiều lợi ích cho các bạn về sau. Trong cuốn sách nổi tiếng đầu tiên của mình, thầy Eckhart Tolle nói hãy luôn chú ý đến cơ thể. Trong những môn mà ngày nay rất nhiều hội nhóm ở Hà Nội còn đang thực tập, người ta thực hành quán thân. Nhiều người chuyên về lĩnh vực đào tạo và phát triển bản thân biết rằng tư thế có ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý và sức khỏe tinh thần của chúng ta. Tất cả những điều trên liên quan đến sự thật rằng cơ thể vật lý của chúng ta có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần. Muốn làm chủ được phần tâm linh thì trước hết cần làm chủ được cơ thể. Nếu bạn hiểu được cách điều khiển các dòng năng lượng trong cơ thể thì tuyệt vời, nếu chưa, bạn có thể bắt đầu nghiên cứu về thủ ấn.

    Nếu đọc phần trích dẫn ở trên mà bạn vẫn chưa hiểu lắm, thì hãy thử click vào đây hoặc vào đây, đó là các trang web tôi thấy viết dễ hiểu. Tôi cũng cần lưu ý rằng nếu bạn có quan tâm đến vấn đề này và muốn bắt đầu, bạn đang dấn thân vào một con đường vinh quang và nguy hiểm. Trước khi làm gì, hãy tìm một người thầy. Ít nhất có ai đó có thể giải thích cho gia đình bạn hiểu chuyện gì đã xảy ra khi bạn phát điên. Just kidding. But if you are expecting exceptional transformations, remember that the stake is high. It always works that way. Có nghĩa là, những bài viết kiểu như thế này chỉ để cho vui thôi, nếu bạn muốn thực tập thứ gì tương tự, hãy tìm một người hướng dẫn.

    Mục đích của bài viết này là giới thiệu Ấn Kim Cương, hay còn gọi là Kim Cang Quyền Ấn, đó là một thủ ấn mà theo tôi là quan trọng. Để hiểu về ấn này, trước hết cần biết thủ ấn là gì. Nếu những phần giải thích ở phía trên chưa được rõ ràng lắm, thì nói ngắn gọn là thủ ấn là những tư thế giúp điều chỉnh năng lượng và trạng thái cơ thể. Người ta có thể nghĩ rằng thủ ấn là để chỉ các tư thế tay. Đó là một sự hiểu lầm gây ra bởi sự phổ biến của thủ ấn tay trong đại chúng. Sự thật là thủ ấn chỉ các tư thế cơ thể có thể tạo thành.

    Hiểu biết về thủ ấn là cần thiết để luyện tập một số (pháp) môn nhất định, chẳng hạn Yoga. Với tôi thì thủ ấn gắn liền với việc tu luyện Mật Tông và trì chú (do đọc nhiều 🙂 ), nhưng sự thật là thủ ấn xuất hiện ở nhiều nơi. Những ai tu tập theo Phật Giáo, Hindu, hay Kỳ Na đều sẽ gặp hoặc dùng thủ ấn đâu đó trên hành trình của mình. Tư thế tay khác lạ của các pho tượng Phật mà bạn bắt gặp đều là thủ ấn. Mỗi thủ ấn có ý nghĩa của riêng nó. Chẳng hạn, thủ ấn đem lại sức mạnh, thủ ấn làm ta tập trung, thủ ấn giúp ta thấy bình yên. Ngay cả trong võ thuật bạn cũng có thể thấy thủ ấn. Trước đây khi tôi học với thầy Việt Hùng, người hoàn toàn không ủng hộ chúng tôi luyện khí công hay những gì dính dáng đến tâm linh, thầy đã dạy chúng tôi một số thủ ấn. Mục đích chỉ đơn giản là để tăng cường sức mạnh của các ngón tay. Tôi nghĩ rất có thể người đầu tiên đưa các thủ ấn đó vào môn mà thầy dạy chúng tôi có nhiều hàm ý, nhưng đến thế hệ của thầy thì chúng chỉ đơn giản là để luyện tay. Chi tiết hơn về ý nghĩa các thủ ấn bạn có thể xem ở hai bài viết dễ hiểu đã được dẫn link ở trên.

    As always, just want to show my photos…

    Việc tạo ra thủ ấn được gọi là “kiết ấn” (cũng nói “kết ấn”) hoặc “bắt ấn.” Khi bạn tạo ra ấn Kim Cang, chẳng hạn, người ta nói bạn đã kiết ấn Kim Cang. Thoạt nhìn bạn có thể thấy các thủ ấn rất đơn giản. Chúng đúng là đơn giản thật, nhưng nếu không được chỉ dạy cẩn thận bởi một người có hiểu biết, rất có thể bạn sẽ kiết ấn sai và lãnh hậu quả.

    Ví dụ, bạn có thể thấy khi ngồi thiền người ta thường kiết ấn Tam Muội (có rất nhiều ấn có thể dùng khi ngồi thiền, ấn Tam Muội là phổ biến nhất vì tác dụng đặc biệt của nó). Khi bạn nhìn ấn Tam Muội, có thể bạn nghĩ rằng đó đơn giản đó là hai bàn tay đặt lên nhau, hai đầu ngón tay cái tiếp xúc. Đúng nhưng chưa đủ. Rất có thể bạn đã được nghe rằng một nửa sự thật là dối trá, ở đây một nửa sự thật sẽ làm bạn phải trả giá. Hai bàn tay đặt lên nhau, nhưng bàn tay nào đặt lên trên bàn tay nào? Trong các truyền thống mà tôi được biết, tay trái tượng trưng cho thần linh (hay đúng hơn là các thế lực tâm linh), tay phải tượng trưng cho con người. Thứ đặt ở trên sẽ áp chế thứ ở dưới. Vậy nên, nếu bạn là người mới, hãy luôn luôn đặt bàn tay phải lên trên bàn tay trái để tránh bị khống chế bởi thế lực nào đó. Nếu bạn là một hành giả đã có thành tựu, bạn đủ hiểu biết và sức mạnh để không phải theo quy tắc trên. Nhưng nếu bạn chưa là gì cả, nghịch dại có thể dẫn đến cái vẫn bị gọi là “tẩu hỏa nhập ma.” Một lưu ý nữa với ấn Tam Muội, đó là bàn tay trên tiếp xúc như thế nào với bàn tay ở dưới. Nếu đặt tay lên tay, thì đầu ngón giữa tay phía trên có thể đặt ở cổ tay bàn tay phía dưới, hoặc lòng bàn tay, hoặc chân ngón tay. Không phải vị trí nào cũng giống nhau. Vị trí đúng là ngón giữa của bàn tay phía trên đặt trên huyệt Lao Cung của bàn tay phía dưới. Huyệt Lao Cung trên bàn tay được xác định bằng cách co ngón tay giữa chạm lòng bàn tay. Điểm tiếp xúc của ngón tay giữa và lòng bàn tay chính là huyệt Lao Cung (nói chính xác hơn thì huyệt nằm dưới da, cách điểm đó 1-2mm).

    Những điều trên, làm thế nào bạn biết được, nếu không có một người thầy. Đó không phải kiến thức cao siêu, rất nhiều người biết. Tuy nhiên, thường người ta dạy cho học trò của mình chứ ít người viết sách.

    Luôn có một ngàn lẻ một cách làm mọi việc, và định luật Murphy nói rằng nếu chuyện gì có thể sai thì nhất định sẽ có người làm sai, dù hãn hữu đến thế nào. Vì thế, tôi thật sự lo lắng cho các bạn muốn tự học khí công, Yoga, thiền, hay bất kỳ thứ gì như thế, chỉ qua sách vở. Xin nhắc lại, nếu bạn có hứng thú, hãy tìm một người hướng dẫn.

    Bây giờ là phần chính của bài viết này: Ấn Kim Cang. Tác dụng của ấn Kim Cang là giải tỏa căng thẳng, sợ hãi, giúp bình tâm. Khi bắt ấn Kim Cang, bạn sẽ có cảm giác cơ thể đi vào thế phòng thủ, và phòng thủ với tất cả sức mạnh mà bạn có. Một số nguồn trên mạng nói rằng ấn Kim Cang có thể giúp trừ tà. Tôi không hiểu lắm về chuyện trừ tà nên không thể bình luận gì, nhưng có người nói như vậy. Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về ấn này, hãy google từ khóa: “Adi Mudra.”

    Cách bắt ấn Kim Cang, may mắn là rất đơn giản. Đầu tiên bạn đặt đầu ngón tay cái vào chân ngón tay đeo nhẫn, sau đó nắm bàn tay lại. Chỉ vậy thôi. Bạn có thấy bình tâm hơn chưa? (À, ngón đeo nhẫn là ngón đeo nhẫn, tức là hàng xóm của ngón út, chứ không phải là ngón tay đeo nhẫn trong hình minh họa nhé.)

    Adi Mudra – Source: ArtofLiving.org

    Lý do tôi viết bài này và lan man tới tận đây, là vì gần đây có đọc được một bài viết về các hiện tượng tâm lý thú vị. Một trong số đó là: Khi con người ta cảm thấy lo lắng, bất an, hoặc sợ hãi, rất có thể người ta sẽ nắm lấy ngón tay cái của mình trong các ngón khác.

    “Hiện tượng tâm lý thú vị”! Tôi thấy không có gì thú vị hết, đó là một điều hiển nhiên. Nhưng, con người sống trong những thế giới rất khác nhau. Điều kì diệu ở thế giới này, có khi lại là chuyện thường ngày ở thế giới khác, dù về mặt vật lý, ta đang nói về chỉ một thế giới. Ngày xưa tôi từng nghĩ lớn lên sẽ học thật giỏi, sẽ trở thành một nhà nghiên cứu và kết nối hai thế giới. Không phải là hai thế giới của con người. Giống như Nikola Tesla từng làm khi ông tạo ra thiết bị liên lạc với linh hồn (it is a myth, but I guess it is true), hay như thầy Hoàng Phương của ĐH Tổng hợp Hà Nội, một nhà vật lý thực thụ nhưng lại dành cả đời mình cho sự nghiệp ấy, một sự nghiệp mà tôi nghĩ ai không hiểu sẽ cho là thầy không bình thường.

    Cái hiện tượng tâm lý thú vị kia không thú vị ở chỗ, kiết ấn Kim Cang thực sự làm người ta bình tâm, theo cách nhìn của tôi thì đó là một phản xạ giống như khi khát thì người ta tìm nước uống. Tôi vẫn còn nhớ rõ, khi tôi chưa hề bước chân vào thế giới “mê tín dị đoan :)” này, tôi đã từng kiết ấn Kim Cang. Đó là khi tôi sợ hãi. Vâng, một hiện tượng thú vị. Bây giờ, nếu lúc nào bỗng nhiên tôi tự nắm lấy ngón tay cái của mình, tôi hiểu rằng sâu trong tiềm thức tôi đang có một sự bất an. Lý trí có thể đánh lừa ta, còn những phản xạ không điều kiện như thế thì không.

    Nếu có một ngày, hai thế giới này được kết nối, đó sẽ là một nơi thú vị để sống nhỉ? Cảm giác đó, có lẽ sẽ giống như mọi người học khoa học vũ trụ ở Tây Tạng. Tôi thật sự mong chờ ngày đó.

    Bản ngã

    Màu sắc yêu thích của bạn là gì?

    Ngày bé, tôi đọc rất nhiều sách. Có lần tôi đọc được rằng màu xanh, của lá cây hoặc bầu trời, có bước sóng tốt cho mắt và có thể làm con người ta trở nên thư thái. Tôi nhìn ra cánh đồng sau nhà, màu xanh đó thật đẹp. Tôi không nghĩ chuyện tôi thích màu gì, nhưng khi ai đó hỏi, chắc là tôi đã luôn trả lời màu xanh.

    Một cánh đồng gần nơi tôi sống

    Lòng tốt

    Ngày xưa mấy người theo đạo mà nghĩ không được dài lắm thường hay hỏi: Nếu các người không tin vào Chúa Trời và sự trừng phạt, điều gì ngăn các người làm những điều khốn nạn? Câu trả lời cho câu hỏi ấu trĩ và đầy ý phân biệt đó, đương nhiên là lương tâm. Làm điều gì đó vì ta thấy đúng, đương nhiên là một điều tốt đẹp vượt trội so với làm một điều gì đó vì cây gậy hay củ cà rốt.

    Thế nếu không có Chúa Trời, ta hãy giả sử Chúa hiện lên và nói: “Ta đã mệt mỏi vì quan sát các con, giờ là lúc ta nghỉ ngơi và các con thích làm gì thì cứ làm.” thì liệu những con người đã hỏi câu hỏi trên có làm điều ác không?

    Tôi đoán, nếu họ từng sợ Chúa Trời, thì họ cũng không có hứng thú làm điều ác. Những kẻ làm điều ác là những kẻ mà Chúa có đó hay không cũng chẳng có ý nghĩa gì.

    Tôi từng nghe một bạn trẻ trong một gia đình theo đạo Phật kể chuyện, rằng gia đình bạn luôn làm điều tốt, rằng từ bé bạn luôn làm điều tốt, bởi vì ở hiền sẽ gặp lành. Từ nhỏ, bạn được dạy rằng gieo nhân nào gặt quả ấy, và bạn sợ làm điều ác vì sợ quả báo, bạn làm điều tốt vì biết rằng sẽ được đền đáp, kiếp này hay kiếp sau.

    Bạn có thấy đó là một câu chuyện tương tự với chuyện của những người tin vào Chúa không? Lúc kể ra những điều ấy cũng là lúc mà bạn trẻ này đang khủng hoảng, với một câu hỏi đơn giản thôi: Rốt cục tôi làm điều này vì lòng tham và nỗi sợ, hay vì tôi là người tốt? Tôi sợ quả báo và muốn nghiệp lành, hay trên hết tôi là một người tốt? Câu hỏi đó, có những người không trả lời được. Lòng tốt của những con người đó, là vị tha hay vị kỷ, chính họ không trả lời được.

    Tôi chẳng biết tôi trả lời tôi thích màu xanh là vì trong thâm tâm tôi thích màu xanh, hay vì tình cờ tôi biết màu xanh là một màu tốt đẹp, và vì tôi không có câu trả lời nào cho “màu sắc yêu thích” nên tôi đã lấy màu xanh.

    Và những con người kia, cũng như vậy, họ không chắc chắn họ có phải là người tốt hay không. Tôi thì chắc chắn rằng họ không làm việc ác. Rất nhiều lần, tôi nghĩ, đạo đức giả và đạo đức có thể khác nhau, nhưng biểu hiện bên ngoài của chúng thì giống nhau. Nếu có một ngày đạo đức giả không còn giống đạo đức nữa, nó cũng không phải là đạo đức giả nữa. Vậy nên, có lẽ nhiều lúc không cần thiết phải phân biệt làm gì.

    Bạn không cần phải đặt câu hỏi về bản thân. Cái bạn thật sự là, điều bạn nghĩ, tất cả không gây ảnh hưởng đến thế giới này. Thứ đáng quan tâm là hành động của bạn. Osho nói, suy nghĩ là xấu, hành động là tốt. Nếu có ai nói rằng thế giới xung quanh là hình ảnh phản chiếu của những suy nghĩ của bạn, thì tôi đoán trước hết suy nghĩ của bạn tạo ra những hành động tác động lên cái hình ảnh phản chiếu đó. Hành động tạo nên thế giới xung quanh bạn, không phải suy nghĩ. Giây phút bạn giác ngộ, hoặc chưa cần phải thế, giây phút mà bạn chú ý đến thế giới xung quanh mà không suy nghĩ gì cả, bạn sẽ được cảm nhận một loại hạnh phúc.

    Bạn không cần phải đặt câu hỏi về bản thân. Cái bạn thật sự là, điều bạn nghĩ, điều bạn tin, tất cả là không gì cả. Thứ mà tâm trí bạn tưởng là bạn, là suy nghĩ của bạn chứ không phải là bạn, và những suy nghĩ đó đến và đi như những cơn sóng. Chúng có thể định hình cái mà bạn biểu hiện ra, ví như những bài giảng pháp mà một đứa trẻ nghe được có thể định hình cách sống và niềm tin của nó sau này. Nhưng cách sống và niềm tin đó có thật sự đúng không? Chúng ta không biết. Đứa trẻ đó là ai? Chúng ta không biết. Tôi có phải là con người mà thích màu xanh không, khi cái suy nghĩ về màu xanh ấy đã từ một nơi nào đó bên ngoài đến với tôi.

    Ban đầu, bạn chẳng là gì cả. Rồi bạn thấy mình lớn lên, thấy mình bao trùm, bạn thấy bạn hiện hữu ở đây, ở kia, bạn ở mọi nơi. Rồi bạn thấy mình là dòng sông, là cánh đồng, là bầu trời, là vũ trụ. Đến khi bạn thấy mình là tất cả, bạn nhận ra mình không là gì cả.

    Một vị thầy có lẽ không cần được nhớ tên

    Intolerance

    Dear Dan,

    My son is a high-school senior who frequently misses the bus. Every morning I try to wake him up several times, but I often can’t get him out the door on time. When he misses the bus and I have to drive him to school, I end up reprimanding him, which makes him angry. How can we solve this problem?

    —Alice 

    People learn behaviors by making associations, either consciously or subconsciously, between an action and a response. Even though you’re trying to help your son, your response when he oversleeps reinforces his bad behavior. Every time you wake him up and drive him to school, he is learning that he has a viable backup if he ignores his alarm clock. My recommendation is to stop helping him get to school on time: Don’t wake him up and don’t offer to drive him. After a few painful failures, he should learn that he needs to go to bed earlier and respond more diligently to his alarm clock.

    Answer by Prof. Dan Ariely
    Q&A Column, Wall Street Journal, March 2020

    奈良

    Have you ever been in the above situation, as the son or the mother? I have, and I’ve seen a lot in the same situation. The thing is, few in the position of the mother are bold enough to do what Prof. Ariely suggested. As a parent, we believe that we should “fix” the situation, we think we should do the best we can (in this case, to drive the son to school) to solve the imminent problem (the son would be late for school). We expect the trouble maker to be thankful for us, and in the meantime to realize their faults and change their behaviors in similar situations that follow.

    It just doesn’t work that way.

    Most of the time, “the son,” probably unconsciously, believe that there exist some reliable backups, or at least it is not the end of the world if he could not handle the situation properly. Thus, he keeps making the same mistake over and over again, which drives us nut. It sounds irrational, but it happens to many of us, especially those who take their responsibility for “their sons” for granted. We could see it is not the most comfortable way to live.

    By no means should we live like that. Put full responsibility on the person concerned is how we make him grow, and relieve ourselves of unnecessary burden.

    When I was a child, I attended lectures by Prof. Pham Hung, a mathematics professor of HUS. He had been constantly voted as the most popular teacher at our school for several years then. One of the first things he told us is something like this: “If you do something bad, you would say sorry. But I would prefer not to hear anyone’s apology. So, never apology to me. You can make mistake or behave badly one time. No problem. No apology needed. Two times, three times, it is ok. But if you do it the forth time, then we are not teacher and student anymore. I won’t consider you my student. Then you don’t need to greet me if you see me. Even if you do so, I would ignore you.”

    He said all these cold-blooded words in such a funny manner that most of us laughed at first. But we realized he is not the type of person who says such things for a joke. He was very serious. We loved his teaching style, we loved the stories he made up during his lectures, and his hidden pieces of life advice in every lecture. None of us dared to do anything wrong, and we had been good teacher and students until his death around seven years ago.

    Intolerant as he was, he actually made us more responsible and matured.

    Nowadays many parents do not understand this simple thing. They do something for their children (not actually children, I mean grown-up children, who could live on their own.), thinking that what they do is necessary for the children and expect the children to be obedient and thankful. Unfortunately, things normally do not go as they planned. Either the children do not appreciate what is done for them, thinking it is parents’ responsibility, or they say they don’t want it outright. As a parent, wouldn’t you be angry at the rude and selfish children?

    But, it is you, the parent, to blame. You could not assume that what you think to be good to someone is actually good for them, or worse, that they need it. You just couldn’t. Just let them walk on their own feet. Either you will realize that they are strong enough not to count on your help, or they will be thankful for all what you did for them, now that they understand how hard it is. Whichever the case is, it is better than unilateral do what you think to be good for them.

    So, be like Prof. Pham Hung. Act ruthlessly and intolerantly. Let your child, or anyone subordinate to you, be responsible for what they should be. People never learn before they actually experience something and have a feeling about it. Things will turn out better than you may think.

    Những lời hứa tôi chưa thực hiện

    Thầy Hùng của chúng tôi ngày xưa nói, tốt nhất đừng bao giờ hứa.

    Vì chúng ta chẳng ai muốn thất hứa, phải không?

    Nhưng tôi hứa rất nhiều, và tôi sợ rằng rồi tôi sẽ thất hứa cũng nhiều như thế.


    Nhiều năm trước, một ông bạn bảo tôi:

    • Sau này lúc ông về trường, tôi sẽ cho thằng em tôi vào lab ông.

    Tôi ừ như thể sẽ không có gì ngăn được việc tôi về trường.


    Có nhiều lúc tôi nói chuyện khó hiểu. Dĩ nhiên tôi luôn biết tôi muốn nói gì, chỉ là nhiều lúc tôi không làm cho người đối diện hiểu được điều tôi đang nghĩ. Nghĩ kỹ thì, đó có thể xem là một dạng khuyết tật.

    Nhưng tôi muốn làm giảng viên. Chắc nghĩ rằng người như tôi mà giải thích cái gì có lẽ sẽ rất thú vị, trước lúc tôi rời VN, có lần Anish bảo:

    • Bài giảng đầu tiên ở trường, n cho tớ biết để tớ đến dự nhé. Muốn xem cậu giảng thế nào.

    Tôi lại ừ, như thể chắc chắn sẽ có bài giảng đó.


    Bạn có thường hay nói chuyện với người lạ không? Tôi có. Đôi lúc sau cuộc nói chuyện, chúng tôi hiểu rằng có thể sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa. Đôi lúc, chúng tôi hẹn ngày gặp lại.

    Thời sinh viên, tôi hay đi lại từ trường về nhà bằng xe khách, có khi một tháng một lần, có khi một tuần vài lần. Không biết bây giờ xe khách thế nào, ngày đó tôi hay đi loại xe 16 chỗ. Tôi nghĩ xe đó vốn không được thiết kế để làm xe khách, vì giữa các ghế không có gì ngăn cách cả. Nó thích hợp cho gia đình hoặc hội nhóm hơn.

    Một lần, tôi ngồi cạnh một em gái xinh xắn. Em người Thái Bình, lúc đó đang là sinh viên AOF. Tôi thấy mến em. Một phần vì tôi luôn có cảm tình với những người xinh. Ở đâu đó có nói rằng kiếp trước họ đã làm nhiều điều tốt, như là hay cúng dường chẳng hạn, nên kiếp này được xinh đẹp. Tôi đoán là em chẳng còn nhớ chuyện kiếp trước đâu, nhưng tôi nghĩ em đã làm nhiều điều tốt. Một phần nguyên nhân khác là em có hiểu biết và nói chuyện lễ phép.

    Nếu bạn ít nói chuyện với người lạ, có thể bạn không biết có nhiều chuyện người ta không thể nói với người thân, nhưng lại có thể chân thành chia sẻ với một người không quen biết. Cuối cùng thì, người đó không biết bạn là ai, họ chỉ biết câu chuyện của bạn mà thôi. Và chúng ta thường muốn có ai đó nghe câu chuyện của mình. Chỉ được lắng nghe thôi đã là một niềm hạnh phúc rồi (*).

    Và đến một điểm nào đó trong cuộc nói chuyện của chúng tôi, em cho tôi biết em đang bị ung thư não. Lẽ ra em đã không thể thi đại học, hay thậm chí không còn trên đời để nói chuyện với tôi ngày hôm đó nữa. Nhưng có một phép màu đã xảy ra. Cô bé kiên cường ấy đã được xuất viện, đi học lại, và trở thành sinh viên của AOF. Các bác sỹ cũng không giải thích được tại sao, nhưng khuyến cáo rằng rất có thể sẽ tái phát và em phải liên tục kiểm tra lại. Khi chúng tôi nói chuyện với nhau, em cũng không biết rằng mình có thể sống được bao lâu nữa.

    Tôi thật sự quý cô bé ấy và mong có ngày gặp lại. Có vẻ cô bé ấy cũng vậy. Thường thì tôi luôn có thể xin liên lạc, nhưng tôi không làm thế. Chúng tôi hẹn gặp lại nhau, vào một ngày tình cờ nào đó.

    Tôi đã mong rằng vì muốn gặp lại tôi, một người xa lạ, mà em sẽ có thêm một lý do để chiến đấu, nếu chẳng may căn bệnh quay trở lại.

    Tôi đã hứa với em, và chúng tôi chưa hề gặp lại.


    Bức ảnh cuối cùng mà tôi chưa chụp.

    Hai bác chủ nhà rất tốt với tôi. Lẽ ra phải gọi là bác, vì bác gái ngoài 80 còn bác trai hơn 70. Nhưng tôi quen gọi hai bác là cô và chú, nên xin được dùng từ cô, chú ở đây.

    Chú là người hiền hậu và tốt bụng. Có người bạn của tôi khi tới nhà đã nói chỉ nhìn gương mặt chú thôi đã biết đó là một người hiền lành tốt bụng. Chú tốt đến kỳ lạ. Tôi tiếc mình không phải nhà văn, để có thể giải thích cho bạn chú tốt đến thế nào.

    Cô nhiều năm nay bệnh tật triền miên. Mỗi lúc có ai như tôi đến cô vui lắm. Cô chú hay cảm ơn, chỉ vì tôi đến thăm. Tôi ở tầng hai, cô chú ở tầng một. Gần đây bệnh cô nặng thêm. Có lúc cô chẳng còn nghe thấy gì nữa, nhìn cũng chỉ thấy mờ mờ. Bằng cách nào đó, cô vẫn nhận ra tôi đến, và lúc nào cũng thể hiện một niềm vui thuần khiết. Nói niềm vui của một người già là trong sáng và ngây thơ thì có gì đó không đúng, chỉ là tôi không biết miêu tả thế nào khác. Niềm vui mà tôi cảm nhận được từ cô là một thứ niềm vui như vậy.

    Cô thích búp bê, mấy thứ đồ trang sức đơn giản như vòng tay hay mũ. Không cần phải là đồ đắt tiền, chỉ cần mấy thứ đẹp đẹp đủ khiến cô vui. Cô nhìn cũng khó, nhưng vẫn thích làm thơ. Đó là một thể loại giống như haiku, có chữ liễu, có chứ long. Tôi không nhớ nữa. Có lần xem TV họ nói về thơ ấy, cô chú bảo tôi làm thử. Nhưng tiếng Nhật của tôi thì chưa làm thơ được.

    Lúc bệnh cô trở nặng. Có lần đang nói chuyện cô khóc và nói cuộc sống này thật khổ. Cô không muốn làm khổ chú nữa, có khi chết đi lại là hạnh phúc. Cô vừa nói vừa khóc, như một đứa trẻ.

    Cô hay bảo tôi, trước lúc đi Toyama nhất định hãy chụp kiểu ảnh chung với cô chú làm kỷ niệm. Tôi bảo hôm nào trước khi đi sẽ mang máy ảnh xuống chụp một kiểu ảnh thật đẹp.

    Mấy hôm nay virus hoành hành. Tôi sợ nhỡ tôi ra ngoài lây ở đâu rồi mà về gặp cô chú thì không hay. Tôi còn trẻ, nhưng người già sức đề kháng không được như vậy. Tôi sợ nhỡ có chuyện gì thì sẽ ân hận, nên dạo này cố tình không xuống thăm cô chú nữa.

    Hôm nay lúc lên trường, tôi thấy chú mặc vest đen. Mắt chú đỏ. Chú vẫn cười với tôi như mọi lần, nói itterasshai, nhưng có gì đó rất khác.

    Tôi hỏi cô đâu, chú dẫn tôi đến gặp cô, giờ chỉ là bức ảnh và một chiếc hộp. Phòng bên cạnh tiếng tụng kinh của em chú đang vang lên đều đều.

    Đã biết là vô thường, sao lại còn phiền não.

    Chẳng bao giờ tôi làm được cái gì tôi khuyên người khác.

    Chú bảo sợ làm phiền đến chuyện học hành nghiên cứu của tôi, nên suốt từ khi tôi không xuống chú cũng không gọi tôi. Nhiều lúc người Nhật nghĩ cho người khác đến mức có cảm giác xa cách.

    Căn phòng hôm nay không có cái hồn mà nó vẫn có. Cuộc đời là một phép trừ, mà tôi chẳng biết đã trừ tới đâu. Tôi muốn chào cô lần cuối. Lúc trong phòng hai gò má giật giật như lúc đắc khí ngày xưa. Nhưng tôi chẳng nói được gì cả, cũng không nghe được gì, ngay cả cơ thể của tôi cũng không khỏe mạnh.

    Lần này chắc chắn tôi đã thất hứa rồi. Tôi chẳng thể nào chụp được bức ảnh ấy nữa.

    Nếu tôi làm việc chăm chỉ hơn, mọi việc đã xong xuôi từ tháng trước. Tôi đã có thể gặp cô chú nhiều hơn. Chuyện này dẫn đến chuyện kia. Tôi nghĩ đến sự tầm thường của mình, chán ghét nó. Tôi nghĩ đến những lúc đã cố gắng nhìn vào thế giới bên kia. Tôi nghĩ đến những lời hứa, lời xin lỗi, và tôi chẳng muốn nghĩ gì nữa.

    Mong rằng cô vẫn sẽ sống những cuộc đời hạnh phúc.

    (*) I will explain this to those who want to know.

    Cultural difference

    Recently, together with the outbreak of the new corona virus from Wuhan, masks have become a common topic in media coverage and daily talks as well. Most are talking about the scarcity of masks. However, another thing regarding masks has just caught my attention.

    It is the cultural difference in the ways people use masks.

    Before reading an article by Luong san on Spiderum, I didn’t notice that people in the West don’t wear masks as often as us, Asian.

    Masks are necessary to prevent dust from the streets in developing cities (in China or Vietnam for example), to protect ourselves from hay fever during spring (especially in Japan). So we just take it for granted upon seeing someone with mask on. One could wear mask for no reason, just because they want to do so.

    But for Westerners, masks are not normal at all. It seems that they only wear mask when they are ill, or when they want to hide their identity. So, if a Westerner sees someone wearing mask, they would naturally think either that person is ill, or he/she is about to do something bad (e.g. joining a riot, committing bank robbery, etc.). As people tend to stay away from those who are ill on the streets, people with masks, many from the East, would feel being discriminated, while it may not completely be true.

    I was actually so surprised upon reading Luong san’s post that I double-checked it with some Lang-8 users. Turned out it is true. Until now, if someone talks about differences between people from the West and those from the East, it has always conjured up my thoughts about how people use cameras while travelling, but from now on, probably I will as soon think of masks.

    Leko

    Tôi thích là một người bí ẩn, nhưng đồng thời tôi lại muốn chia sẻ nhiều thứ với mọi người. Bạn có thể thấy mâu thuẫn ở đây. Tôi giải quyết mâu thuẫn đó bằng cách không dùng tên thật.

    Hôm nay tôi muốn nói về Leko Peter, bạn tôi.

    Tôi biết Leko năm chúng tôi 14 tuổi. Ngày đó tôi không chơi với ai trong lớp, trừ những người ngồi gần tôi. Chẳng có lý do gì đặc biệt, chắc vì tôi ngại làm quen. Nói chung, tôi không biết gì về Leko cho tới khi có kỳ thi chọn đội tuyển của khối. Leko xếp thứ nhất. Đây là một trường hợp đặc biệt, vì tôi thấy những đứa xếp hạng cao thường tỏ ra nổi bật, Leko thì không. Một anh bạn khác nói rằng đấy chỉ là ngẫu nhiên. Lần thi tới chắc Leko không xếp cao vậy.

    Nhưng không, lúc nào Leko cũng xếp hạng rất cao, và chẳng bao giờ tỏ ra nổi bật.

    Tôi nghĩ Leko giỏi. Có lần, hồi chúng tôi học lớp 10, thầy ra bài tập về nhà. Lần ấy ngoài Leko ra chẳng ai giải được. Tôi không nhớ bài tập đó thế nào, chỉ nhớ rằng để giải nó cần phải xử lý một hệ phương trình vi phân. Chắc là vi phân cấp 1 hoặc cấp 2 gì đó thôi, tôi nghĩ nó không quá phức tạp. Có điều, mấy đứa trẻ lúc nào trong đầu cũng nghĩ chắc mình nằm trong nhóm thông minh nhất vịnh Bắc Bộ, chẳng đứa nào giải được, trừ Leko. Để giải hệ phương trình đó cần một biến đổi đơn giản nhưng rất tinh tế, mà lúc nhìn vào tôi nghĩ thầm: Thế quái nào lại có đứa tự nhiên nghĩ ra được cái biến đổi này. Thầy tôi khi ấy nói, để giải toán thì cần kinh nghiệm, may mắn, và đôi khi là những suy nghĩ kỳ lạ, hay là phép màu. Tất nhiên bạn càng thông minh và nhiều kinh nghiệm thì may mắn và những suy nghĩ kỳ lạ càng hay đến. Lớp 11, Leko có giải quốc gia đầu tiên trong lớp, và tiếp tục lặp lại chuyện đó vào năm sau.

    Tôi với Leko về sau học cùng trường đại học và còn ở cùng nhà nữa. Chúng tôi cùng ở nhà Tal vài năm. Thời gian ấy, trên confession của trường có lần tôi đọc được bạn hay em nào đó viết: Ở trường T, bạn sẽ gặp những thằng làm bạn băn khoăn không hiểu chúng nó tới Trái Đất có mục đích gì. Tôi đoán tác giả của cái confession đó đang nói về Leko và những đứa tương tự. Có thể là hôm đó vừa nói chuyện với một người như Leko rồi về viết cái confession đó cũng nên.

    Tôi nhớ đã học toán cho công nghệ lớp thầy Đô LP. Thầy là người rất cá tính. Một lần, tôi nhớ thầy nói câu gì đó trong lớp khiến tôi phải nghĩ thầm trong bụng: Quả là chân lý. Nếu giảng viên toán nào cũng phát biểu được như vậy thì thế giới quan của cả một thế hệ sinh viên sẽ thay đổi. Nhưng hình như có mỗi thầy nói được như vậy thôi. Giờ tôi cũng chẳng còn nhớ đó là câu gì nữa.

    Toán trong công nghệ thực ra là xác suất thống kê cộng với giải tích phức. Tất nhiên các giáo trình viết cho sinh viên công nghệ, nên các ví dụ đều là ví dụ trong công nghệ, chẳng hạn xác suất thì sẽ là xác suất thất lạc gói tin hoặc thứ gì đó tương tự. Trong lớp, nếu ai trả lời đúng câu hỏi bất kỳ của thầy thì sẽ được 10 điểm kiểm tra miệng. Nếu được nhiều điểm 10 quá thì không phải thi giữa kỳ. Tôi và Leko khác ngành nhưng cùng học môn này. Nghe nói Leko không phải thi giữa kỳ.

    Một dạo, lúc đó chắc khoảng năm 3 năm 4 gì đó, Leko nói muốn kiếm tiền. Hồi đó ông bạn tôi bắt đầu bằng cách click quảng cáo để kiếm tiền. Vâng, bạn có thể click quảng cáo trên web để kiếm tiền, nhưng năng suất cực thấp. Leko đã tìm ra cách kiếm tiền thụ động bằng cách để một cái script Python tìm và click vào quảng cáo. Cái thú vị nhất mà cái script đó làm được là nó có thể đọc màn hình và click vào ô “Tôi không phải người máy.” Cái cảm giác thấy con người máy nó nói “Tôi không phải người máy,” nó thú vị.

    Nhưng kiếm tiền kiểu đó hơi tốn điện và cũng chẳng kiếm được bao nhiêu. Lần tiếp theo ông bạn tôi muốn đầu tư vào một lĩnh vực nhiều trí tuệ hơn: Đánh đề. Tôi không biết thuật toán là gì, hình như đơn giản là cứ thua thì lần tiếp theo đánh gấp đôi. Leko thắng lớn … trong mô phỏng. Đến lúc đưa dữ liệu thật vào chạy thì hết sạch tiền. Nói chung thì tôi nghĩ hoặc là bộ sinh số ngẫu nhiên trong máy tính chưa được ổn lắm, hoặc nó ổn rồi nhưng dữ liệu xổ số quá ngẫu nhiên, ngẫu nhiên hơn cả mấy cái dãy ngẫu nhiên máy sinh ra. Thế là Leko bỏ ý định làm giàu bằng xổ số.

    Leko có nhiều phát biểu thú vị. Nhiều quá tôi cũng chẳng nhớ nữa. Nói chuyện với Leko nhiều khi thấy rất buồn cười, mà vẫn thấy có lý. Tất nhiên cũng có lúc vô lý. Tôi tiếc là không nhớ nhiều cuộc nói chuyện khi ấy mà kể lại ở đây.

    Hồi đó, chúng tôi hay cùng ăn tối, xem thời sự và nói chuyện. Cái phần thảo luận chuyện thời sự đó lúc nào cũng gây cười kinh khủng. Tôi nhớ có lần ba thằng chúng tôi cười ngặt nghẽo, mà mọi người còn lại không hiểu chuyện gì xảy ra. Chúng tôi dễ bị kích động bởi những chi tiết mà người khác không quan tâm, hoặc không hiểu, hoặc không hiểu nhanh, hoặc hiểu mà không thấy buồn cười tý nào.

    Mấy hôm nay tôi có việc nhờ Leko. Có lúc tôi nói về chuyện tiền bạc, thấy có vẻ chẳng biết bao nhiêu là đủ. Leko bảo tôi, ông nhìn bọn học kinh tế không biết cài máy tính thì cũng giống như bọn nó nhìn ông không biết quản lý tài chính ấy.

    Thường thì Leko hay nói những cái đơn giản như thế, những thứ không nói ra thì người ta không thèm nghĩ tới, mà nói ra rồi thì ai cũng thấy là hiển nhiên.

    Nhưng mà không biết cài máy tính thì chán thật.

    Những câu chuyện về cái chết tôi từng nghe

    Tôi chưa bao giờ sợ chết. Tôi sợ ma, tôi sợ đau. Chỉ thế thôi.

    Trước khi tôi kịp sợ chết, tôi đã được chỉ, được đọc về nó. Cuối cùng, tôi chỉ còn sợ đau.

    Mấy câu chuyện này, tôi nghe xung quanh lúc đọc Tây Tạng Sinh Tử Kỳ Thư, hay Tạng Thư sống chết. Tôi nghĩ sự thật về cái chết có thể được tìm thấy ở cuốn sách này, hay bất kì bài giảng nào của thầy Gautama về luân hồi.

    Nhưng những sự thật đó là quá sớm với một số người. Tôi nhớ trước đây, lúc khoảng 13, 14 tuổi. Với tôi đi xem bói hoặc cầu hồn đơn giản là mê tín. Nếu có phép màu nào đó xảy ra để tôi được nói chuyện với chính mình mười mấy năm trước, chắc cậu em đó sẽ bị sốc. Những câu chuyện dưới đây tôi kể, chỉ vì có chữ “chết” trong đó. Còn nếu bạn muốn tìm kiếm sự thật, mà không có một vị thầy nào, thì tôi tiến cử cuốn sách trên.


    Người ngoài hành tinh nói chuyện

    • Lúc tôi tạo ra chúng, tôi không nghĩ chúng phát triển nhanh đến thế.
    • Tôi nghĩ tất cả là vì anh đã không làm chúng bất tử. Nếu chúng bất tử, thì chắc giờ này chúng vẫn còn đang săn bắt hái lượm.

    Người ta nói rằng dân cư các xứ phương Đông làm việc ít hối hả hơn phương Tây vì sâu thẳm trong tiềm thức, họ tin vào sự tái sinh. Họ tin rằng họ luôn có một cơ hội khác. Người phương Tây thì tin rằng họ chỉ có một cơ hội, nếu muốn để lại dấu ấn trên cuộc đời này.

    Tất nhiên tôi tin vào tái sinh và luân hồi.


    Đám ma một vị thầy

    • Này các con có thấy không, đám ma ông ấy, ta thấy ba kẻ đã chết đi khiêng một người còn sống.

    Vị thầy ấy đã giác ngộ.


    • Bạn hãy sống như thể hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời mình.
    • Tôi thích ăn bánh, nên đầu tiên tôi sẽ bỏ việc, dùng hết tiền của tôi để mua bánh và về quê. Tôi sẽ ăn bánh với bố mẹ tôi cho đến hết ngày cuối cùng này.

    Bạn có thể thích cái khác, không phải bánh. Dù bạn thích gì, xin nhớ hôm nay không phải là ngày cuối cùng của bạn. Và bạn chẳng biết được đâu, hôm nay có thể là ngày cuối cùng của bất kỳ ai xung quanh bạn. Mỗi khi bạn nổi nóng với ai đó, mỗi khi bạn chuẩn bị nói điều gì có thể làm tổn thương người khác, xin hãy nhớ lấy.

    • Hãy sống như thể hôm nay là ngày cuối cùng của bất kì ai quanh bạn.

    Professor Palihawadana:

    • Khi còn trẻ, tôi nghĩ tôi sẽ sống đến 40 tuổi. Như thế là quá nhiều, tôi nghĩ sẽ thực hiện mọi dự định trước tuổi 40. Nhưng đến giờ tôi vẫn còn sống. Thực ra, hoàn toàn không có vấn đề gì nếu tôi ra đi vào ngày mai.
    • Tôi đã luôn chuẩn bị để hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời mình.

    Ngay cả trước đó, không hiểu sao tôi luôn quý cô ấy. Có thể sống một cuộc đời như vậy là mơ ước của tôi.


    Trên sườn núi

    • Này, ta muốn làm chuyện ấy với con.
    • AAA!

    Cô bé hét lên rồi bỏ chạy. Cô không hiểu sao vị sư già đáng kính ngày hôm đó lại biến thành con người ghê tởm như vậy. Cô về kể với mẹ.

    Mẹ cô, với niềm tin mãnh liệt vào thầy, nói với con gái:

    • Thầy luôn làm điều tốt cho mọi người. Nếu thầy muốn vậy, đó là điều tốt. Con hãy quay lại và để thầy làm điều gì thầy muốn.

    Cô bé không thích thế, nhưng cô tin mẹ cô. Cô quay lại nói với thầy.

    • Con xin lỗi đã bỏ chạy khi nãy. Thầy có thể làm gì thầy muốn.
    • Muộn mất rồi con của ta. Hắn đã đầu thai vào một con dê ở đằng kia mất rồi.

    Có kẻ tu hành chưa chứng, mất nay đã gần 49 ngày. Thầy thương công hắn, muốn cho hắn một kiếp người đặng tiếp tục tu hành. Số trời khó thoát.

    Câu chuyện cuối cùng này, tôi không nhớ nữa, nhưng hình như là thầy tôi đã kể cho tôi trước khi tôi sang đây. Về sau trong các sách vở tôi đọc được rằng trong 49 ngày đầu thần thức của con người ở trạng thái không cân bằng, có những hoảng loạn do chưa thích nghi với hiện trạng mới. Tôi không chắc chắn về sự tồn tại của quỷ dạ xoa hay cái gì tương tự, nhưng có nơi chép rằng gần đến ngày thứ 49 linh hồn bị truy bắt để đem về địa ngục (xin đừng hiểu là một không gian vật lý). Tử cung là nơi an toàn nhất cho linh hồn, nên nếu có thể được chúng sẽ ẩn nấp nơi đó, và đầu thai.

    Xin lỗi nếu các bạn thấy những điều này dị đoan, nhưng người kể câu chuyện ở trên là một nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực của thầy. Thầy cũng là người mà tôi tin tưởng và yêu kính như cha.

    Linh hồn tiếng Việt

    Tôi từng lờ mờ nghĩ rằng tiếng Việt của mình có gì đó nhiều hơn thế. Nhưng cũng như nhiều chuyện khác, thứ gì hiểu ta vẫn hiểu, dù ta chẳng cần giải thích. Cũng có thể, vì khi ta học tiếng Việt, người ta không hỏi ta giải thích ngữ pháp những câu thành ngữ tục ngữ này, vì người ta cũng đâu học về ngữ pháp của chúng.

    Khi học tiếng Nhật, tôi có cảm nhận rất rõ rằng tiếng Nhật và tiếng Việt là hai thứ tiếng gần gũi. Đến cả những cách xưng hô trong gia đình, khi sensei nói với chúng tôi rằng nó kỳ lạ, tôi cũng chẳng thấy kỳ lạ chút nào. Nó lạ với mấy bạn trẻ đến từ Âu Mỹ thôi.

    Hóa ra, tiếng Việt thiên về đề-thuyết giống như mấy ngôn ngữ xung quanh chúng ta, chứ không phải chủ-vị như các ngôn ngữ Ấn Âu. Bạn của tác giả nói mấy câu thành ngữ làm ông hiểu về tiếng Việt nhiều hơn cả hai mươi năm học tập. Là một người Việt, tôi hoàn toàn đồng ý với suy nghĩ ấy, chính tôi cũng được bài viết này làm cho mở mang thêm nhiều điều.

    Cao Xuân Hạo đã trở thành học giả yêu thích của tôi!


    Tác giả: Cao Xuân Hạo

    Tuần báo Văn Nghệ số Xuân Tân Tỵ, 2001

    Tôi có một bạn đồng nghiệp người Tiệp Khắc, tên là Ivó Vasiljev, tuổi ngoại ngũ tuần, nổi tiếng giỏi ngoại ngữ. Tiếng Việt anh nói giọng Hà Nội đặc, đến nỗi ai cũng bảo là nếu không trông thấy đôi mắt xanh và mái tóc vàng của anh thì tưởng đâu anh là dân Tràng An chính cống.

    Một hôm cùng anh đi máy bay từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội, để qua thì giờ trong khi ngồi trong ga đợi giờ ra máy bay, tôi bày trò đố anh mấy câu tục ngữ xem thử anh hiểu tiếng Việt sâu đến mức nào. Thoạt tiên tôi đố anh câu Vàng gió đỏ mưa. Chỉ sau 5 phút anh hỏi lại:

    – Có phải cũng nói là Vàng thì gió, đỏ thì mưa không?

    Tôi nói phải, thì anh cho biết là nhiều thứ tiếng châu Âu cũng có những câu tương tự trong cái vốn tri thức gọi là “khí tượng học dân gian”, cho nên anh đoán được nghĩa của câu tục ngữ Việt Nam một cách khá dễ dàng. Sau khi lên máy bay, tôi lại đem câu Chó treo, mèo đậy ra đố anh. Lần này, anh nhắc đi nhẩm lại mấy lần rồi chìm sâu vào suy tưởng, suốt mấy tiếng đồng hồ bay không nói một câu nào, chỉ nhắc khẽ câu tục ngữ tôi vừa “ra” cho anh, cố phân tích, tìm hiểu nội dung ý nghĩa của nó. Máy bay đến Nội Bài. Anh vẫn chưa nghĩ ra. Xe về đến Hà Nội, mà anh vẫn chưa trả lời tôi được.

    Khi chia tay, tôi định giảng cho anh hiểu để kết thúc trò chơi, giải thoát anh ra khỏi một vấn đề có thể làm anh mệt thêm sau chuyến đi, thì anh cương quyết ngăn lại, và hứa với tôi là đến sáng mai khi gặp lại sẽ trả lời. Hôm sau, mới trông thấy tôi ở phòng họp, Vasiljev đã gọi tôi tới và xin đầu hàng không điều kiện, thú thật là vấn đề quá khó đối với anh: anh đã xoay đi xoay lại câu tục ngữ, tìm cách phân tích kiểu này kiểu khác, cố nhớ  thêm điển tích qua thơ cổ điển Việt Nam và Trung Quốc, v.v. Rốt cục đầu đau như búa bổ, thậm chí cả đêm chỉ ngủ được ba tiếng, mà vẫn không sao tìm ra một cách hiểu khả dĩ chấp nhận được.

    Sau buổi họp, khi chúng tôi ngồi ăn tối với nhau, Vasiljev nói: – Ban đầu tôi cứ tự hỏi xem con chó nó treo cái gì, con mèo nó đậy cái gì, sao không thấy nói? Mà chó với mèo thì làm gì có tay mà treo mà đậy? Sẵn có cuốn từ điển Việt-Pháp, tôi tra đi tra lại hai chữ treo và đậy, điểm qua mọi thứ nghĩa đen nghĩa bóng, mà vẫn thấy nó tối mò mò. Đến một lúc nào đó tôi chợt nhớ ra rằng người Việt có ăn thịt chó, vậy có phải đây là nói về cách làm thịt chó và thịt mèo chăng? Tôi thử vận dụng vốn hiểu biết của tôi về chữ thì (đã nhiều lần chữ này cứu tôi trong những trường hợp lâm vào thế bí). Vậy ta có: Chó thì treo, mèo thì đậy. Tôi nghĩ: liệu có phải “khi làm thịt chó thì phải treo nó lên, còn khi làm thịt mèo thì phải đậy nó lại” không? Câu đầu có vẻ có lý, nhưng câu sau thì xem ra chẳng có nghĩa lý gì, thế mà hai câu lại đối ứng với nhau, chắc cấu trúc phải như nhau. Tôi đành từ bỏ giả thiết này, và rốt cục tôi phải tự nhủ là tôi biết tiếng Việt chưa đủ để hiểu những câu như thế, vì một khi nó đã là tục ngữ thì mọi người Việt phải hiểu (có hiểu mới nhớ được, và có được mọi người hiểu và nhớ thuộc lòng nó mới thành tục ngữ).

    Là một nhà ngôn ngữ học chuyên nghiệp, Vasiljev quan niệm hoàn toàn đúng về tục ngữ và văn học dân gian nói chung cũng như về cái khó mà một người ngoại quốc gặp phải trong khi học một thứ tiếng mà mình chưa thật hiểu cái hồn của nó. Cái hồn ấy, cái mà Wilhelm von Humboldt gọi là Volkstum ‘hồn dân’, và Sprachestum ‘hồn tiếng’ mà người bản ngữ đều mang trong xương tủy, và chỉ một số cực kỳ ít ỏi những người ngoại quốc sống rất lâu giữa lòng bản ngữ mới có được. Qua những lời tâm sự của Vasiljev, tôi thấy được phần nào tại sao anh không thể hiểu được câu tục ngữ nói trên. Là người châu Âu, anh đã quá quen tư duy bằng thứ ngôn ngữ dùng kiểu đặt câu “chủ-vị” của tiếng châu Âu, cho nên khi nghe (hay đọc) mấy chữ chó treo, mèo đậy, phản ứng tự nhiên của anh là hiểu chó như “chủ ngữ”, treo như “động từ”, và hiểu câu ấy là “chó làm cái việc treo, mèo làm cái việc đậy”. Đó là cái nghĩa duy nhất mà một câu tiếng Âu châu có cấu trúc như trên cho phép hiểu. Ngoài cái vai “kẻ hành động” ra, chủ ngữ của tiếng châu Âu chỉ còn đóng được hai ba vai khác, như vai người hay vật mang một tính chất (nó mập), có một tình cảm (nó buồn), v.v. mà thôi.

    Trong khi đó, câu trong những thứ tiếng không có chủ ngữ như tiếng Việt có một cấu trúc khác hẳn: nó gồm hai phần trong đó phần thứ nhất nêu lên một cái đề (một đề tài) còn phần thứ hai nói một điều gì có liên quan đến cái đề ấy. Phần này gọi là thuyết. Đề có thể bất cứ là vai gì, có bất cứ quan hệ gì với thuyết, miễn sao thành một nhận định có ý nghĩa, có một nội dung thông báo nào đấy, cho nên các kiểu câu trong các thứ tiếng này đa dạng gấp mấy mươi lần các kiểu câu của tiếng châu Âu. Những người ngoại quốc dù giỏi tiếng Việt đến như Vasiljev cũng không thể nào hình dung được hết những mối quan hệ đa dạng như vậy giữa đề và thuyết, chừng nào họ chưa thấu hiểu được cái hồn của câu tiếng Việt – cái tinh thần mà cấu trúc đề-thuyết là một trong những biểu hiện rõ nét.

    Ngay như việc Vasiljev hiểu được rằng trong chó (thì) treo, chó có thể là đối tượng của treo chứ không cần gì phải dùng kiểu “câu bị động” (“chó bị treo”) mới hiểu được như thế, cũng cho thấy anh đã bắt đầu quen với cách nói tóc nó cắt ngắn, bàn lau chưa sạch, sách viết rất hay để không bao giờ nói hay viết những câu “Tây” như tóc nó được cắt ngắn, bàn bị lau chưa sạch (trong khi có những sách tiếng Việt cho rằng kiểu câu sau mới “chuẩn”, còn kiểu câu trước là “câu què” (vì thiếu chủ ngữ) hay ít nhất là “không chuẩn” (vì không có “thái bị động” như tiếng Tây). Tiếng Việt không có chủ ngữ ngữ pháp như trong tiếng Âu châu, thì cách đây 60 năm nhà thơ Đoàn Phú Tứ đã thấy rõ trong bài Đi tìm chủ từ trong Truyện Kiều, và năm 1965 một nhà ngữ học Mỹ là L.C. Thompson cũng đã khẳng định như vậy .

    Những câu đơn (có một đề và một thuyết) như

    Tham thì thâm.

    Có kiêng (thì) có lành.

    Tay làm (thì) hàm nhai.

    Trên thuận (thì) dưới hòa. (Trên mà thuận thì dưới sẽ hòa) hay (Trên có thuận thì dưới mới hòa)

    Trong ấm (thì) ngoài êm.

    Đất lành (thì) chim đậu.

    Cha nào (thì) con ấy.

    Tre già (thì) măng mọc.

    và những câu ghép (gồm hai câu đơn sóng đôi cân xứng với nhau (đối nhau), mỗi câu đơn có một đề và một thuyết), như

    Bên lở, bên bồi. (Bên thì lở, bên thì bồi)

    Bồi ở, lở đi. (Chỗ nào đất bồi thì ở, chỗ nào đất lở thì đi tìm chỗ khác)

    Nát dẻo, sống bùi. (Cơm có nát thì nên khen là dẻo, cơm có sống thì khen là bùi)

    Nhiều no, ít đủ. (Có nhiều thì lấy làm no, có ít thì lấy làm đủ)

    Trên thuận, dưới hòa. (Trên thì thuận, mà dưới thì hòa)

    Cần tái, cải nhừ. (Rau cần thì ăn tái, rau cải thì ăn nhừ)

    Mềm nắn, rắn buông. (Thấy mềm thì nắn, thấy rắn thì buông)

    là những mẫu mực lý tưởng của cú pháp tiếng Việt. Khi tôi gửi cho Vasiljev mấy câu này kèm theo đôi lời bình luận và cắt nghĩa, anh chân thành cảm ơn và trả lời rằng “chỉ có mươi câu tục ngữ mà làm cho tôi hiểu được ngữ pháp tiếng Việt gấp mười lần so với thời gian 20 năm tôi đã trải qua trước đây để học tiếng Việt”.

    Trong ca dao, những cấu trúc hoàn toàn tương tự như thế được khai triển thành những câu thơ lục bát hay thất ngôn, và trong những bài thơ của các tác gia cổ điển cũng như hiện đại, ta đều gặp lại chính những cấu trúc ấy. Ta có thể tìm thấy lại đúng cái khuôn mẫu ấy, với những biến thể muôn màu của nó, trong tất cả mấy ngàn tỉ câu thơ và văn xuôi Việt Nam mà sách ngữ pháp chỉ phản ánh không đến một phần tỉ, dù chỉ kể những mô hình tiêu biểu. Ngay cả trong thơ tự do và thơ không vần mô phỏng các thể thơ “hiện đại” của phương Tây, cũng không thể tìm thấy một cấu trúc nào xa lạ với những cấu trúc đề – thuyết ấy, vốn bao hàm những mối quan hệ cú pháp đủ đa dạng, đủ phong phú để biểu đạt bất cứ nội dung nào.

    Trong tiếng nói hàng ngày của chúng ta, nếu không kể sự đối xứng và hiệp vần đặc thù của thơ, của tục ngữ hay ca dao, và những khuôn khổ nhiều khi rất nghiêm ngặt mà các thể loại này quy định, cũng hoàn toàn tuân theo chính những mô hình ấy. Chỉ có điều là trong câu văn xuôi dùng để giao tiếp với nhau hàng ngày, phần đề trong câu nhiều khi không cần thiết và do đó thường vắng mặt nếu người nghe đã biết rõ người nói đang nói về ai, về cái gì hay về đề tài nào, trong khuôn khổ nào (nhờ tình huống lúc phát ngôn hay nhờ ngôn cảnh), trong khi chủ ngữ của tiếng Âu châu không thể nào vắng mặt như thế.

    Cả loài người chỉ có một cách tư duy, cho nên trong thứ tiếng nào của nhân loại thì câu cũng phải có đề và có thuyết: dù nói gì cũng phải cho biết mình nói về đối tượng nào, về đề tài gì, và kế theo là đưa ra một nhận định về cái đối tượng ấy, trong phạm vi cái đề tài ấy. Còn chủ ngữ chỉ có thể có trong những thứ tiếng nào đánh dấu riêng một vai hay một số vai nhất định – những vai hay được đưa ra làm đề tài nhất (như vai người hành động chẳng hạn), và cái vai ấy đâm ra có một đặc quyền riêng trong câu. Ngay trong những thứ tiếng ấy, câu vẫn không thể không có đề và thuyết. Chủ ngữ chính là một thứ đề, nhưng là một thứ đề được phân một số vai nhất định (rất ít ỏi so với các thứ đề của tiếng Việt) và do đó đề không phải bao giờ cũng được đánh dấu như một chủ ngữ (bằng hình thái “cách” chẳng hạn), cho nên trong tiếng Âu châu, đề không phải là một yếu tố cú pháp. Nó thuộc bình diện nghĩa của câu, cho nên không nhất thiết phải được nói đến trong sách ngữ pháp. Ngược lại, trong những thứ tiếng như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng La-hu, tiếng Nùng, tiếng Nhật, hay tiếng Triều Tiên, đề được đánh dấu rất rõ.

    Trong tiếng Việt, đề được đánh dấu bằng chữ thì (có thể được thay bằng là hay mà trong một số trường hợp nhất định. Chữ Thì là một từ công cụ chỉ dùng để đánh dấu biên giới giữa đề và thuyết của câu. Trong mỗi câu chỉ có thể có một chữ thì, trừ phi trong câu có hai kết cấu đề – thuyết tương phản như

    Trên thì bừa cạn, dưới thì cày sâu. hay

    Có mấy cái cuốc mà cái thì cùn, cái thì mẻ.

    Khác với chữ wa của tiếng Nhật và chữ nun của tiếng Hàn (cũng là những phương tiện đánh dấu biên giới giữa đề và thuyết), chữ thì trong tiếng Việt chỉ dùng một cách bắt buộc khi nào biên giới đề-thuyết không được rõ. Thì, là, mà là ba chữ mà vì không hiểu công dụng cho nên nhiều người cho là hoàn toàn vô ích. Thậm chí tôi đã từng biết những biên tập viên đánh giá văn chương theo số chữ thì, là, mà mà tác giả dùng: càng ít thì là mà, thì văn càng hay, càng nhiều thì là mà thì văn càng dở, cho nên có biên tập viên suốt ngày chỉ đi tìm thì là mà trong các bản thảo cần biên tập để bỏ cho bằng hết.

    Thế nhưng, khi tính đếm số thì là mà trong các tác phẩm văn học và tính tỷ lệ so với tổng số chữ trong tác phẩm, thì thấy Nguyễn Du dùng thì là mà (trong Kiều) nhiều hơn hẳn các tác giả khác, nhất là các nhà thơ (các nhà văn xuôi tuy không sánh kịp Nguyễn Du về số thì là mà nhưng vẫn vượt xa các nhà thơ, nhất là trong thơ hiện đại). Mà thơ của Nguyễn Du thì chắc không người Việt nào cho là dở. Trong một số sách ngữ pháp tiếng Việt gần đây cũng có nói đến đề dưới nhãn hiệu “đề ngữ”, nhưng nó bị coi là “thành phần phụ” của câu trong khi “chủ ngữ” mới là thành phần chính. Giả dụ câu tiếng Việt có “chủ ngữ” thật, thì qua cách xử lý chữ đều trong mấy câu sau đây ta có thể thấy rõ đề mới là thành phần chính:

    a. Áo cũ quần cũ đều dùng được.

    b. *Cái áo này đều dùng được.

    c. *Bà ta đều mua áo cũ quần cũ.

    d. Áo cũ quần cũ bà ta đều mua tất.

    Bốn câu này đều có dùng chữ đều (vốn dùng để chỉ số phức). Hai câu b. và c. không chấp nhận được vì đề (kiêm “chủ ngữ”) có số đơn. Trong câu d. “chủ ngữ” (không kiêm đề) có số đơn, nhưng đề lại có số phức, cho nên câu hoàn toàn đúng ngữ pháp: như vậy, khác với tiếng châu Âu, là những thứ tiếng mà chủ ngữ quyết định số phức hay số đơn của động từ, trong tiếng Việt yếu tố quyết định lại là đề (áo cũ quần cũ) chứ không phải là chủ ngữ (bà ta) dù ta có cho rằng bà ta là chủ ngữ như trong tiếng Âu châu.

    Trong hầu hết các kiểu câu còn lại như

    Thứ nhạc này tôi không thích.

    Trong vườn trồng toàn cam.

    Ngày xưa có anh Trương Chi, v.v.

    không thể nào bỏ phần đề (phần gạch đáy) được.

    Vì phân tích cú pháp tiếng Việt theo kiểu ngữ pháp châu Âu, sách dạy tiếng Việt ở trường phổ thông chỉ miêu tả và phân tích những kiểu câu nào hoàn toàn giống câu tiếng Pháp, tức khoảng không đến 30% trong các kiểu câu thông dụng trong tiếng Việt mà đồng bào ta vẫn nói hàng ngày, trong khi hơn 70% kiểu câu còn lại, đều hết sức thông dụng trong tiếng nói hàng ngày, trong văn xuôi và văn vần hiện đại cũng như trong thơ ca cổ điển và trong ca dao tục ngữ, thì học sinh chưa từng được học cách phân tích, ngay cả ở các lớp chuyên ban và ở đại học.

    Những kiểu câu không giống tiếng Pháp thì một là không học, hai là bị uốn nắn lại cho giống tiếng Pháp, ba là bị lược bỏ bớt đi một phần cho vừa cái khuôn tiếng Pháp. Chẳng hạn một câu đơn giản mà ai cũng nói và viết rất tự nhiên là Tôi tên là Nam mà cũng đã vượt ra ngoài cái khung eo hẹp của cú pháp châu Âu và do đó mà bị các nhà ngữ học xử lý thật tàn tệ. Nhiều người cho rằng câu này “đúng ra” phải viết là Tên (của) tôi là Nam, với chủ ngữ là Tên tôi, động từ là là. Chứ cứ để nguyên thì không thể phân tích được.

    Theo họ ở trường cần tránh dạy kiểu câu này, và nên dạy cho các em viết đúng câu chuẩn như vừa dẫn, vì nói Tôi tên là Nam có khác gì nói Tên tôi là Nam đâu? Chẳng qua là một cách nói “biến dạng”, “lệch chuẩn” mà thôi. Ta cần gì những kiểu nói vô văn hóa, sai ngữ pháp như thế?

    Nhưng thật ra hai câu khác nhau rất rõ: Câu trước nói về Tôi cho nên có thể tiếp: Tôi tên là Nam, sinh ở Huế, có ba con, còn câu sau nói về cái Tên của tôi, nên không thể tiếp như vậy (Tên gì lại có ba con?), mà chỉ có thể tiếp: Tên tôi là Nam, do ông tôi đặt, tuy không hay, nhưng tôi thích lắm. Còn nếu muốn tiếp như câu trước thì phải đổi cái đề: Tên tôi là Nam; tôi có ba con. Một số tác giả khác cho rằng trong câu Tôi tên là Nam, thành phần chính của câu chỉ có tên (chủ ngữ) và là Nam (vị ngữ) là thành phần chính, còn Tôi (“đề ngữ” hay “khởi ngữ”) là “thành phần phụ” hay “nằm ngoài câu”. Nhưng cứ thử bỏ Tôi đi mà xem, còn lại Tên là Nam thì có còn ra câu được nữa không? Nhưng Tên là Nam mới phù hợp với kiểu câu “chuẩn”, kiểu “danh là danh” của tiếng Âu châu.

    Cộng thêm vào đó là cái lối dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ đa âm tiết: hễ “từ” tiếng Pháp (hay tiếng Nga) có mấy từ tố thì “từ” tiếng Việt cũng có bấy nhiêu tiếng (âm tiết). Người ta quên mất rằng đơn vị cơ bản của tiếng Việt là tiếng, chứ không phải là từ. Chẳng qua người ta lẫn lộn từ với ngữ định danh tức một cụm gồm nhiều từ dùng để gọi tên một sự vật. Xe là một từ, đạp là một từ: điều này ai cũng thừa nhận. Nhưng xe đạp, lạ thay, lại cũng là một từ (1+1=1). Để biện hộ cho phép tính cộng lạ đời này, người ta dám nói rằng hai chữ xe đạp không phải là chữ xe và chữ đạp trong đạp xe, mà chỉ tình cờ đồng âm với nhau thôi, và xe đạp tuyệt nhiên không phải là một thứ xe. Bằng cách đó, người ta phủ nhận đến cùng cái tinh thần chủ đạo của từ vựng học tiếng Việt: tinh thần của một ngôn ngữ phân tích tính đơn tiết, gọi tên sự vật bằng một tiếng duy nhất hay bằng hai ba tiếng bổ nghĩa cho nhau bằng những quan hệ cú pháp, với những tiếng có nghĩa rất khái quát như xe, máy, đòn, bàn, làm trung tâm, còn từ sau làm định ngữ (Xe gì? – Xe đạp; Dưa gì? – Dưa hấu.)

    Bất kỳ nhà ngữ học nào, sau khi đọc một cuốn sách ngữ pháp mà ta dùng để dạy tiếng Việt cho học sinh, cũng phải kết luận ngay rằng “tiếng Việt là một ngôn ngữ Ấn Âu điển hình, tuy đã mất hết các hiện tượng biến hình trong hình thái học”. Vì cái linh hồn của thứ ngữ pháp ấy là linh hồn của các thứ tiếng châu Âu, chứ không phải của tiếng ta. Cũng khá nhiều người nói rằng ngữ pháp “đề-thuyết” rất đúng với tiếng Việt cổ – tiếng Việt của ca dao tục ngữ, của Ức Trai thi tập, của Kiều, của Chinh phụ ngâm, nhưng không còn đúng với tiếng Việt hiện đại, vì ngày nay, do tiếp xúc với ngoại ngữ, tiếng Việt đã “sao phỏng” ngữ pháp châu Âu mà trở thành y hệt như tiếng họ rồi – một sự chuyển biến đáng mừng, vì có thế ta mới thực sự “hội nhập” với thế giới hiện đại được.

    Những người nghĩ như thế quên mất rằng tư duy của loài người là một, nhưng các phương tiện biểu đạt tư duy trong các thứ tiếng lại vô cùng phong phú và đa dạng. Và chính tính đa dạng của ngôn ngữ, cũng như của các lĩnh vực khác trong nền văn hóa dân tộc, làm cho sự hội nhập có thể được thực hiện mà không dẫn tới sự đơn điệu tẻ nhạt. Một dân tộc đã đánh mất cái linh hồn nằm sâu trong tiếng mẹ đẻ của nó liệu còn có thể giữ được cái bản sắc độc đáo trong nền văn hóa dân tộc được không, và từ đó, còn có thể đóng góp được gì vào bức tranh muôn màu của văn hóa nhân loại?

    Không! Linh hồn của tiếng Việt không hề mất. Cái ý vị vô song của ca dao tục ngữ, của những câu Kiều, những câu ngâm của người chinh phụ vẫn còn sống mãnh liệt trong tiếng nói hàng ngày của dân ta, trong thơ của Nguyễn Bính, Tố Hữu hay Chế Lan Viên, và vẫn làm cho những nam thanh nữ tú mặc quần jeans hay váy đầm thời nay rung động trong từng đường gân thớ thịt của mình.

    Nếu giờ học tiếng Việt bị học sinh và giáo viên của ta coi như một buổi cỏ-vê tẻ nhạt, hoàn toàn vô bổ và thậm chí đáng ghê sợ, thì đó tuyệt nhiên không phải vì họ không còn yêu tiếng Việt, không còn cảm nhận được cái đẹp của tiếng Việt nữa, mà vì người ta bắt họ dạy và học một thứ “tiếng Việt” chẳng ra Tây, chẳng ra ta, chỉ còn cái tên là tiếng Việt, không hề truyền đạt và hấp thụ lấy được một phần ngàn cái linh hồn bất diệt của nó.

    On writing well…

    Có một số quy tắc mà ta nên tuân thủ để viết được một văn bản tốt. Dù không phải là một người viết chuyên nghiệp, tôi có may mắn được biết các quy tắc đó.

    Viết khác đi có thể tạo nên sự độc đáo. Tuy nhiên, sự độc đáo có giá trị khi bạn đã biết phải làm gì nhưng làm khác đi và vượt lên đám đông, chứ không phải là khi bạn không biết những quy tắc đơn giản và tạo ra những thứ có giá trị thấp hơn mặt bằng chung.

    家に帰る道


    Các quy tắc được lựa chọn trình bày dưới đây liên quan đến các vấn đề mà một số bạn trẻ đang gặp phải. Đây không phải là những quy tắc quan trọng nhất, nhưng có vẻ là những quy tắc hay bị vi phạm nhất.

    1. Quy tắc song hành:

    Quy tắc này nói rằng những bộ phận có vai trò và vị trí tương đương trong câu/đoạn văn/văn bản nên có cấu trúc tương đương, như vậy văn bản sẽ dễ đọc và dễ hiểu hơn. Ví dụ từ Wikipedia:

    https://s3-ap-southeast-1.amazonaws.com/img.spiderum.com/sp-images/0dd922d0610b11eab885c59686616081.jpg

    Trong câu thứ hai, nên dùng cả hai đều là động từ, hoặc cả hai đều có chức năng danh từ. Trong câu thứ ba, cả ba hành động đều nên có địa điểm, hoặc đều không có địa điểm.

    Lưu ý rằng các câu không tuân theo quy tắc song hành đều đúng ngữ pháp, nhưng chúng ta không nên viết như vậy.

    Đây là sự song hành trong một câu. Có sự song hành giữa các câu trong đoạn văn hoặc các đoạn văn trong văn bản. Ví dụ:

    “The inherent vice of capitalism is the unequal sharing of blessings. The inherent virtue of Socialism is the equal sharing of miseries.” — Winston Churchill, House of Commons, 22 October 1945.

    Bạn có thể tham khảo thêm trên Wikipedia bằng cách tìm kiếm với từ khóa “Parallelism.”

    2. Cách đặt dấu câu:

    Tôi không thể nói về tất cả các quy tắc, đây là một vài quy tắc không được thực hiện trong một số bài viết trên một số blog và diễn đàn.

    1. Đặt các dấu câu ngay sau từ. Không dùng dấu cách trước dấu câu.

    Ví dụ (sai):

    Trong bụng tôi định , hễ làm quen được với thiếu nữ kia , là sẽ nhờ mẹ tôi đem trầu cau sang hỏi . Cái địa vị và sự giàu có của tôi chắc sẽ cho tôi được mãn nguyện .

    Ví dụ (đúng):

    Trong bụng tôi định, hễ làm quen được với thiếu nữ kia, là sẽ nhờ mẹ tôi đem trầu cau sang hỏi. Cái địa vị và sự giàu có của tôi chắc sẽ cho tôi được mãn nguyện.

    2. Chỉ đặt dấu hỏi cuối câu hỏi.

    Không phải cứ có từ nghi vấn thì là câu hỏi. Ví dụ, những câu dưới đây không phải là câu hỏi:

    Anh không biết liệu cô ấy có giận anh không.

    Cô ấy không biết phải làm thế nào mới có thể vượt qua được thời điểm khó khăn này.

    Nhiều bạn trẻ hỏi tôi làm thế nào để tìm được mục đích sống.

    “liệu cô ấy có giận anh không” là một “whether clause” (tôi rất xin lỗi vì không biết trong tiếng Việt cái này được gọi là gì). Nó có thể được dùng làm chủ ngữ hoặc tân ngữ. Câu đầu tiên về cơ bản giống mọi câu có cấu trúc:

    Anh không biết O.

    với O là một bất kỳ tân ngữ nào, và vì thế nó không phải là câu hỏi.

    Dưới đây là cách viết nếu bạn muốn dùng dấu hỏi chấm:

    Nhiều bạn trẻ hỏi tôi: “Làm thế nào để tìm được mục đích sống?”

    Anh có thể nói cho tôi làm thế nào mới có thể vượt qua được thời điểm khó khăn này không?

    3. Đặt dấu chấm khi hết câu. Không đặt dấu chấm khi chưa hết câu.

    Có những đề mục không phải là một câu. Những đề mục mà tôi đang dùng dấu chấm ở đây hoàn toàn có thể là một câu mệnh lệnh, nhưng tôi dùng dấu chấm thay vì chấm than.

    Cần phân biệt rõ đâu là câu đặc biệt, đâu là câu giản lược, đâu là câu mệnh lệnh, và đâu không phải là câu. Một vài lời không thể nói hết về chúng, nếu bạn quan tâm xin hãy tìm hiểu thêm.

    Lỗi lầm hay gặp nhất là đặt dấu chấm khi thấy viết đã dài, chứ không phải đã hết một ý hay đã hết một câu.

    4. Sử dụng thống nhất một phong cách.

    Không phải chỉ có một phong cách sử dụng dấu câu. Nếu bạn viết tiếng Anh, bạn sẽ thấy BrE và NAmE tương đối khác nhau.

    Sự khác biệt hay thấy nhất là cách dùng dấu trích dẫn. Ví dụ sau đây lấy từ “The punctuation guide“:

    “Economic systems,” according to Professor White, “are an inevitable byproduct of civilization, and are, as John Doe said, ‘with us whether we want them or not.’” (American Style)

    ‘Economic systems’, according to Professor White, ‘are an inevitable byproduct of civilization, and are, as John Doe said, “with us whether we want them or not”’. (British Style)

    Nếu quan tâm bạn có thể đọc thêm ở link trên. Cách viết ngày tháng, số, viết tắt, v.v. đều khác nhau. Tôi không thể nói phong cách nào tốt hơn phong cách nào, nhưng tôi có thể nói rằng chúng ta nên sử dụng nhất quán một phong cách.

    Rất tiếc là tôi chưa thấy người ta nói về phong cách đặt dấu câu trong tiếng Việt, nhưng dù bạn đặt dấu như thế nào, hãy giữ nó nhất quán trong cả bài viết của mình.

    3. Cách viết tắt:

    Nếu khái niệm hoặc cụm viết tắt là phổ biến, bạn có thể dùng trực tiếp không cần giải thích.

    Nếu khái niệm không phổ biến và bạn dùng nó trong bài viết của mình, bạn ít nhất phải viết đầy đủ khái niệm đó một lần và giải thích cách viết tắt trong ngoặc đơn. Sau đó bạn có thể dùng từ viết tắt.

    Ví dụ:

    Tôi không thể nói phong cách (PC) nào tốt hơn PC nào, nhưng tôi có thể nói rằng chúng ta nên sử dụng nhất quán một PC.

    Lưu ý:

    Mặc dù thường chữ viết tắt có liên hệ đến khái niệm được viết tắt, ví dụ “phong cách” ở trên được viết tắt thành PC, không có quy tắc nào nói rằng phải có liên hệ đó. Bạn hoàn toàn có thể viết tắt École Polytechnique là X chứ không phải là EP, miễn là bạn giải thích cẩn thận trong ngoặc đơn lần đầu bạn dùng nó. Vì điều này mà nhiều khi bạn thấy người ta thêm bớt chữ cái ở từ viết tắt, khiến cho nó có một cách đọc riêng và dễ nhớ hơn.

    Tôi đã đọc có bạn viết tắt một cụm dài cỡ chục từ bằng một từ viết tắt là chục chữ cái bắt đầu của cụm đó và tôi thấy buồn cười. Nếu để dài không có tác dụng gì thì không cần phải đưa tất cả các chữ cái đầu tiên vào.

    Sau khi bạn giải thích cách viết tắt, bạn hoàn toàn vẫn có thể dùng tên đầy đủ ở những lần tiếp theo.

    Trong tiếng Anh, nếu bạn viết tắt một bộ phận của từ thì bạn dùng dấu ‘ (apostrophe) để thể hiện có phần chữ bị viết tắt, ví dụ international = int’l. Nếu bạn giữ những chữ cái đầu tiên thì dùng dấu . (dot), ví dụ et cetera = etc.

    4. Cách liệt kê:

    Nếu bạn liệt kê hai đối tượng, hãy dùng từ “và”:

    A và B

    Nếu bạn liệt kê nhiều hơn hai đối tượng, hãy đặt dấu phẩy sau tất cả các đối tượng, trừ đối tượng cuối cùng và dùng từ “và”:

    A, B, C, và D

    Nếu có rất nhiều đối tượng, hãy dùng etc. (tiếng Anh) hoặc v.v. (tiếng Việt). Tôi xin đặc biệt lưu ý cách dùng của v.v. (vân vân):

    v.v. là đúng

    vv là sai

    v.v là sai

    v.v… là sai

    Bất cứ khi nào bạn muốn nói “còn nhiều đối tượng tương tự,” hãy dùng “v.v.,” chứ không phải là những ví dụ sai ở trên.

    5. Phân biệt câu, sentence fragment, và trạng ngữ:

    Sentence fragment nhìn giống câu nhưng không phải là câu. Trạng ngữ cũng có thể rất dài và nhìn giống câu nhưng không phải là câu. Trước khi đặt dấu chấm câu các bạn hãy dành thời gian nhìn lại một lần cái mình vừa viết ra.

    Ví dụ phổ biến nhất về sự nhầm lẫn giữa câu với không phải là câu là:

    Qua sự việc trên đã cho thấy [một mệnh đề nào đó].

    Có khi bạn có thể thấy nó trên một tờ báo nào đó. Nếu thêm chủ ngữ, thì nó là một câu. “Qua sự việc trên” là trạng ngữ của câu. Chúng ta chưa thấy ai hay cái gì đã cho thấy mệnh đề phía sau. Cách xử lý đơn giản nhất là bỏ chữ “qua” đi, và “sự việc trên” sẽ trở thành chủ ngữ, còn trạng ngữ thì biến mất.

    Trong bài thi Đánh giá năng lực ở VNU, thỉnh thoảng chúng tôi thấy những câu hỏi kiểu như: “Các em hãy chỉ ra lỗi sai trong câu dưới đây: …” nhưng khi đọc thì chẳng thấy lỗi sai nào.

    Thực ra là có lỗi, chỉ là cái gì lặp lại quá nhiều lần thì ta tưởng rằng nó là đúng. Nếu nghĩ kỹ chúng ta sẽ nhìn ra. Các lỗi thường đơn giản và nằm trong mấy thứ kể trên. Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng rằng cộng tác viên của một số tờ báo mạng còn cách điểm tối đa của phần thi ngôn ngữ trong bài thi đánh giá năng lực này nhiều năm học tiếng Việt, dù đây là bài thi trắc nghiệm.

    6. Cách ngắt dòng và ngắt đoạn:

    Khi bạn học văn ở phổ thông, cách ngắt đoạn thông thường là khi hết một ý, bạn chuyển sang đoạn mới. Đoạn mới được bắt đầu ở dòng mới và có lùi đầu dòng. Thường thì người ta lùi 1 tab tương đương 4 dấu cách.

    Khi bạn viết tiếng Anh thì thường bắt đầu đoạn mới không có lùi đầu dòng, và đoạn mới được ngăn cách với đoạn trước bằng một dòng trống. Nếu thích bạn có thể ngắt đoạn như vậy trong tiếng Việt, như tôi đang viết.

    Khi viết bài luận tiếng Anh, bạn nên ngắt đoạn theo cách thứ hai. Nó dễ nhìn hơn và được dùng phổ biến hơn. Lưu ý là nếu thích bạn có thể viết theo kiểu thứ nhất, bạn không bị trừ điểm thi IELTS nếu viết như thế. Tuy nhiên, hãy sử dụng một cách ngắt đoạn thôi, đừng trộn hai cách lại với nhau.

    7. Quy tắc phát triển tuyến tính:

    Nếu bạn kể chuyện mà đang kể hiện tại, bạn đến tương lai, rồi quay về hiện tại, rồi lại về quá khứ, thì hoặc là bạn là nhà văn, hoặc là bạn không biết kể chuyện. Nếu bạn từng đọc một văn bản mà thấy đoạn nào viết cũng hay, có điều không hiểu tại sao vừa thấy ăn xong đã thấy tả đói cồn cào, thì nhiều khả năng tác giả chưa nghe qua quy tắc này.

    Đầu tiên bạn nên học cách viết tuyến tính, nắm vững nó, sau đó bạn có thể viết kiểu phi tuyến. Tuyến tính ở đây không chỉ nói về mạch sự kiện, nó còn dùng để chỉ mạch tư duy.


    Potoncho, Kyoto

    Nếu bạn không theo các quy tắc trên, hãy đảm bảo rằng đó là vì bạn có mục đích riêng, chứ không phải là vì thiếu hiểu biết.

    Có một số bạn rất cầu thị và mong nhận được ý kiến đóng góp để viết hay hơn. Tôi thật sự nghĩ rằng diễn đàn này không phải là nơi tốt nhất để bạn phát triển khả năng viết. Khi bạn viết nhiều, bạn sẽ viết giỏi lên. Nhưng giỏi lên do viết nhiều thì có giới hạn của nó. Bạn nên tìm tiền bối là những người viết chuyên nghiệp để học hỏi. Bạn cũng có thể tham gia các trại sáng tác, trường hè, v.v., hoặc nếu đã xác định rõ ràng, bạn có thể nhập học trường báo chí hoặc nhân văn.

    Tạm thời, tôi thấy có một số nguồn tham khảo hoặc học tập để có thể viết đúng, xin được giới thiệu với các bạn: (cách để viết hay, tôi cũng không có kinh nghiệm, nhưng đầu tiên chúng ta cần viết đúng đã.)

    Khóa học viết của thầy Hồ Lê Vũ ở Hà Nội

    Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt (Cao Xuân Hạo)

    Plain English at Work

    Line by Line: How to Edit Your Own Writing

    Nếu bạn có thời gian, và nếu bạn muốn viết tiếng Anh, bạn có thể tham khảo thêm (những sách dưới đây giống cẩm nang hơn):

    The Elements of Style

    The Chicago Manual of Style

    Oxford Guide to Plain English

    Bien que je souhaite partager mes réflexions avec les utilisateurs de Spiderum, je pense que le site Web viole le droit d’auteur en nous interdisant de modifier ou de supprimer les anciens contenus. Ainsi, je supprime toujours mes messages avant de ne rien pouvoir en faire. Vous pouvez retrouver mes anciens articles sur mon blog personnel.

    ... and my apology to Sir William Zinsser for plagiarizing your book title and transforming it into a clickbait...
    

    Về cách viết v.v., vân vân, và dấu chấm lửng

    Tác giả: Cao Xuân Hạo
    Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống 1 (51) 2000
    Sách Tiếng Việt, văn Việt, người Việt (NXB Trẻ, 2001)

    * * *

    Vân vân (v.v.) thì ai cũng dùng, trong bất cứ thể văn nào, nhưng hình như mỗi người hiểu một cách, cho nên cách dùng cũng không hoàn toàn giống nhau. Điều này lộ rõ nhất là ở cách chấm câu sau hai chữ vân vân hay v.v. Một số khá đông tác giả, nhất là khi viết báo, có thói quen viết “v.v…” hay “vân vân…” trong mọi trường hợp, nghĩa là sau hai chữ ấy bao giờ cũng có ba chấm (chấm lửng). Cũng có nhiều người thay hẳn v.v. bằng ba chấm, nhất là sau một “danh sách” gồm hai từ trở lên.

    Vậy vân vân (v.v.) nghĩa là gì, và ba chấm lửng nghĩa là gì ? Những quy tắc chi phối cách dùng hai yếu tố này có thể được trình bày ra sao ?

    Hình như mọi người nhất trí về nghĩa và cách dùng của vân vân: đó chính là nghĩa và cách dùng của etc. (et caetera), et al. (et alii), and so on, and the like, i tak dalee, i tomu podobnọe, i drugịe, đẳng, đẳng đẳng, chư như thử loại, v.v. trong các thứ tiếng gần gũi nhất với sinh hoạt văn hoá của ta. Những từ ngữ này có nghĩa là “và những thứ khác”, “và những việc khác”, “và những người khác”, “và những thứ tương tự”, ” và những người tương tự”, “và những việc tương tự”, “và cứ thế mà tiếp”, v.v. Trong tất cả các bản dịch từ ngoại văn ra tiếng Việt, ta đều thấy có sự tương ứng hoàn toàn như vậy, không trừ một trường hợp nào. Những từ ngữ ngoại quốc nói trên, cũng như vân vân trong tiếng Việt, do chính ý nghĩa từ vựng và công dụng của nó, đều được dùng như một ngữ đoạn bình thường có quan hệ đẳng kết (kết hợp đẳng lập) với các ngữ đoạn đi trước, và sau đó có thể có bất cứ thứ dấu chấm câu gì (phẩy, chấm phẩy, chấm, hai chấm, chấm hỏi, chấm than, gạch ngang) hoặc tiếp tục câu không có chỗ ngưng nghỉ, nghĩa là không có dấu chấm câu gì hết. Trong tất cả các thứ tiếng nước ngoài mà ta biết rõ, tình hình đều như thế. Vậy thì tại sao chỉ riêng trong tiếng Việt có một cách xử lý khác như đã nói trên?

    Có hai nguyên nhân chính: một là nghĩa của hai chữ vân vân không rõ lắm; hai là khi viết tắt là v.v. mà sau đó lại có một dấu chấm hết câu (v.v..), nhiều người đếm nhầm thanh hai dấu chấm ấy thành ba, nghĩa là thành một dấu chấm lửng.Vậy thiết tưởng các tác giả cũng nên chỉnh lý lại một chút cách dùng chấm câu sau khi dùng vân vân hay v.v.

    Chúng tôi xin lấy một vài câu có dùng v.v. để minh hoạ cho những cách dùng v.v. và chấm câu đúng chuẩn.

    a. Ai đã phát minh ra những khí cụ ghi âm như băng từ, thanh phổ ký, v.v.?

    b. Mọi người: Thầy Nam, thầy Bình, cô Thi, v.v. đều tán thành .

    c. Rất, hơi có thể kết hợp với những vị từ như yêu, thương, buồn, giận, v.v.

    d. Phải gọi cả Minh, Định, Thành, v.v. đến dự nhé!

    e. Không thể thiếu tổ 4 – Minh, Định, Thành, v.v.: họ phải làm chứng chứ!

    g. Muốn thế cần gì phải học ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa, vân vân và vân vân?

    h. Nó đi chợ mua thịt bò, rau cần, v.v. về để làm món xào.

    Còn như dấu chấm lửng ( “…” ), thì ý nghĩa không phải như vậy. Nó đánh dấu một chỗ ngừng của người nói, cho biết rằng câu nói chưa hết (vì bị ngắt lời chẳng hạn), hoặc khi có sự phân vân hay ngần ngại khiến cho người nói thấy khó nói hết câu.

    Chẳng hạn:

    a.

    – Này! Tôi cho anh biết một chuyện bí mật của cô…

    – Thôi đi, tôi không nghe đâu!

    b.

    – Anh mà cũng thế thì thật là…         

    Nếu “người nói” chính là tác giả (tức thật ra là người viết) thì đó có thể là một biện pháp tu từ có dụng ý, thường dùng trước khi “hạ một đòn” mà người viết cho là có sức gây ấn tượng mạnh (ngạc nhiên, thán phục, v.v.).

    Chẳng hạn:

    Tính thành ngữ không thể dùng để chứng minh một cụm từ là một từ. Vì “tính thành ngữ” là đặc trưng của… thành ngữ, và thành ngữ bao giờ cũng gồm hai từ trở lên.         

    Dấu chấm lửng (…) không thể dùng sau (v.v.) nếu không muốn nói rằng câu chưa kết thúc, cũng ko thể thay cho v.v. để nói rằng “còn có những thứ/những việc/ những người khác nữa”.

    Behind a visitor
    Kyoto Pontocho


    Ký ức về những thầy cô đã dạy tôi Triết học

    Hồi nhỏ, tôi thích nói mấy thứ cao siêu. Cảm giác “thượng đẳng” nó rất là khoái. Đọc mấy sách về triết thì không hiểu mấy cũng có thể bình luận được. Nhưng mà tôi nghĩ là tôi hiểu.

    Lên cấp ba thì giáo viên dạy GDCD của chúng tôi là giảng viên Khoa Triết học của USSH, có thể là do bệnh nghề nghiệp nên dù nội dung bài giảng hình như chưa có, nhưng cô rất tận tình giải thích cho chúng tôi những cái kiểu như quy luật lượng đổi chất đổi, quy luật phát triển hình xoắn ốc, chẳng hạn. Triết học vẫn cứ hay.

    Một cô giáo dạy văn của chúng tôi thì có vẻ thích Trần Đức Thảo. Thế là tôi cũng tìm đọc về Trần Đức Thảo, nhưng là viết về ông thôi chứ những thứ ông viết ra chắc tôi không hiểu nổi. Hình như hồi đó tôi đọc Ba phút sự thật. Nước mình cũng có những nhà triết học tầm cỡ thế giới, nghe cũng thấy tự hào chứ.

    Somewhere in Kyoto

    Đại học. Do một sự tình cờ của số phận mà vào thời của chúng tôi, thi triết được mang tài liệu vào phòng thi. Có lẽ một bác nào đó ngồi trên rất cao, được truyền cảm hứng bởi tư tưởng sinh viên thì cần tư duy, sinh viên là những con người sáng tạo chứ không phải những cái máy, đã chỉ thị như vậy. Đến giờ tôi vẫn biết ơn bác, nếu bác có tồn tại. Nhờ được mang sách vào phòng thi mà lúc học tôi đã học thật, đã thấy cái hay cái đẹp trong tư tưởng Mác Lê, chứ không phải chỉ mỗi nhớ để đi thi. 

    Do một sự may mắn tình cờ của số phận mà những giáo viên dạy triết của tôi từ đó đều là những người tôi rất quý. Tất cả đều là giảng viên của USSH. Dù buộc phải dạy Mác Lê nhưng họ không nói với chúng tôi rằng trên đời chỉ có duy nhất tư tưởng đó là đúng. Tôi biết ơn những giảng viên của tôi.

    Với tôi thì tư tưởng, đường lối, logic học, cái gì tôi cũng xếp vào Triết học hết. Nói chung, nếu giảng viên đến từ USSH thì tôi sẽ mặc định xếp môn đó vào nhóm Triết học. Tôi cũng học được nhiều thứ rất hay từ những môn trên. Cái hay nhất, cái đáng tin nhất, là khi lẽ ra người ta phải ép bạn tin nhưng người ta lại bảo bạn đừng tin, bạn không tin rồi cuối cùng người ta xóa được cái nghi ngờ của bạn. Lúc ấy thì bạn tin, không có bàn cãi gì nữa. Lý thuyết là vậy, các giảng viên của chúng tôi, vô tình hay cố ý đã làm như thế, nhưng tiếc là tôi chưa xóa bỏ được mọi nghi ngờ.

    Giáo viên môn tư tưởng của tôi khi đó là một người thú vị. Trong giờ tư tưởng đường lối, chúng tôi được nghe về “What is the right thing to do?” ở Harvard, được nghe về kiếm tiền thụ động (như đa cấp 🙂 ) và những triết lý kiểu như con ếch trong nồi nước, hay suy nghĩ về đam mê của Steve Jobs trong bài phát biểu ở Stanford. Thầy tôi khi ấy trẻ măng, có khi trẻ hơn tôi bây giờ, vẫn còn đang làm nghiên cứu sinh Triết học, hoặc chờ học bổng gì đó, tôi không nhớ nữa. Thỉnh thoảng thầy nói bâng quơ về chủ nghĩa hòn đá và sức mạnh kinh hoàng của hội anh em, thứ mà đứng ngoài nhìn thì không thể tưởng tượng nổi. Chắc dân đen như tôi thì không thể cảm nhận được, vì đến tận bây giờ tôi cũng chỉ mới thấy lờ mờ. Thầy cũng thích chụp ảnh nữa. Có lần lớp chúng tôi mặc đồng phục đi học, thầy đã chụp ảnh, photoshop, và gửi cho chúng tôi. Ảnh đó giờ tôi vẫn giữ.

    Trước khi tốt nghiệp, tôi phải học thêm môn Logic học. Cô giáo của chúng tôi là Tiến sỹ Triết học, trẻ, xinh đẹp, viết văn hay, ngày nhỏ cô học chuyên văn ở Lê Hồng Phong Nam Định thì phải. Nói chung, ngày xưa cô chắc chắn là con nhà người ta mà bạn hay nghe tới. Lớp có khoảng mươi người, tôi là lớp trưởng. Cô quý chúng tôi lắm. Cô bảo chúng tôi khô khan nhưng mà dễ thương, kiểu mấy đứa học công nghệ thì thật thà chất phác. Cô hay làm thơ, mà thơ cô rất hay. Hồi đấy tôi cũng không biết, mà theo dõi Zalo của cô, đọc thơ mới thấy trầm trồ.

    Hôm cô chấm điểm thi của chúng tôi, tôi cũng ngồi đó. Hình như cô có hỏi tôi thích bao nhiêu điểm, 9 nhé? Tôi được A+ môn Logic. Không biết các bạn học Logic thế nào, còn môn Logic mà cô đã dạy cho tôi thì mười phần có ba phần là tôi dịch từ những thứ tôi học trong môn thiết kế điện tử số sang tiếng Việt để trả lời. 

    Cô hơn tôi không nhiều tuổi, nhưng độ sâu sắc và chín chắn thì không biết đến bao giờ tôi mới có thể bằng. Cảm giác tôi đã là học trò cưng của cô. Lúc trước khi chia tay, cô hỏi tôi dự định tương lai. Cô khuyên tôi học lấy văn bằng hai ở trường ngoại ngữ. Lúc đấy thì tôi đã tự kiêu lắm rồi, tôi thấy văn bằng đấy vô ích với mình, nhưng trong lòng cảm kích vì cô nghĩ cho tôi. Sau bữa ăn cuối cùng với cả lớp lúc học kỳ kết thúc, chúng tôi chưa có dịp nào gặp lại nhau nữa.

    Hikonejo, Shiga

    Giáo viên Triết học cuối cùng thời đi học của tôi là một phó giáo sư. Lúc đó tôi đang học thạc sỹ. Thầy đã từng đi bộ đội, có những kinh nghiệm sinh tử nơi chiến trường. Tôi phục những người vừa giàu kinh nghiệm sống vừa có địa vị trong giới hàn lâm như thầy. Thầy dạy chúng tôi nhiều thứ, đông tây kim cổ có cả. Lần này không phải chỉ là Mác Lê nữa, mà là Mác Lê nâng cao :), cộng thêm lịch sử triết học thế giới, vài trường phái nổi bật, khái quát về các tôn giáo, v.v. Nói chung là cảm giác đủ mọi thứ trên đời.

    Tôi chẳng có ý kiến gì với các tôn giáo khác, nhưng với đạo Phật, những gì thầy nói làm tôi thấy rõ thầy chưa có một ngày đi tu (thực ra đấy là chuyện tất nhiên thôi. Nhưng tôi hạnh phúc hơn nếu người giảng về đạo Phật cho chúng tôi là một vị tu hành, như thầy Thích Nhất Hạnh chẳng hạn…).

    Các bạn trẻ đọc bài viết này có thể muốn biết tôi học chương trình gì mà thi triết lại được dùng tài liệu. Thực ra thì chẳng quan trọng nữa đâu. Một ngày chúng tôi đi ăn với thầy, tôi kể hôm trước đình chỉ nhiều em lắm, giá mà cứ như ngày xưa thì có phải môn triết sẽ trở thành kỷ niệm đẹp với các em không. Thầy bảo, một hôm nói chuyện với con gái thầy, cô bé bảo thi triết được dùng sách thì việc gì phải học hả bố. Thầy phẫn nộ. Thế là từ kỳ đó trở đi môn thi triết mà hàng chục ngàn người học phải thi mỗi năm ở ĐH của tôi không được dùng tài liệu nữa.

    Ôi, hóa ra chỉ vì một câu nói của một cô bé năm nhất! Giá mà trước khi nói ra câu nói định mệnh ấy em biết được vì em mà sẽ có những sinh viên ngoại quốc mãi mới ra được trường vì trượt lên trượt xuống môn triết học. Tôi luôn ủng hộ nói thật, nhưng thỉnh thoảng không nói hết cũng được, ví dụ như trường hợp của cô bé ấy.

    Dạo này tôi hay nhớ ngày xưa …

    Bạn cũ, Arashiyama

    Potential

    Anyway, so I taught the course. The first assignment, I gave it to them, they came back in two weeks and they just blew me away. I mean the work was so beyond, literally, my imagination, because I had copied the process from Imagineering’s VR lab, but I had no idea what they could or couldn’t do with it as undergraduates, and their tools were weaker, and they came back on the first assignment, and they did something that was so spectacular that I literally didn’t, ten years as a professor and I had no idea what to do next. So I called up my mentor, and I called up Andy Van Dam.

    And I said, “Andy, I just gave a two-week assignment, and they came back and did stuff that if I had given them a whole semester I would have given them all As. Sensei, what do I do?”

    And Andy thought for a minute and he said, you go back into class tomorrow and you look them in the eye and you say, “Guys, that was pretty good, but I know you can do better.”

    And that was exactly the right advice. Because what he said was, you obviously don’t know where the bar should be, and you’re only going to do them a disservice by putting it anywhere. And boy was that good advice because they just kept going.

    And during that semester it became this underground thing. I’d walk into a class with 50 students in it and there were 95 people in the room. Because it was the day we were showing work. And people’s roommates and friends and parents – I’d never had parents come to class before! It was flattering and somewhat scary. And so it snowballed and we had this bizarre thing of, well we’ve got to share this. If there’s anything I’ve been raised to do, it’s to share, and I said, we’ve got to show this at the end of the semester.

    We’ve got to have a big show. And we booked this room, McConomy. I have a lot of good memories in this room. And we booked it not because we thought we could fill it, but because it had the only AV setup that would work, because this was a zoo. Computers and everything. And then we filled it. And we more than filled it. We had people standing in the aisle.

    I will never forget the dean at the time, Jim Morris was sitting on the stage right about there. We had to kind of scoot him out of the way. And the energy in the room was like nothing I had ever experienced before. And President Cohen, Jerry Cohen was there, and he sensed the same thing. He later described it as like an Ohio State football pep rally. Except for academics. And he came over and he asked exactly the right question. He said, before you start, he said, where are these people from? He said, the audience, what departments are they from? And we polled them and it was all the departments.

    And I felt very good because I had just come to campus, he had just come to campus, and my new boss had seen in a very corporal way that this is the university that puts everybody together. And that made me feel just tremendous.

    So we did this campus-wide exhibition. People performed down here. They’re in costume, and we project just like this and you can see what’s going on. You can see what they’re seeing in the head mount. There’s a lot of big props, so there’s a guy white water rafting. [shows slides of a BVW show] This is Ben in E.T. And yes, I did tell them if they didn’t do the shot of the kids biking across the moon I would fail him. That is a true story. And I thought I’d show you just one world, and if we can get the lights down if that’s at all possible. No, ok, that means no. All right. All right we’ll just do our best then. [Shows “Hello.world” world done in the BVW class, audience applauds at the end.] It was an unusual course. With some of the most brilliant, creative students from all across the campus. It just was a joy to be involved. And they took the whole stage performance aspect of this way too seriously [shows pictures of very strange costumes students wore]. And it became this campus phenomenon every year. People would line up for it. It was very flattering. And it gave kids a sense of excitement of putting on a show for people who were excited about it. And I think that that’s one of the best things you can give somebody – the chance to show them what it feels like to make other people get excited and happy. I mean that’s a tremendous gift. We always try to involve the audience. Whether it was people with glow sticks or batting a beach ball around… or driving [shows photo of audience members leaning in their seats to steer a car]. This is really cool.

    This technology actually got used at the Spiderman 3 premiere in L.A., so the audience was controlling something on the screen, so that’s kind of nice. And I don’t have a class picture from every year, but I dredged all the ones that I do have, and all I can say is that what a privilege and an honor it was to teach that course for something like ten years.

    An excerpt from Randy Pausch’s Last Lecture: “Really Achieving Your Childhood Dreams”

    McConomy Auditorium, Carnegie Mellon University
    Tuesday, September 18, 2007

    京都

    The above excerpt is from an inspiring talk given by Computer Science Professor Randy Pausch, just before he died of cancer. He and all the audience well understood that this was his last lecture, which made it even more special. He talked about a lot of things, all related to his childhood dreams, but in all stories I could also see a way for living a fulfilled life. Prof. Pausch left this world early, but he has already set an example for people like me to look up to, and what he did was remarkable.

    I wish I had Prof. Randy as a professor of mine when I was student. Don’t get me wrong, my professors were also fabulous professors, I just want to experience his guidance and his company in doing fascinating things at schools.

    My professors, just like him, are those who inspired my dream of being a professor. They give their students chances, they reveal their students’ potential, they connect their students and inspire them. I am always thankful for that, for all that my professors have given me and am craving for sending it forward.

    But, I have just given up on that dream. It feels bad. Apology to you, those trusted me and gave me the best…

    Bác Phan Đình Phương

    Rất có thể bạn chưa từng nghe tên Phan Đình Phương, dù lẽ ra là bạn nên nghe rồi, nhất là nếu bạn đã từng ngắm cầu Rồng ở Đà Nẵng. Nếu thế, bạn có thể đọc về bác ấy ở đây hoặc ở đây.

    Gần đây thì bác Phương có mấy tấm hình rất ngầu:

    Thay trời làm mưa.
    Credit: SharkTank Vietnam

    Trên đời có hai nhóm người, một nhóm suy nghĩ trong sáng và tin vào những điều kỳ diệu. Mình quý bác Phương vì chắc bác ấy cùng nhóm với mình.

    Ngày ấy lần đầu tiên mình vào Đà Nẵng, mấy ngày đầu mình ở Homestay ở Đào Cam Mộc. Anh chị chủ nhà rất thân thiện. Một lần sau bữa ăn mình hỏi anh: Em muốn gặp một người nổi tiếng, anh nghĩ ở Đà Nẵng nên gặp ai?

    Anh ấy ngẫm nghĩ vài giây rồi giới thiệu bác Phương. Anh vốn làm ở đài truyền hình, mấy hôm trước vừa đi phỏng vấn bác Phương. Anh bảo đấy là một nhà phát kinh kỳ lạ lắm, làm ra những thứ kinh thiên động địa (từ của mình 🙂 ) mà cứ như không, làm ăn cũng chẳng tính toán, đến mức rơi vào cảnh nợ nần. Chuyện không tính toán này, mấy năm sau thì các shark trên SharkTank Việt Nam cũng xác nhận. Lần này thì oai hơn, cả nước biết.

    Trái bắp, ảnh chụp lúc mình nghỉ giữa giờ

    Anh cũng chẳng biết email của bác, nhưng biết công ty. Thế là mình vào trang web của An Sinh Xanh, công ty của bác, và gửi một cái email đại ý: Cháu từ Hà Nội vào công tác, được nghe danh bác trong lòng ngưỡng mộ, rất mong được gặp mặt. Hôm sau, bác ấy trả lời và hẹn gặp.

    Sau buổi cuối cùng của trường hè, mình và hai người bạn đến gặp bác ở một quán cà phê. Nếu chỉ đọc không thôi, được biết bác là chủ tịch hội nhà phát minh và có một số phát minh vô cùng hữu ích, như ở mấy link trên, thì cũng đáng phục lắm rồi, nhưng đấy chỉ là phần nổi của tảng băng. Hôm ấy nói chuyện với bác, mà mình cảm giác như có thể nghe cả ngày không hết.

    Không chỉ là một nhà phát minh, bác Phương còn là một nhà thơ. Khi chia tay bác tặng chúng mình một tập thơ. Dù bác không chuyên nhưng thơ thật sự rất có hồn. Tiếc là mình đã để tập thơ ấy ở Việt Nam, nếu không thì nhân dịp này sẽ chép vài bài lên đây cho các bạn.

    Buổi gặp ấy đã khiến mình mở rộng tầm mắt. Mãi nhiều năm sau, mình không còn nhớ những gì bác nói nữa, nhưng nhiệt huyết trong mỗi việc bác làm, sự sáng tạo của bác, tình yêu của bác cho gia đình và những người xung quanh, những thành quả phi thường và khát vọng của bác, một người tuổi đã ngoại lục tuần, thì đến tận bây giờ vẫn đang truyền động lực cho mình.

    Hôm ấy, bác cũng đã kể về dự án “Lên trời gọi mưa” gây chấn động ở SharkTank sau này. Hình như bác đã nói chuyện với bọn mình 6 tiếng đồng hồ. Cuộc gặp đầu tiên. Những kẻ hồn nhiên.

    Trong nhiều câu chuyện của bác, mình nhớ vài câu chuyện, mà chẳng hiểu sao toàn chuyện buồn. Hôm nay kể một chuyện ở đây. Ngày trước, bác từng dưới quyền Trương Đình Tuyển trong công ty xăng dầu. Có một vấn đề mà người trong ngành xăng dầu biết rất rõ, đó là bay hơi xăng dầu. Thiệt hại do bay hơi không mỗi năm có thể đến vài trăm tỷ. (Nếu ai nói tiền không bốc hơi được thì đây.) Là một nhà phát minh, bác Phương nghiền ngẫm nhiều năm, cuối cùng chế tạo ra được hệ thống chưng cất hơi xăng. Nếu áp dụng trên toàn quốc thì hàng năm sẽ tiết kiệm được một số tiền khổng lồ cho quốc gia. Thủ trưởng Trương Đình Tuyển (tiện đây, cũng là một người rất yêu thơ) rất ủng hộ việc áp dụng hệ thống mới này.

    Và bạn biết kết quả sao không?

    Hệ thống đó không bao giờ được áp dụng. Nếu nó được đưa vào sử dụng đại trà, người ta sẽ không còn được hưởng số tiền bù khấu hao do xăng bay hơi nữa, lý do chỉ vậy thôi. Vậy là, để giữ cho tiền bay hơi và ngưng tụ vào túi mình, người ta quyết để một lượng tiền khổng lồ tiếp tục bay hơi vào không khí.

    Nói chung thì mình không thích dùng ảnh người khác chụp, nhưng hôm ấy chẳng chụp được cái ảnh cầu tàu tình yêu nào ra hồn cả.
    Credit: Du lịch đại dương

    Một tối trời trong gió mát, đứng trên cây cầu có nhiều trái tim với Emma ngắm Rồng Vàng phun nước mấy nhịp cầu, mà lòng mình thầm cảm ơn bác Phương, một nhà phát minh tin vào sức mạnh của kiên trì, sáng tạo, và những điều kỳ diệu, như mình vẫn hằng tin.

    Chuyện của một giám thị

    Khi mới tốt nghiệp, mình đã làm việc ở trường một thời gian. Mình đã coi thi cuối kỳ cho học viên cao học, sinh viên, coi thi đại học, và thi một chứng chỉ tin học quốc gia gì đó. Sau mỗi một buổi thi, thường thì mình có vài cảm xúc và muốn ghi lại, nhưng có lẽ vì bận nên đã không làm thế. Giờ mình chỉ còn nhớ những chuyện ấn tượng thôi, đây sẽ lại là một bài viết lan man như mình vẫn hay viết.

    Giám thị là những ai? Là tất cả giảng viên, nghiên cứu viên, nghiên cứu sinh trong trường. Nếu thiếu người thì học viên cao học có thể được nhờ. Nếu là thi đại học thì có trường hợp sinh viên năm cuối cũng có thể trở thành giám thị vì cần rất nhiều người.

    Trên lý thuyết thì mỗi cán bộ trong toàn trường sẽ có số buổi trông thi gần bằng nhau, nhưng thực tế là các thầy “lớn” (các giáo sư, trưởng phòng thí nghiệm, lãnh đạo phòng ban) thường nhờ những người trẻ trông thi thay. Khi ấy mình rất trẻ nên đã vinh dự gánh trọng trách thay một vài thầy và trong một thời gian tương đối ngắn, đã coi thi chắc khoảng tám mươi lần. Nếu có nghề giám thị thì mình đã khá chuyên nghiệp.

    Arashiyama.
    Ảnh thêm vào để đỡ nhiều chữ, không có tính mình họa.
    Hoặc có thể nói là mình thích chụp ảnh, không thích coi thi lắm.

    Giám thị có thích coi thi không? Mình nhớ lần đầu tiên được giao coi thi học viên cao học, lúc ở quán trà đá mình bảo với tiền bối: “Lát em coi thi môn X đấy.” với một giọng hơi phấn khích. Mặt anh ấy ngẩn ra nửa giây, rồi khi nhận ra thì anh ấy bảo “Được coi thi thích nhỉ.” với giọng mà mình có thể dịch ra là “Anh thì muốn tránh chẳng được.”

    Các bạn trẻ, có thể các bạn cũng nhận ra, giám thị của các bạn thường không thích đi coi thi. Coi thi rất mất thời gian, thứ mà mà những người làm việc đó ở các trường ở ta, thường là nghiên cứu viên trẻ hoặc nghiên cứu sinh, không có. Lần đầu đi coi thi thì mình thấy thích, đó là một cảm giác mới lạ, nhưng sau đó thì chán dần.

    Tuy nhiên, nếu mình có thời gian thì đi coi thi thực ra là một việc thú vị.

    Đi coi thi giúp bạn mở rộng mối quan hệ. Thường thì trong trường người trong một khoa có thể biết nhau, nhưng không biết người của khoa khác, vì quá đông. Khi đi coi thi thì bạn có nhiều cơ hội gặp gỡ với các anh chị em, các thầy cô ở các khoa khác. Rất có thể bạn sẽ gặp những người hợp với mình và trở nên thân thiết. Nếu phòng thi đủ rộng thì thường các giám thị hay ngồi xa các em và nói chuyện với nhau, vì chẳng có việc gì khác để làm. (Thỉnh thoảng có anh chị hay mang paper vào đọc, nhưng đấy không phải là việc được làm.) Khi đi coi thi mình đã gặp một tiền bối ngày xưa học cùng cấp ba, sau khi lấy PhD ở Mỹ thì quay về trường dạy. Anh ấy động viên mình nhiều khi xin học bổng. Mình cũng có dịp nói chuyện với một anh nghiên cứu sinh khá nổi tiếng trong trường hồi đó. Nói chuyện với người vui tính như anh ấy vừa vui vừa học hỏi được nhiều điều. (Về sự xuất sắc của anh ấy, thầy mình kể ngày xưa lúc làm PhD ở Hàn thấy có sinh viên có đủ bài báo tốt nghiệp tiến sỹ đã thấy ghê rồi, lúc về VN thấy anh ấy lúc còn sinh viên mà có đủ bài báo theo chuẩn VN để phong PGS, thầy bị sốc.) Mình quen một chị nghiên cứu sinh khác khoa, vốn bình thường chẳng bao giờ có dịp gặp. Khi đi học ở miền Trung tình cờ chị ấy cũng tham gia, vậy là có bạn. Lúc mình đi hội nghị ở tỉnh chị ấy, được dẫn đi tham quan với mọi người. Một anh khác mình quen khi coi thi nói chuyện với mình rất hợp, nghiên cứu cũng có chút có thể giúp đỡ nhau. Sau đợt thi thỉnh thoảng anh ấy vào lab mình uống trà chiều. Mình cũng gặp mấy bé khóa sau ở khoa khác, cũng cùng chí hướng như mình. Nói chung quen nhiều người tốt thì rất là vui, và nhờ coi thi mà mình có cơ hội nói chuyện với nhiều người.

    Một cây anh đào ở trường mình.
    Như thường lệ, ảnh không minh họa cho gì cả.

    Chắc mấy bạn sinh viên thì không quan tâm lắm chuyện này, mấy ông giám thị quen biết nhau thì kệ các ông, phải không? Bây giờ mình kể chuyện mình và mấy bạn sinh viên.

    Chuyện in đậm trong trí nhớ mình nhất ở các kỳ thi là chuyện lập biên bản. Lẽ ra là nên có chuyện khác vui hơn, nhưng sự thật thì lúc nào cũng nghiệt ngã. Mình hình như lập nhiều biên bản hơn các giám thị khác và trở nên nổi tiếng. Có đợt mình sang Hàn, lúc đi ăn cùng với anh chị em bên ấy thì có một em nhận ra mình. Ở trường mình có làm vài chuyện khác nữa, nhưng chuyện đầu tiên em ấy nhớ về mình là mình đã từng coi thi em ấy, và những buổi thi như thế thì khó quên.

    Mình đã lập biên bản rất nhiều sinh viên. Thực ra có rất nhiều trường hợp có thể lập biên bản nhưng mình chỉ đánh dấu bài (chuyện đánh dấu bài sẽ nói sau), hoặc cảnh cáo miệng. Mình cũng biết điểm số có thể ảnh hưởng đến học bổng hàng kỳ của các em, đến thành tích khi xin học bổng ra nước ngoài của các em, hoặc thời gian tốt nghiệp của các em, từng thứ đó có thể ảnh hưởng đến cả tương lai của các em. Vì thế, mình hạn chế lập biên bản đến mức có thể, nhưng…

    Sau đây mình sẽ nói nhiều về chuyện gian lận thi cử.

    Mình đã không hiểu vì sao nhiều em cố tình gian lận đến thế. Nếu bạn trẻ nào có mất niềm tin vào sự trung thực của sinh viên nước mình, thì bạn có cơ sở. Vào được trường mình không dễ, vậy mà trong trí nhớ của mình thì chưa từng có phòng thi nào mình coi mà không có em nào có ý định làm gì đó, có khi chỉ là liếc xuống một chút khi giám thị vừa đi qua, nhưng lúc nào cũng có gì đó. Các trường khác, mình không biết.

    Có thể trong đầu em sinh viên nào ngày đó có thể có câu hỏi là tại sao anh này có vẻ khắt khe vậy nhỉ. Mới vài năm trước anh chẳng phải vẫn còn là sinh viên hay sao, chẳng lẽ anh chưa từng gian dối để có điểm cao hơn, để làm vui gia đình chẳng hạn, hay sao? Mình không biết có em nào nghĩ vậy hay không, nhưng nếu có, thì để em đỡ phải băn khoăn, câu trả lời là không, mình chắc chắn không có ý định gian lận như các bạn đã bị mình bắt.

    Hồi lớp 6, một lần mình nói dối cô giáo khi làm bài kiểm tra văn. Mình không nhớ mình đã nói dối thế nào, nhưng mình đã có nhiều thời gian hơn, điểm chắc đã cao hơn. Nhưng sau này nghĩ lại, mình luôn thấy sự ngay thẳng là cái giá quá đắt để trả cho vài điểm của một bài văn. Không bao giờ mình làm cái gì tương tự nữa.

    Và các em sinh viên, các em hãy tin là trong những giám thị của các em, tồn tại nhiều người như mình.

    Oyako, Katsuoji

    Nếu thầy cô và cha mẹ các em nói hãy trung thực, các em trả lời đồng ý, rồi sau đó không trung thực, tức là các em không dám nói ra cái các em thực sự là. Mình như thế nào mà không dám nói ra như vậy, đó là mình tự khinh mình. Nếu các em nghĩ có những môn thi thật vô bổ, tại sao các em lại chọn học nó? Nếu các em thấy hệ thống có vấn đề, hãy đấu tranh chứ đừng làm trò trong bóng tối, như thế là hèn nhát. Nếu ai cũng thấy vấn đề và ai cũng mặc kệ nó, chỉ làm việc cốt thỏa mãn mục đích của bản thân, thì mọi chuyện có thể tốt lên không?

    Tự nhiên mình nhớ lại một chuyện trong “Khuyến học.” Hơn trăm năm trước có lần thầy Fukuzawa muốn mời một giáo viên người Mỹ, giáo viên đó ổn cả, nhưng hệ thống hành chính của Nhật quá quan liêu và giáo viên đó không thể sang với tư cách giáo viên. Fukuzawa có thể nói dối để xử lý giấy tờ và để giáo viên đó sang, nhưng ông đã không làm thế. Ông nói cho chính phủ Nhật biết rằng họ sai. Người giáo viên đó thì, như các bạn có thể đoán, lần đó không sang được.

    Tình cờ, một chuyện khác lại liên quan đến Nhật. Một thầy của mình ở VN có thư mời sang Nhật dự hội nghị nhưng ban tổ chức in nhầm ngày. Thầy đã đặt vé nhưng không thể xin được thị thực vào ngày cần sang. Nhân viên sứ quán tư vấn thầy chuyển sang xin thị thực du lịch, như vậy sai mục đích nhưng sẽ xong việc. Các bạn biết thầy đã làm thế nào không? Thầy hủy chuyến đi đó, sau khi thấy không có cách nào khác ngoài xin thị thực du lịch. Thầy nói nếu sang thì sẽ đường đường chính chính mà sang dự hội nghị, chứ không làm như thế.

    Thầy là người sẽ chiến đấu nếu thấy hệ thống sai, chứ không lựa gió và xin Visa du lịch cho xong việc.

    Trước đây mình hoàn toàn giống thầy, nhưng bây giờ sau khi đã bị cuộc đời vả nhẹ mấy cái thì mình thấy xin Visa du lịch cũng chẳng sao. Thầy thì đã và vẫn luôn là con người như thế. Quay lại chuyện gian lận thi cử, thì dù là con người không được nguyên tắc cho lắm, mình vẫn không thể chấp nhận nó được.

    Điều này mình muốn nói với các em sinh viên, mình đã nghe rằng: Cách mà các em làm một việc là cách mà các em sẽ làm mọi việc. Bản chất con người em thể hiện ở mỗi việc em làm. Bỏ qua cho sự gian lận của các em là một tội ác, không phải là chỉ với các bạn cùng thi với các em, mà là với chính các em và với xã hội. Nếu các em thấy gian lận cũng không sao, mà lại có thứ này thứ kia, dù muốn dù không tiềm thức của các em sẽ ghi nhận chuyện đó, và các em sẽ ra ngoài đời theo cách đó. Nếu các em làm những việc chỉ liên quan đến chính các em, vậy thì không sao. Nhưng thường công việc của các em liên quan đến người khác. Nếu là các em, các em có thể tin lời của một chính trị gia mà khi còn đi học luôn gian dối? Nếu là các em, các em có tự tin đi trên những cây cầu thiết kế bởi những kỹ sư mà thời còn là sinh viên đã gian lận để qua môn? Nếu là các em, các em có dám để một bác sỹ từng gian lận ở trường Y phẫu thuật cho mình? Chắc là không, phải không. Câu chuyện không bao giờ là điểm số của lúc đó, câu chuyện là con người mà các em sẽ trở thành, là xã hội mà các em sẽ là trụ cột. Loại tội ác đó, mình không dám phạm. Vì thế, mình đã là một giám thị nghiêm túc.

    Thỉnh thoảng, mình đọc thấy đâu đó ngoài kia các bạn nhắc đến những lúc giở phao hay nhìn bài bạn khi còn đi học như những kỷ niệm đáng yêu và đáng nhớ một thời. Nếu các bạn có thể nghĩ những chuyện đó là bình thường, thì những thứ các bạn than phiền về cuộc sống hay xã hội này, chẳng phải còn bình thường hơn hay sao. Ai cũng gieo hạt táo thì không có lý gì chúng ta sống trong vườn đào được. Mà thôi, mình sẽ nói mấy chuyện khác, vì cứ nói đạo lý thì sẽ sống như mình mất thôi.

    Đêm giao thừa

    Trong khi các bạn thi thì giám thị làm gì? Như đã nói ở trên, nhiều người đọc báo (research paper), hoặc làm những việc giấy tờ khác, vì nguyên tắc là bọn mình không được dùng điện thoại. Phần lớn thời gian giám thị hoặc nói chuyện với nhau, hoặc ngồi không ở mấy góc phòng. Nếu mấy cây đa cây đề không tránh được đi coi thi thì có khi các thầy sẽ nói chuyện với mấy em đang thi, thậm chí hứng lên còn giải thích cách làm bài. Nếu thầy ra đề và giải thích cho tất cả thí sinh thì mình thấy cũng không có vấn đề ghê gớm lắm, chỉ hài thôi. Có khi thì các thầy đi đâu đó hút thuốc hay uống trà một lúc rồi về. Mình thì ngoài việc nói chuyện với giám thị khác, còn có thói quen quan sát các em.

    Thỉnh thoảng có những em rất xinh.

    Nhưng đấy không phải là đối tượng quan sát của mình. Chuyện các em trao đổi hoặc cố nhìn tài liệu ở đâu đó cũng rất dễ nhìn ra, nếu bạn làm giám thị thì bạn sẽ nhận ra điều đó. Cái mình quan sát là thái độ của các em trước và sau khi làm thế. Nhận ra người ta sắp làm gì khi người ta chưa làm, và nhận ra ai có khuynh hướng làm gì đó hơn người khác trong một nhóm người sẽ cho một cảm giác thú vị, và giữ mình tập trung.

    Giám thị có mặt ở phòng thi không phải để làm sinh viên căng thẳng, mà để buổi thi diễn ra thuận lợi. Nếu sinh viên có bất kỳ vấn đề gì, bọn mình sẽ liên lạc với phòng Đào tạo hoặc thầy cô dạy các em môn đó. Giám thị thường cũng chỉ muốn không sinh viên nào phạm quy, không phải lập biên bản thì đỡ tốn thời gian vốn đã ít ỏi của bọn mình. Có điều, đời không như mơ. Một số giám thị vì tính xuề xòa hoặc ngại thủ tục phiền hà quả thật là có bỏ qua cho sinh viên.

    Hồi đầu, mình luôn giải thích quy chế rất kỹ trước khi thi, và nói với các bạn sinh viên rằng nếu các bạn phạm quy thì chắc chắn sẽ bị xử lý. Mình nhớ mình hay nói nguyên văn “xin các bạn đừng làm những chuyện dại dột.” Nghe nó hơi buồn cười một chút, mình mong là đầu óc các bạn trẻ được thư thái hơn, dù chỉ một xíu thôi, trước khi thi. Không hiểu sao, có bạn không tin mình. Mất khoảng một kỳ các bạn ấy mới chịu hiểu là mình nói thật. Mình có cảm giác kỳ thứ hai khi mình coi thi, khi mình vào phòng thi thì các sinh viên im lặng nhanh hơn so với kỳ đầu tiên. Chuyện mình nói thật, đã nhiều sinh viên biết.

    Một góc trường mình

    Quá trình để một sinh viên bị đình chỉ thi là như thế nào?

    Theo đúng quy chế, lần đầu tiên vi phạm thí sinh sẽ bị cảnh cáo, có nghĩa là trừ một phần tư số điểm và bị lập biên bản. Lần thứ hai thí sinh sẽ bị khiển trách, trừ một nửa số điểm, và lần thứ ba sẽ bị đình chỉ thi. Vi phạm là thế nào? Đó là khi thí sinh hỏi bài, nhìn bài, cố tình gây mất trật tự, v.v. Dùng tài liệu và bị bắt có nghĩa là thí sinh sẽ bị đình chỉ thi ngay lập tức.

    Nhưng thường bọn mình không làm thế, dù mình nghiêm khắc, làm thế quá nghiêm khắc. Mình còn quá trẻ để chịu đựng sự giải thích và hứa hẹn của các em, nhất là hồi đầu.

    Như mình đã nói, hồi đầu, các em sinh viên không tin là mình sẽ lập biên bản thật. Mình không chắc chắn về lý do. Để giảm độ căng thẳng thì lần đầu các em phạm quy, như quay sang nhìn bài bạn chẳng hạn, mình chỉ nhắc thôi, và lần thứ hai mình mới lập biên bản thật. Thậm chí trước khi lập biên bản mình thường còn chỉ đánh dấu bài bằng chữ ký của mình thôi. Như vậy, mỗi em có thể bị nhắc bốn lần trước khi bị đình chỉ. Về sau, mình thấy hình như vì lần đầu tiên bị nhắc không sao nên có những em cố tình hỏi bài một lần. Khi đó thì mình nói với các em, chỉ có em đầu tiên trong phòng bị nhắc không bị lập biên bản thôi.

    Nhiều em bị lập biên bản thực ra là ngay khi vừa quay sang chưa kịp hỏi gì. Các em chịu ký biên bản vì thực sự trong đầu có ý định trao đổi. Mình lập biên bản để những em khác thấy mà từ bỏ ý định làm trò, vậy thôi. Trong rất nhiều trường hợp, mình bảo các em bị lập biên bản ở lại. Nếu thấy các em có ý thức thì có thể hủy biên bản, dù sao các em cũng chưa thật sự làm gì. Không giám thị nào muốn gây khó dễ cho sinh viên, nhưng các em phải hiểu được mình đã làm đúng hay sai. Nếu các em nhớ được việc đó và trở nên đàng hoàng hơn, hủy biên bản chẳng có gì khó.

    Hủy biên bản thì người phạm quy là giám thị. Cuộc đời bất công ở chỗ giám thị thì sẽ không bị phạt, trừ khi có khiếu kiện từ sinh viên về việc hủy biên bản.

    Chuyện đánh dấu bài có ý nghĩa gì? Nó không có ý nghĩa gì cả, nó cũng không có trong quy chế, các em sẽ không bị trừ điểm. Nhưng mình thấy nó có hiệu quả tâm lý tốt. Khi một em bị đánh dấu bài, cả phòng thi có vẻ nghiêm túc hơn. Như mình đã nói, giám thị không thích lập biên bản vì chẳng ai thích thủ tục nhiêu khê, nhưng mình muốn sinh viên làm bài nghiêm túc. Thực ra, cũng có trường hợp giảng viên hỏi về cái chữ ký loằng ngoằng trên bài thi và có thể bài sẽ bị chấm nặng tay hơn, nhưng về cơ bản, nếu không bị lập biên bản thì không sao cả.

    Sau một thời gian, mình có thể biết em nào muốn hỏi bài và làm gì đó, và nhắc em ấy trước khi em ấy kịp làm việc dại dột đó. Khi bạn dành rất nhiều thời gian để quan sát, bạn sẽ giỏi quan sát hơn. Sau rất nhiều lần coi thi, cuối cùng mình còn có thể nhìn ra em nào muốn gian lận, nhưng sẽ không dám. Lúc đó nhiều sinh viên đã biết mình rồi. Việc coi thi trở nên đơn giản hơn ngày trước.

    Khi mình còn đi học, mỗi lúc đi thi nếu được xếp lên bàn đầu mình rất hạnh phúc, còn nếu phải ngồi bàn cuối thì thỉnh thoảng thế nào cũng có lúc nghe lao xao ở đâu đó. Khi làm giám thị thì mình nghĩ mình đã giúp mọi sinh viên thoải mái dù ngồi ở bất kỳ đâu.

    Khi các bạn trẻ nói dối, ngoài mặt mình bình thường nhưng trong lòng thì thế này đây…

    Giám thị có biết sinh viên nói dối không?

    Có những trường hợp mà khi một sinh viên nhìn bài của một sinh viên khác, mình không biết người cho nhìn bài có cố tình làm vậy không, nếu cố tình thì cả hai bị xử lý giống nhau. Lúc đó mình sẽ hỏi chính sinh viên đó: “Có phải em cho bạn nhìn bài không?” Mình là người khá tự tin vào khả năng đọc người khác, nên có một phần nhất định mình biết sinh viên đó có nói dối hay không. Nhưng mình luôn luôn xử lý theo đúng như câu trả lời của sinh viên đó.

    Tại sao? Thứ nhất là vì dù mình tin đến 99% vào cảm nhận của mình, mình không có bằng chứng kiểu camera hay nhân chứng thứ ba gì cả. Thứ hai là một nguyên nhân quan trọng hơn. Mình nghĩ sinh viên đã đủ trưởng thành để nhận trách nhiệm, và để khẳng định họ là con người như thế nào trong mắt chính họ. Thường thì những sinh viên có thể cho bạn nhìn bài là những sinh viên có học lực tốt. Giả sử sinh viên này thật sự cố tình cho bạn nhìn bài, anh ta có thể nhận lỗi, chịu bị trừ điểm, chịu lùi lại phía sau trong cuộc đua với những sinh viên ưu tú khác cho một danh hiệu, một học bổng, hay bất kì cái gì. Tuy thế, anh ta có thể tự hào rằng bản thân là một người dám làm dám chịu. Bị điểm kém trong một kỳ thi, nhất là khi có thể tránh được nó, có thể có những ảnh hưởng khá xấu nhìn thấy được trước mắt cho một sinh viên đang có thành tích tốt, nhưng về lâu dài, mình tin nó là một trong số những trải nghiệm làm nên một người bản lĩnh hơn. Ngược lại, giả sử sinh viên này cố tình cho bạn nhìn bài nhưng không dám nhận, anh ta sẽ không bị lập biên bản, không chịu ảnh hưởng gì ngoài chút sứt mẻ tình bạn có thể có hoặc không; nhưng anh ta đã chọn cho mình chiều hướng trưởng thành với sự hèn nhát, vị kỷ, một chiều hướng mà mình nghĩ sau này nhìn lại ai cũng có thể thấy là không đáng. Nhưng sinh viên thì đủ lớn rồi, sống cách sống như thế nào, trở thành con người như thế nào, đều là lựa chọn và trách nhiệm của chính họ.

    Thỉnh thoảng có những sinh viên muốn gian lận bằng những cách không có chút tinh tế nào như xin đi ra ngoài hoặc nhân khi giám thị vừa đi qua thì liếc nhìn tài liệu. Mình thì thường để ý để giám thị còn lại nhìn thấy những sinh viên mình không nhìn thấy, và nhắc các em ra ngoài trước khi thi nếu cần, và tuyệt đối không đi ra ngoài trong 90 phút làm bài. Người ta thường có xu hướng muốn đi vệ sinh khi căng thẳng, ví dụ như trước lúc thi, và có thể nhịn 90 phút mà không có vấn đề gì, nên sau khi đã được nhắc như vậy mà thí sinh vẫn cố gắng ra ngoài trong kỳ thi, thì thường có điều không ổn.

    Ngoài quan sát các bạn sinh viên, trong giờ thì có vài việc khác nữa mình có thể làm. Nếu môn thi trong chuyên môn của mình, mình có thể thử giải nó cho vui, hoặc xem nội dung bài làm của các em. Cũng có lúc mình nhìn ra ngoài cửa sổ và nghĩ thẩn thơ.

    Con đường Triết học, Kyoto 2019

    Vài chuyện qua mấy kỳ thi mà mình còn nhớ

    Có lần mình được phân coi thi môn Triết học. Trước khi đến phòng thi, giám thị được lưu ý là hàng năm môn này thí sinh mang tài liệu vào phòng thi rất nhiều. Về nguyên tắc thì mang tài liệu vào phòng thi là đủ bị đình chỉ, nhưng hôm ấy chúng mình thống nhất là nếu nhắc mang nộp mà thí sinh mang nộp trước khi thực sự dùng thì sẽ bỏ qua.

    Các bạn thấy đấy, trường mình rất nhân văn. Đã xử lý thì phải nghiêm, nhưng nếu được thì tốt nhất là không phải xử lý! Vậy mà ngày hôm đó phòng mình vẫn có khoảng 6 hay 7 thí sinh bị đình chỉ.

    Mình thông cảm với các bạn trẻ không thích triết học Mác Lê. Hồi mình học môn đó thì được phép mang giáo trình vào phòng thi. Nhưng gian dối thì không thể tha thứ được, như đã nói ở trên. Hơn nữa, gian dối trên lòng tốt của người khác thì càng không thể tha thứ được. Mình không còn nhớ rõ nhưng hình như trước khi người đầu tiên bị đình chỉ, bọn mình đã nhắc thí sinh ba lần rằng có thể nộp tài liệu ngay lúc đó và sẽ không sao.

    Nhưng chuyện đáng nhớ là thế này.

    Có một thí sinh chuẩn bị dùng tài liệu, tức là chưa dùng (Nếu các bạn nghĩ mình đọc được suy nghĩ của thí sinh thì đúng rồi, mình có thể nhìn và biết có gì đó không ổn). Không hiểu sao mình thấy cậu ta có gì đó rất đặc biệt, nói dễ hiểu là không nên bị đình chỉ.

    Mình biết trong ngăn bàn có gì đó nên đến lấy ra và hỏi: Đây là tài liệu của em hay của lớp buổi sáng?

    Cậu ta trả lời: Của em.

    Đó đúng là một người đặc biệt. Đương nhiên cậu ta bị đình chỉ. Nhưng mình nghĩ cậu ta đã chọn đúng.

    Một lần khác, một thí sinh bị bắt khi dùng tài liệu. Nhưng cậu ta ngồi đó đến cuối buổi, giải thích rằng đây là môn thi cuối cùng, nếu không qua cậu ta sẽ không ra được trường, và không thể đi làm, và cậu ta là niềm hy vọng của gia đình.

    Nếu là bạn, bạn sẽ làm thế nào?

    Mình biết là niềm hy vọng của gia đình là như thế nào. Chỉ có điều ngay cả khi không tốt nghiệp được, thì sinh viên vẫn có thể đi làm, năm sau quay lại thi.

    Mình giải thích cho sinh viên đó rằng cậu ta có vấn đề về đạo đức. Bạn có thể nghĩ mình hơn cậu ta một vài tuổi, chẳng qua do sự tình cờ của số phận mà nắm quyền quyết định ở đó, có tư cách gì mà nói chuyện đạo đức. Nhưng, sự thật là như thế. Gian lận thi cử, biện minh rằng hoàn cảnh xô đẩy, người có lòng tự trọng đủ cao có làm thế không. Giám thị thứ nhất hôm đó là một thầy nhiều kinh nghiệm, cũng đồng ý với mình.

    Nhưng mình cuối cùng thì vẫn là một người yếu đuối. Cậu ta nói bài thi hôm ấy có thể có ý nghĩa rất lớn đến cuộc đời của cậu ta, như thể là mình sắp hủy hoại tương lai tươi sáng của cậu ta vậy. Mình biết cái gì đúng, cái gì sai, nhưng không kiên quyết được. Cuối cùng mình nói với giám thị thứ nhất nếu thầy đồng ý không đình chỉ trường hợp này, thì mình cũng đồng ý.

    Cậu ta thuyết phục được giám thị một. Mình không nhớ cậu ta bị trừ bao nhiêu điểm, nhưng cuối cùng thì cậu ta có vẻ qua môn đó.

    Chuyện thú vị là, trong kỳ thi năm ấy mình gặp cậu ta ở một buổi thi khác. Hôm trước không phải môn thi cuối cùng của cậu ta. Mình bảo giám thị phòng thi ấy chú ý đặc biệt thí sinh này.

    Bạn có thể so sánh hai thí sinh, cậu bé thi triết học và cậu bé niềm hy vọng của gia đình, trên đời có những người kỳ lạ.

    Như mình đã nói, nhiều khi giám thị chính là người phạm quy. Có lần mình bắt hai em nhưng không biết ai là người khơi mào bằng cách hỏi người kia. Người còn lại đã trả lời. Có thể chỉ là nói: “Tôi không biết,” nhưng các em đã được dặn là hoàn toàn im lặng, không nói gì cả, và cả hai đã nói. Lẽ ra có thể lập biên bản cả hai, nhưng mình đã làm thế này. Mình bảo cả hai rằng nếu ai nhận mình hỏi bài người còn lại thì người bị hỏi sẽ không sao, còn người hỏi sẽ bị phạt nặng hơn bình thường. Mình biết làm thế là tàn nhẫn, nhưng mình muốn các em hiểu rằng bạn bè tốt không phải là tiếp tay cho nhau làm việc xấu, kiểu như cùng nhau gian dối, và cũng muốn để hai em ấy hoặc là nhớ để sau này đừng vì bản thân mà hại đến bạn mình, hoặc xác minh tình bạn của các em khăng khít đến mức nào.

    Con đường Triết học, Kyoto.
    Hàng năm rất nhiều người ngoại quốc tới đây

    Một lần khác có một thí sinh người nước ngoài trong phòng thi mình trông. Trường mình rất ít sinh viên nước ngoài, cậu ta là trường hợp đặc biệt. Khi mới nhập học có lúc cậu ta nói chuyện với mình và nói chọn trường mình vì có chương trình tiếng Anh và nhiều sinh viên quốc tế. Không biết ai đã nói dối cái chuyện sinh viên quốc tế nữa, hay vì đó là một lãnh đạo nói tiếng Việt lúc cậu ta chưa nghe sõi nên đã hiểu lầm, mình không biết. Mình nghĩ cậu ta là một người ưu tú. Cậu ta có học bổng của Chính phủ Việt Nam và nhận nhiều ưu đãi đặc biệt.

    Nhưng hôm ấy trong phòng thi cậu ta “đã có những biểu hiện lươn lẹo.” Tất nhiên cậu ta bị nhắc lúc chưa kịp làm gì. Mình không còn nhớ có lập biên bản không, nhưng đã yêu cầu cậu ta chuyển xuống bàn cuối cùng. Suốt buổi thi cậu ta bị quan sát rất kỹ, nhưng thực ra là kỹ hơn thí sinh khác chút thôi.

    Cuối buổi, cậu ta ở lại và nói với mình: “Why are you so strict (with me)?”

    Mình hiểu câu đó trong tiếng Việt là: “Anh đang phân biệt đối xử với người ngoại quốc phải không?”

    Phải mất một lúc để giải thích với cậu ta rằng mình có phân biệt đối xử thật, nhưng là phân biệt đối xử giữa những người chọn cách làm bài thi đàng hoàng và những người có tư tưởng về những cách không đàng hoàng. Chỉ vậy thôi, còn thí sinh da màu gì hay nói thứ tiếng gì, không quan trọng.

    Lại một lần khác, học trò cưng của tiền bối của mình gian lận. Cậu này theo anh ấy làm nghiên cứu khoa học từ khi còn học cấp ba, có giải quốc gia quốc tế gì đó, tiếp tục theo anh ấy làm nghiên cứu khi vào đại học. Đây là môn anh ấy dạy, cậu này đương nhiên có thể làm bài không có vấn đề gì, nhưng muốn giúp các bạn. Mình không còn nhớ có lập biên bản không, hình như có. Còn chuyện giải thích cho cậu ta rằng không phải ở sân nhà thì thích làm gì cũng được, trước mặt tất cả mọi người, thì mình nhớ rõ. Hôm ấy tiền bối của mình là giám thị một.

    Hoa bồ công anh ở Kyoto

    Ngoài coi thi ở trường ra mình có coi thi đại học và thi chứng chỉ quốc gia. Thi đại học thì gần như không có thí sinh nào phạm quy cả. Chỉ có điều các em hơi thiếu kỹ năng và định dạng bài thi cũng mới nên giải thích hơi mệt. Chuyện mình nhớ nhất là một ngày coi thi cùng một anh cao lớn và khá đẹp trai. Có một em nữ làm bài xong rất sớm và thỉnh thoảng hỏi anh kia mấy câu như muốn làm quen. Chỉ thấy hài thôi.

    Nếu bạn đọc đến đây bạn có thể thấy ở trường mình chuyện thi cử được làm khá là nghiêm túc. Đúng thế thật, cho đến khi các bộ ban ngành xuất hiện. Trường mình là một điểm thi Chứng chỉ Tin học, cần thiết cho hồ sơ công chức, viên chức. Mình cũng là giám thị ở kỳ thi đó.

    Hôm đầu tiên có thí sinh hỏi mình. Mình nghĩ có vấn đề gì đó với máy tính, nhưng không, máy tính bình thường. Chị ấy hỏi mình: “Thầy ơi câu này làm thế nào?”

    Vâng, trong một kỳ thi lấy chứng chỉ quốc gia.

    Mình nghĩ nó đủ đơn giản để người nào ghi chữ “có chứng chỉ tin học …” vào sơ yếu lí lịch của mình cũng nên làm được. Tất nhiên mình không giúp và nhắc nhở mọi người làm nghiêm túc. Khi phòng thi trật tự giống như những phòng thi mình thường trông, thì một anh ở trung tâm máy tính đến và hướng dẫn cho mọi người cách làm bài.

    Vâng, trong một kỳ thi.

    Hóa ra không phải chị ấy hỏi mình vì tuyệt vọng, mà vì người ta đã nói cho chị ấy sẽ có người chỉ bài.

    Khi thấy anh ấy làm như vậy, mình đi ra khỏi phòng thi. Tất cả những thứ mình giải thích từ lúc bắt đầu đến khi ấy, đang bị làm ngược lại. Mình còn đứng một cách thừa thãi trong phòng thi ấy làm gì.

    Khi nãy mình có nói nếu thấy sai thì đừng gian dối, mà hãy đường hoàng bảo vệ cái bạn cho là đúng. Nhưng bảo vệ cái mình tin là lẽ phải ở đó thật lạc lõng, và cậu nghiên cứu viên mới vào nghề hèn nhát là mình khi ấy đã đơn giản là đi ra ngoài.

    Mình nghĩ các bạn đều muốn xã hội của chúng ta trở nên tốt đẹp hơn, công bằng hơn, phải không? Lời cuối bài nhắn đến các bạn trẻ còn đang được đi thi: hãy thử đặt mình vào vị trí của một giám thị như mình, cảm nhận, suy nghĩ, và thi tốt nhé 🙂

    Mấy cuộc phỏng vấn ngày xưa

    Có mấy cuộc phỏng vấn mà với tôi là đáng nhớ. Thời gian trôi qua cũng đã lâu, có thể không có ý nghĩa gì với bạn đọc nữa, nhưng tôi vẫn muốn viết ra đây. Không có thêm điều gì mới mẻ, nhưng biết đâu lại giúp bạn có vài phút giải trí sau một ngày mệt mỏi.

    Hoa anh đào ở trường tôi, 2019

    UET, ngày xưa. Một anh trong hội sinh viên và tôi. Phỏng vấn tuyển sinh viên tình nguyện mùa hè ở các tỉnh miền núi.

    • Vì sao em đăng ký tham gia tình nguyện xa?
    • Bạn em nói đang thiếu người, mà em nghĩ đây là việc có ích ạ.
    • Bạn nào thế em, không phải là thiếu người đâu.
    • Vậy em xin rút ạ.

    Tất nhiên tôi không qua vòng phỏng vấn.

    Kyoto, 2018

    Một khách sạn ở Hà Nội, ngày xưa. Phỏng vấn giữa ứng viên tiềm năng và đại diện trường đại học ở Canada. Tôi và một giáo sư ở Saskachewan.

    • Gần đây GS Nguyen đã đến trường em giảng bài.
    • Tôi chính là Nguyen đây.
    • Nhưng buổi đó em không tham gia ạ. Mà thầy nhìn không giống trong ảnh.
    • À ảnh đó tôi chụp lâu rồi.

    Là người Việt mà thầy nói tiếng Anh từ đầu chí cuối, lại có cái ảnh chụp từ chục năm về trước nữa khiến tôi không nhận ra, lần đó ngại quá.

    Tokyo, 2019

    L’Espace Hanoi, ngày xưa. Director và tôi. Phỏng vấn vào chương trình cao học ở Pháp.

    • Bạn rất ưu tú nhưng sao tôi chưa nghe về trường của bạn nhỉ?
    • Em cũng không biết nữa, có lẽ vì mọi người trường em hay đi Mỹ ạ.

    Anh director rất dễ mến. Thấy tôi có chứng chỉ mới tốt hơn cái đã nộp trong hồ sơ, anh ấy photo giúp tôi và bảo nên bổ sung. Anh ấy cũng cho tôi danh thiếp và nói khi cần cứ liên lạc. Lần đó tôi đỗ vào Saclay và một trường nữa.

    A photo taken near Tokyo Station, when I was leaving Tokyo after meeting with Honda YES Awardees in Japan, 2019

    Viện Chiến lược Chính sách KHCN, ngày xưa. Phỏng vấn ứng viên giải thưởng Honda.

    • Cháu có nghĩ nhà nước đang tạo điều kiện rất tốt cho các nhà khoa học không.
    • Dạ cháu không nghĩ vậy ạ.
    • ….
    • Bác nghĩ là như vậy đấy.
    • Có thể với lãnh đạo là như vậy nhưng theo những gì cháu thấy thì không phải thế ạ.

    Lần đó tôi đã lọt vào top 10 và được nhận giải thưởng.

    Đà Nẵng, 2016

    Skype. Một khách sạn gần ĐH Duy Tân. Thầy tôi bây giờ và tôi. Phỏng vấn với GS của trường ĐH sau khi đỗ vòng 1 MEXT.

    • Em có câu hỏi gì không?
    • Tại sao thầy chọn ngành này ạ?
    • Ngày nhỏ tôi thích Atom. Tôi muốn trở thành tiến sỹ và tạo ra robot như Atom.

    Khi đến lab tôi thấy có hình Atom thật, nhưng lý do thầy làm những việc thầy đang làm thì cao cả hơn nhiều. Một ngày nào đó tôi sẽ viết một bài về lý do ấy. Thầy tôi cùng với đồng nghiệp đã khai sinh ra Rescue Engineering.

    Kyoto, 2019

    Postscript:

    Bài viết đã kết thúc, nhưng tôi tự nhiên nhớ ra mấy cuộc hội thoại nữa, có khi có tính giải trí, có khi không, nhưng chắc chắn đã khiến tôi bất ngờ khi nghe câu trả lời của đối phương. Nhân đây xin được kể với mọi người.

    * * *

    Thi tốt nghiệp cấp 3. Tôi và một người không quen biết.

    • Tại sao cậu lại chép bài?
    • Chẳng ai có thể tự học mà làm được hết tất cả các môn thi cả!

    Tôi đã bị sốc. Con người sống trong những thế giới quá khác nhau, dù có chung nhau một không gian địa lý.

    * * *

    Ôn thi tốt nghiệp cấp 3 ở nhà Tal. Tôi và Tal.

    • Blah, blah, blah. Tiếng Anh thì cũng dễ thôi. Mà tôi thấy bọn giàu giàu hay có gia sư dạy tiếng Anh mà ông không có nhỉ?
    • Thì tôi có ông đây.

    * * *

    Ở nhà của Tal, tôi và Leko.

    • Mai thi rồi mà bây giờ ông mới học á?
    • Học không bao giờ là muộn, ông hiểu không?

    * * *

    Ở nhà của Tal, lại là tôi và Leko.

    • Leko, xin lỗi ông, tôi làm cái USB của ông nhiễm con vbs rồi, xóa mãi không được…
    • Không sao, mai tôi mang lên cắm vào máy công ty.
    • Máy công ty có phần mềm diệt virus xịn hả?
    • Không, nhưng làm máy công ty nhiễm virus sẽ được thưởng hai triệu rưỡi. Đấy là phát hiện lỗi bảo mật.

    * * *

    Đại sứ quán. Sau khi phỏng vấn. Chị nhân viên sứ quán và tôi.

    • Phỏng vấn thế nào em?
    • Nhanh hơn em nghĩ chị ạ. Phỏng vấn nhanh thế có phải là trượt rồi không chị.
    • Ừ, chắc thế đấy em ạ.

    Tôi đã chờ một lời động viên như tôi hay nói cơ.

    * * *

    Email. Một chị mà tôi quý và tôi.

    • Sao em lại không muốn đăng ký?
    • Mọi người quá xuất sắc. Em nghĩ em không có cơ hội chị ạ.
    • Hãy cho mình một cơ hội, và cho Honda một cơ hội.

    Nhờ câu nói ấy mà cuối cùng tôi đã nhận được một trong những giải thưởng có ảnh hưởng lớn nhất đến tôi cho đến thời điểm này.

    * * *

    Tokyo. Phần cuối buổi phỏng vấn với công ty mà tôi sẽ làm.

    • Bây giờ phỏng vấn đã kết thúc. Chúng ta hãy nói chuyện vui thôi. Bạn có câu hỏi gì không?
    • Tôi muốn hỏi vì sao mọi người chọn công ty mình được không?
    • Những chỗ khác đều không nhận tôi, mấy chục năm trước kinh tế Nhật có thời kỳ khó khăn …
    • Không đùa chứ ạ?
    • (Yakuin) Đúng là vậy đấy.

    Tôi chỉ thấy hơi buồn cười chút thôi.

    It is not about morality, it is about what you think to be morality

    As a seasoned invigilator at my university (just a secondary duty, but it takes up a great amount of my time), I have been surprised by the fact that so many students attempted to cheat in their exams, even though they understand the risk. I used to think badly of them. I thought some of the students are simply immoral, their code of ethics is problematic, and that is it.

    Recently, the mystery is demystified. The students are not sinful, not wicked or whatever, they just BELIEVE that they are right. They think cheating in exams is ok, they believe everyone would do so if possible. In other words, they just don’t know how disgusting their actions seem to me. If they ever reconsider cheating, chances are it is out of the fear of being get caught, not because of their sense of morality.

    It is clearly stated in a study that if there is a reason that makes a person do something immoral to you, it is because they think they are right. Simply put, people do most of what they do because they think it is moral.

    Coincidentally, during the past several days, I have come across some articles about this. An ex-CIA agent said in an interview by Al Jazeera that after ten years working as an expert in counter-terrorism operations, if she has learned something, it is this: Everyone thinks that they are the good guys. In that interview, she revealed a disturbing fact: the war against terrorism is manipulated by a small group of people, and while people keep dying in the front, that group is greatly benefited. If one has chances to ask anybody on the street of Afghanistan or Syria why the U.S. is bombing them, they would answer: Because they hate Muslims. Nothing more or less. Nothing to do with terrorism. We don’t know exactly what is in the head of the terrorists, but there is little chance that they are just a bunch of psychopaths who will attack the U.S. no matter what. They are fighting for the future of themselves, the future of their children, just like us. In another article that I found on Aeon, the author started with a quote from a criminal, which shows that since he was a child, he felt good upon seeing his relative kill a person. This is to say, people resort to sins because their morality demands that.

    A conversation with Leko Peter a couple of days ago confirmed the statement of moral motivation. He said that he used to use tricks in examinations. He said that if the proctor had asked him whether he was going to cheat, he would defenitely say yes. OMG! Why on Earth does the proctor ask such questions after announcing the rules for the exams? No, he absolutely won’t ask such questions, and some students, like Leko, may feel no guilt at all. What a lame excuse! I told him it was cowardly.

    The interesting thing is, Leko is one of the best students I’ve ever known. Best, in term of intellectual capability. Ngo Bao Chau studied Math at A0, Leko studied Physics at B0, the counterpart of A0 in Physics. And Leko was arguably the brightest student at B0K23 National Physics Team.

    Come back to the students in the exams that I invigilated, they did not think they were wrong. It’s like a game to them. They want to get good grades, and they will do anything to achieve that goal, as long as what they do does not violate their own moral principles. Ironically, they do not consider cheating as a breach of general morality, unlike many of the invigilators. Consequently, the proctors appear to be overly strict. This is somewhat similar to the situation of law enforcement in Vietnam. I have a feeling that people do not respect the laws because they do not think that upholding the laws is a basic moral principle. As students, they cheat, as civilians, they circumvent the laws. After all, albeit the communist government is largely to blame for the underdeveloped economy and society of Vietnam, most people in the country are also partly responsible for it. How to end that situation? Simple, just be honest in all the exams first!

    Now, when it comes to moral motivation, I should analyse my own situation. I was supposed to complete two conference papers last months, but none of them has yet to be finished. Why? I feel unmotivated, I do not want to conduct further research in the field, and I did not do anything. From my supervisor’s perspective, it would be unacceptable. I have always been a good student and a good research assistant, so how could I do nothing this time? It is because doing so does not violate my ethical standards. But, all things considered, was it really ethical? I would say no. I get paid to do that job, I have to do it. If I find no motivation to write the papers, I should create one: my moral motivation. I have to do this, because not doing it is immoral.

    Bottom lines: Most people in this world think highly of themselves, that they are the good guys. If we see they do something unacceptable, it is because it is acceptable to them, or it may even be demanded by their moral standards. That fact is applicable to everyone, including you and me. Therefore, some prior research on people’s background may make their actions much more understandable or even straightforward. We can also take advantage of this fact to generate motivation for ourselves.

    (Originally posted in my private blog before I left Vietnam)

    Tốt nhất là sau tất cả, chúng ta có thể ngẩng cao đầu như cái tháp đồng hồ này.
    Kyodai Katsura Kyanpasu 2019

    Cầu xin thần linh

    Inamori Kazuo là tác giả yêu thích của mình, dù ông ấy viết ít và nội dung các sách có nhiều phần trùng lặp. Mà, cái gì lặp lại nhiều lần thì cũng dễ ghi nhớ hơn, cả chân lý cũng vậy, nên không sao.

    Trong quyển sách đầu tiên của Inamori mà mình được đọc, ông ấy kể về việc một nhân viên của Kyocera khóc khi đã cố hết sức mà vẫn không thể hoàn thành công việc. Hình như đó là khi công ty đang sản xuất cho đơn hàng của IBM, đó là một đơn hàng chưa từng có công ty Nhật nào nhận được. Người nhân viên nói đã thử mọi cách. Lúc ấy Inamori nói:

    Vậy anh đã cầu xin thần linh chưa?

    Và sau đó, họ thành công.

    Khi mà chúng ta đã cố hết sức rồi, thật sự đã cố hết sức rồi, mà vẫn cần một phép lạ xảy ra, thì đúng là nên cầu xin thần linh. Mình hoàn toàn tin vào sự tồn tại của những thế giới khác, và tin vào thần linh.

    Khi nghe chuyện của Inamori, mình có nhiều suy nghĩ. Mình sẵn sàng cầu xin thần linh, nhưng gần đây càng ngày mình càng ít làm như vậy. Vì sao ư?

    Mình không có tư cách để cầu xin.

    Nếu chưa thử đủ mọi cách, chưa dốc hết tâm lực, chưa đến bước đường cùng, mình không muốn, và không thể cầu xin thần linh. Nếu chưa cố hết sức, một ngày kia nói chuyện với họ về những lần ấy, không phải là xấu hổ lắm hay sao.

    Và càng ngày, mình càng thấy khó để dốc hết sức lực làm một việc gì đó. Mình biết đích đến nhưng giờ hoang mang về con đường. Mình chẳng bao giờ có đủ thời gian nhưng có không chỉ đôi khi mà nhiều lúc không biết làm gì cả. Chao ôi, mình muốn có thể lại cầu xin họ như mình đã từng.

    京都 平成29

    Tác ý

    Bài viết này nói về tác ý, nhưng một phần nội dung quan trọng là cách sử dụng từ ngữ. Xin được nói về chuyện từ ngữ trước.

    Có nhiều bạn trẻ quan tâm đến Phật giáo, nhưng khi tìm hiểu kinh sách thì vấp phải một rào cản lớn: ngôn ngữ. Dù các tài liệu được viết bằng tiếng Việt, đối với người mới bắt đầu chúng khó hiểu như sách ngoại văn.

    Tại sao? Nguyên nhân thứ nhất có thể là vì bản thân các khái niệm đã khó hiểu. Rất nhiều khái niệm không có trong tiếng Việt mà chúng ta sử dụng hàng ngày; hầu hết các khái niệm là từ Hán Việt (như lý tác ý, tinh tấn, miên mật, v.v,..); một số khái niệm là phiên âm Hán của tiếng Phạn (mạt na, a lan nhã, đầu đà, v.v,…). Tiếng Việt không đủ, mà dù có học thêm chữ Hán cũng vẫn thấy khó hiểu. Chỉ là hiểu ý nghĩa câu chữ thôi chứ chưa nói đến thấm nhuần.

    Nguyên nhân thứ hai là một hiện tượng tâm lý. Người ta thường có lấy mình làm thước đo để đánh giá người khác. Những người kém cỏi thường đánh giá thấp năng lực của người khác trong khi những người giỏi giang thường đánh giá người khác cao hơn thực tế. Các thầy biết trình độ người mới tiếp cận có hạn, nhưng thực ra vẫn đánh giá trình độ đó cao hơn trình độ thực. Tất nhiên, nếu bạn thật sự quan tâm tìm hiểu, chiêm nghiệm, thực hành, rồi bạn sẽ hiểu. Nhưng với khi mới bắt đầu, ngôn ngữ vẫn là một rào cản lớn.

    Thực tế trên dẫn đến hai hiện tượng. Thứ nhất, người trẻ cảm thấy khó tự mình tiếp cận với giáo lý. Nếu không có thầy để trao đổi thì thật sự khó. Thứ hai, một số người tưởng là mình hiểu, và bắt đầu giải thích giáo lý như thể đã hiểu. Những người thích nói chữ dùng những từ ngữ trong Phật giáo như trong những gì họ được đọc và nghe, nhưng thực ra là dùng sai. Ví dụ tiêu biểu là từ “cứu cánh.” Rất nhiều người không hiểu nó vốn có nghĩa là “mục đích.”

    Những điều Phật dạy có thể mang lại nhiều lợi ích cho đời sống, ngay cả khi mục tiêu của chúng ta không phải là giác ngộ hay giải thoát. Hiểu được giáo lý có thể giúp chúng ta sống một cuộc sống cân bằng hơn, thanh thản hơn, giúp cho chúng ta và những người xung quanh cảm thấy vui vẻ và thoải mái hơn. Vì thế, giáo lý nên được phổ biến. Trong các bài giảng pháp cho đại chúng, mọi người có thể hỏi thầy, nên không có nhiều vấn đề. Tuy vậy, nếu là tài liệu thì để có thể đến được với đông đảo mọi người, nên dùng ngôn ngữ đơn giản. Không thể thay đổi từ ngữ của kinh điển Phật giáo, nhưng trong các bài viết và sách giảng, hoàn toàn có thể làm điều đó. Những lời dạy của Phật có thể khó có thể thấu hiểu ngay, nhưng về cơ bản chúng đã luôn gần gũi, dễ hiểu, và nên tiếp tục như vậy.

    Một ví dụ tương tự cho điều này là phong trào Plain English. Thông thường, trong các văn bản thương mại hoặc luật, ngôn ngữ được dùng khá trúc trắc và cấu trúc câu thì phức tạp. Nó trở thành đặc trưng của ngôn ngữ trong những lĩnh vực này, khiến cho legal language and corporate language dường như là những thứ tiếng Anh khác với thứ tiếng Anh mà chúng ta biết. Đúng là trong những lĩnh vực đó người ta phải diễn đạt những điều phức tạp hơn ngôn ngữ thường ngày, nhưng không nhất thiết phải dùng những lối viết ấy, và người ta làm thế vì đó là thói quen hoặc là họ chỉ đang cố làm màu mà thôi. Những người khởi xướng Plain English nghĩ như vậy, và mình cũng nghĩ như vậy. Plain English chủ trương viết tiếng Anh một cách dễ hiểu, với văn phong trong sáng, đơn giản, loại bỏ những hiểu lầm mà cách diễn đạt kiểu cách có thể gây ra. Nhiều công ty đã mời chuyên gia về đào tạo Plain English cho nhân viên của họ, vì thực tế là nó làm cho giao tiếp và kéo theo đó là cả bộ máy các công ty hoạt động trơn tru hơn.

    Xin giới thiệu cuốn “Plain English at work” cho bạn nào chưa đọc. Đây là một cuốn sách đã thay đổi cách mình viết tiếng Anh. Khi còn nhỏ dại hơn cả bây giờ, mình đã từng viết luận bằng những từ ngữ cao siêu chỉ để thể hiện vốn từ. Sau khi biết đến Plain English thì điều quan trọng nhất với mình là giao tiếp hiệu quả, để đối phương hiểu đúng ý mình. Không cần phải nổ làm gì vì thực lực của chúng ta sớm muộn cũng sẽ được biểu hiện ra trong những việc ta làm. Cái gì tốt thì dù ta không khoe nó vẫn cứ tốt, và ta không cần khoe ra nếu không phải đang đi bán hàng.

    Nếu như cách dùng tiếng Anh có thể thay đổi theo hướng đơn giản hơn mà vẫn giữ nguyên được nội dung cần truyền tải, thì “tiếng Phật” cũng vậy. Cuối bài viết này mình sẽ dẫn ra các ví dụ. Phần tiếp theo xin được nói về tác ý, bằng tiếng Việt giản dị.

    Chùa Trấn Quốc, Hà Nội 2019

    Tác ý là một khái niệm liên quan đến ý muốn thực hiện hành động nào đó. Ví dụ, khi bạn đang đọc bài viết này, bạn dừng lại và đi uống nước. Trước khi bạn đứng lên để đi uống nước, tác ý đứng dậy và đi uống nước đã xuất hiện. Trước khi bạn làm một việc gì đó, tác ý thực hiện hành động đó đã khởi lên từ trước, và dù bạn có nhận ra hay không, nó đã xuất hiện và có ở đó. Mỗi hành động luôn theo sau tác ý của nó, dù tác ý khởi lên chỉ trong khoảnh khắc.

    Trước khi bạn đánh một ai đó, có tác ý.

    Trước khi bạn hút điếu thuốc đó, có tác ý.

    Trước khi bạn uống cốc rượu đó, có tác ý.

    Mỗi hành động dù nhỏ nhất đều có tác ý. Có tác ý cầm cốc rượu đó lên, có tác ý đưa cốc rượu đó lên miệng, có tác ý bắt đầu uống nó, v.v.

    Khi hành động của bạn trở thành thói quen, nó diễn ra nhanh đến nỗi bạn không còn nhớ quá trình bạn thực hiện hành động đó nữa, nhưng tác ý vẫn luôn đến trước hành động. Nếu bạn chú ý quan sát, lắng nghe chính suy nghĩ của mình, bạn sẽ thấy tác ý. Khi bạn nhận ra tác ý, bạn có thể quyết định bạn có thực hiện nó hay không. Điều này giống như là bạn đọc suy nghĩ của mình, bạn nghe thấy: Tôi sắp cầm cốc rượu đó lên. Lúc ấy, bạn có thể quyết định có thật sự cầm nó lên hay không. Thông thường, người ta không bao giờ theo dõi suy nghĩ của bản thân kỹ như thế, và không nghe thấy câu đó. Họ chỉ đơn giản nhìn cốc rượu, và nửa giây sau nó đã ở trên miệng họ rồi. Đôi khi, họ say khướt và không nhớ mình đã uống bao nhiêu. Hành động uống rượu là một thói quen, nó quá nhanh và trơn tru.

    Một ứng dụng của việc quan sát và nhận ra tác ý là, nó đưa bạn về với hiện tại và tập trung vào việc bạn làm. Nếu bạn lắng nghe chính suy nghĩ của mình, bạn biết bạn không phải là người điều khiển suy nghĩ, và bạn biết chuyện gì sắp xảy ra, bạn là người quyết định. Rồi sẽ có một lúc nào đó, bạn không nghe thấy suy nghĩ nữa, chỉ có tác ý và việc bạn sắp làm, và bạn có thể toàn tâm toàn ý cho việc đó.

    Buổi nói chuyện TED Talks này không hoàn toàn liên quan, nhưng rất gần với điều mình đang nói ở đây. Một cách có thể giúp người ta từ bỏ thói quen là đối mặt với nó, nhìn nó trực diện. Bình thường, khi ý nghĩ muốn hút thuốc nổi lên, người ta đơn giản là hút thuốc, đó là một hành động đã được tự động hóa, và người ta có thể chẳng cảm thấy gì cả. Chỉ ý nghĩ đó có thể đã sản sinh dopamine rồi. Nếu thay vào đó, người ta chú ý đến ý muốn đó (tác ý), chú tâm đến toàn bộ quá trình hút thuốc, người ta có thể thấy rõ từng giai đoạn, thấy rằng thuốc thực ra là một thứ rất ghê. Thay vì hút thuốc như một cái máy trong lúc nghĩ vẩn vơ những chuyện khác, nếu đọc tâm trí chính mình, phân biệt từng suy nghĩ và tác ý, người ta có một cái nhìn khác về hành động của mình. Nhiều người đã từ bỏ được thói quen xấu bằng cách đó.

    Tóm lại tác ý là thứ luôn xuất hiện trong tâm thức trước khi bạn làm bất cứ việc gì. Nếu bạn chú ý “đọc” tâm trí mình với một sự tập trung nhất định, bạn sẽ thấy suy nghĩ đến và đi, bạn sẽ thấy tác ý nổi lên, bạn sẽ hiểu hơn quá trình bạn làm những việc mà bạn luôn làm nhưng không để ý. Quá trình đó có thể khiến bạn sống sâu hơn ở hiện tại, và quyết định liệu có thực hiện một hành động nhất định hay không.

    Trên đây là một vài suy nghĩ nhỏ về tác ý. Nếu các bạn tìm kiếm trên mạng, các bạn có thể thấy những bài viết khác mà nhiều khả năng là khó hiểu hơn. Dưới đây mình trích hai ví dụ viết về tác ý để làm rõ hơn ý về ngôn ngữ ở trên. Ví dụ thứ nhất, “Như lý tác ý,” trích trong “Trái tim của Bụt,” tác giả là sư cụ chùa Từ Hiếu, một người mình ngưỡng mộ. Cách dùng từ của sư cụ đã dễ hiểu hơn những nguồn khác, nhưng mình nghĩ vẫn có phần khó khăn cho người mới bắt đầu. Ví dụ thứ hai là phần viết về tác ý trong “Ba mươi ngày thiền quán” của Joseph Goldstein, dịch giả Nguyễn Minh Tiến, Nguyễn Duy Nhiên. Mình mong muốn học hỏi được cách diễn đạt đơn giản mà mẫu mực như trong ví dụ này.

    浅草寺 東京、令和元年

    =============================

    Như lý tác ý

    Thích Nhất Hạnh

    (Trích: Trái tim của Bụt)

    Chữ niệm nghĩa là nhớ. Chữ Hán viết phần trên là chữ kim, nghĩa là nay, phần dưới chữ tâm, nghĩa là lòng mình. Niệm là điều ta đang nhớ tới, đang nghĩ tới. Mà điều ta nhớ và nghĩ có thể là tà, có thể là chính, vì vậy nên có tà niệm và chánh niệm. Chánh là thẳng, tà là nghiêng. Chánh niệm tức là đặt những điều ngay, thẳng và điều tốt đẹp vào trong tâm nhớ nghĩ của mình.

    Trong 51 tâm hành có một tâm hành tên là tác ý (manaskara, Pali là manasikara). Tác ý tức là khởi tâm để ý tới một đối tượng nào đó. Trước đó chưa chú ý tới, bây giờ ta chú ý tới, gọi là tác ý. Tác ý là một trong năm tâm sở biến hành. Và tác ý mở đầu cho một niệm. Như khi ta xem một truyện phim hay nghe một bài hát thì hình ảnh hay câu hát khiến cho ta tác ý. Nếu ta biết tu tập thì ta sẽ tác ý tới một điều chính, và ta duy trì điều chính đó lại. Khi nghe chuyện hay nhìn hình ảnh ta cũng có thể tác ý tới một điều bất chánh. Khi ta tác ý tới một điều chánh đáng, phù hợp với tinh thần bốn sự thật, với kiến thức về bốn loại thực phẩm, với giáo lý bát chánh đạo thì đó gọi là như lý tác ý hoặc là như pháp tác ý (yoniso manaskara).

    Ngược lại là bất như lý tác ý (ayoniso manaskara). Chữ như lý được dịch từ chữ yoniso. Yoni có nghĩa là tử cung, cái cung của đứa con, mọi người đều sinh ra từ đó. Và vì thế yoni ở đây có nghĩa là cội nguồn. Khi đưa về đúng cội nguồn, không lạc hướng, thì gọi là yoniso. Đưa đi lạc khỏi cội nguồn thì gọi là ayoniso, dịch là bất như lý hay là phi như lý tác ý.

    Thí dụ ở Làng Mai khi nghe tiếng chuông đồng hồ, mọi người trở về với chánh niệm, thở và mỉm cười. Ta lấy chánh niệm để soi sáng và như thế ta thực tập như lý tác ý. Khi nghe một tiếng hát đưa lòng ta tới những thương nhớ vẩn vơ, quên rằng ta đang ở đây để thực tập chánh niệm cùng với tăng thân, thì đó là phi như lý tác ý. Cho nên trong đời sống tu học, chúng ta phải tổ chức như thế nào để có thể thực tập được như lý tác ý trong mỗi giây phút. Khi bước vào nhà bếp, thấy một vị thiền sinh đang xắt cà rốt, tôi hay hỏi: ‘‘Anh đang làm gì đó?’’ Câu hỏi giống như một tiếng chuông để giúp người đó như lý tác ý. Trong một tăng thân tu tập với nhau chúng ta phải giúp nhau gióng tiếng chuông như lý tác ý cho nhau. Cách đi, cách đứng, cách ngồi, cách nhìn, cách làm việc của ta đều có thể có tác dụng giúp người khác thực tập như lý tác ý. Trong tăng thân chúng ta có những người làm được như vậy. Khi nhìn thấy họ ta tự nhiên trở về được với chánh niệm. Sự có mặt của họ có tác dụng như tiếng chuông tỉnh thức. Xây dựng tăng thân cũng là thực tập để cho mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cái động tác của ta là một tiếng chuông cho chính ta và cho người khác. Trong thiền viện, từ cách trình bày bàn thờ, cắm một bình hoa, một góc chùa cong, một tiếng chuông thỉnh đều chủ ý giúp chúng ta thực tập như lý tác ý. Cái gì trong thiền viện cũng phải được sắp đặt để nhắc nhở chúng ta phải trở về như lý tác ý. Như lý tác ý là giây phút khai sanh của chánh niệm. Ngược lại, nếu chúng ta sống trong một môi trường mà mọi thứ đều khiến chúng ta quên lãng, ta sẽ bị kéo theo bởi những phi như lý tác ý. Ngồi trong một quán rượu, tất cả những điều chúng ta nghe, thấy và cảm bằng sáu giác quan đều có tác dụng đưa chúng ta đi lạc vào phi như lý tác ý.

    Khi chúng ta nghĩ tới những danh, lợi, tài, sắc, nhớ tới thuốc hút ‘‘nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên’’, thì niệm đó là tà niệm. Nhớ một người nào đến nỗi không làm ăn gì được, không tu học gì nổi, đó là tà niệm. Có khi chúng ta quán tưởng một dòng nước trong hay là một bầu trời xanh để cho tâm hồn thư thái, để tự nuôi dưỡng trước khi trở về đối diện những khó khăn hiện tại, việc này có thể là như lý vì chúng ta biết mình đang làm gì. Nhưng thường thì chúng ta không biết là mình đang mơ mộng và đang trốn tránh. Mà người tu học không trốn tránh thực tại. Tu học tức là đem chánh niệm chiếu vào đối tượng khổ đau, để tìm ra những nguyên do đã đem tới đau khổ. Mà thấy được khổ đế và tập đế rồi, tự khắc ta thấy được đạo đế. Trốn tránh thì suốt đời ta không giải quyết vấn đề đau khổ của ta và của người.

    Chánh niệm là một loại năng lượng để thắp sáng tâm ý. Chúng ta biết trong chiều sâu tàng thức của chúng ta có hạt giống chánh niệm. Không tu tập thì hạt giống bị vùi lấp qua nhiều lớp thất niệm, khổ đau phiền não. Tu tập là chạm vào hạt giống chánh niệm để nó nở thành hoa. Ta hãy tìm cách giữ nó lại trong phòng khách của tâm hành, vì đó là một người khách quý. Người khách đó là Bụt, vì chánh niệm chính là Bụt tương lai. Nuôi dưỡng chánh niệm là làm cho Bụt ở trong ta càng ngày càng sáng tỏ. Người tu tập giỏi có thể nuôi dưỡng ngọn đèn chánh niệm thường xuyên. Ngọn đèn đó sẽ đem chiếu sáng bốn lãnh vực, đối tượng của thiền quán.

    Lãnh vực thứ nhất là thân. Thân, tức là uẩn đầu tiên trong ngũ uẩn, gọi là sắc uẩn. Có một kinh chuyên trình bày sự thực tập chánh niệm về thân, gọi là kinh Thân Hành Niệm. Kinh này có trong Trung Bộ (Majjima Nikaya), và cũng có trong bộ Trung A Hàm. Chánh niệm cũng soi sáng lãnh vực thứ hai gọi là lãnh vực cảm thọ. Thọ là những cảm giác của mình, những cảm giác vui, buồn. Những cảm thọ dễ chịu, khó chịu, hoặc không dễ chịu cũng không khó chịu, gọi là cảm thọ trung tính. Chánh niệm soi sáng lãnh vực thứ ba là tâm ý hay tâm hành. Bất cứ một tâm hành nào phát hiện là chánh niệm nhận diện được. Thấy tầm thì biết là tầm, thấy từ thì biết là từ, thấy tham thì biết là tham, thấy sân thì biết là sân, thấy mạn thì biết là mạn. Chánh niệm nhận diện tất cả 51 thứ tâm hành mỗi khi chúng phát hiện. Sau cùng chánh niệm soi sáng đối tượng của tâm hành, tức là các pháp. Pháp ở đây là tất cả mọi hiện tượng tâm lý cũng như vật lý, và sinh lý. Trước hết pháp là đối tượng của tưởng, tức là tri giác. Ở đây các pháp là đối tượng của tâm hành. Chúng ta soi sáng vừa chủ thể vừa đối tượng của tâm hành.

    Chúng ta thường nghĩ nhầm năm uẩn là của một người này hay người kia. Phải nhớ năm uẩn không phải là một cái gì biệt lập, năm uẩn gồm cả chủ thể lẫn đối tượng. Mà đối tượng của năm uẩn bao gồm cả vũ trụ.

    Người tu học dùng chánh niệm soi chiếu bốn lãnh vực thân, thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý. Sự soi chiếu này đưa tới tuệ giác, có công năng tháo gỡ và giải thoát cho bản thân người tu học.

    東大寺 奈良 平和30年

    ============================

    Bài thực tập: Tác ý

    Joseph Goldstein

    Dịch giả: Nguyễn Minh Tiến, Nguyễn Duy Nhiên

    (Trích: Ba mươi ngày thiền quán)

    Ý muốn là một yếu tố thông thường, lúc nào cũng có mặt trong tâm ta. Khi nào nó khởi lên, ta phải ghi nhận nó. Ý muốn, hay còn gọi là tác ý, là một sự thúc dục trong tâm, một dấu hiệu đi trước bất cứ một hành động nào. Khi mà ta có chánh niệm nhận diện được ý muốn hay tác ý của mình, ta sẽ có sự tự do lựa chọn: hành động hay không hành động theo chúng. Còn nếu ta sống trong quên lãng không biết đến sự có mặt của tác ý, ta sẽ bị chúng sai xử một cách máy móc.

    Thí dụ, khi bạn đang ngồi thiền, trước khi bạn đứng dậy, bao giờ cũng có một tác ý muốn đứng lên. Nếu bạn ghi nhận được tác ý này, nó sanh lên rồi diệt đi, có lẽ bạn vẫn còn tiếp tục ngồi thiền. Bởi vì bạn đã có chánh niệm, ý thức được nó, chứ không cho nó là mình. Còn nếu tác ý khởi lên, nhưng vì thiếu chánh niệm, bạn sẽ thấy mình đứng lên mà chẳng nhớ vì sao. Mọi hành động khác của ta cũng vậy. Thế cho nên mỗi khi có một một tác ý nào khởi lên, như khi đổi oai nghi của thân thể giữa đi, đứng, nằm, ngồi, ta phải nhớ có chánh niệm về chúng. Trong khi đi, bao giờ ta cũng có tác ý muốn dừng lại trước khi thật sự dừng. Ta có tác ý đổi hướng trước khi quay người lại.

    Chúng ta không cần phải niệm tác ý của từng bước chân một, nhưng mỗi khi đi kinh hành đến cuối đoạn đường, ta nên ghi nhận tác ý muốn đổi hướng, trước khi bắt đầu quay người lại. Bàn chân tự nó không thể cử động quay lại được. Nó quay lại bởi vì có một tác ý đi trước.

    Chúng ta có thể đạt được một sự hiểu biết về lý nhân quả, giữa sự liên hệ của thân và tâm, bằng những quan sát như thế này. Ðôi khi thân là nhân mà một trạng thái của tâm là quả. Và đôi khi tâm là nhân, một cử động của thân là quả.

    Một tác ý muốn quay người lại khởi lên, rồi bàn chân đưa qua. Không có một cá nhân nào ở đó hết, không có ai làm công việc quay người lại cả. Sự liên hệ giữa nhân và quả hoàn toàn có tính cách vô ngã. Nhưng bởi vì chúng ta thường không có chánh niệm về hành động của mình, không thấy rõ tiến trình của mỗi cử động, nên chúng ta sẽ dàng bị đồng hóa với nó, cho rằng có một cái “ta” làm chuyện đó.

    Giả sử như bạn cảm thấy lạnh, bạn đi khoác thêm một chiếc áo ấm. Cảm giác ở thân làm khởi lên một ý muốn làm cho thân được ấm. Ý muốn này làm khởi lên một tác ý đi lấy thêm chiếc áo. Tác ý đó làm cho thân cử động. Chánh niệm được những tác ý này, sẽ giúp cho ta phát triển thêm sự hiểu biết về những liên hệ giữa các tiến trình hoạt động của thân và tâm.

    Trong khi ngồi thiền bạn có thể ghi nhận được sự có mặt của tác ý trước mỗi hành động. Nếu bạn đổi thế ngồi, sẽ có một tác ý khởi lên để làm chuyện đó. Nếu bạn nuốt nước miếng, cũng sẽ có một tác ý đi trước. Nếu bạn mở mắt ra, thì cũng sẽ có tác ý muốn mở mắt xảy ra trước đó. Tất cả những tác ý này đều phải đưọc ghi nhận. Nhưng tác ý không phải bao giờ cũng là những ý nghĩ trong đầu, không phải luôn luôn là câu nói. Tác ý có nhiều khi là một sự thúc dục, một dấu hiệu báo cho ta biết có một chuyện gì sắp sửa xảy ra. Bạn không cần phải tìm kiếm tư tưởng, lời nói trong đầu. Hãy ý thức được những động lực thúc đẩy ta làm những chuyện ấy. Và một khi bạn bắt đầu ghi nhận được mối liên hệ giữa nhân và quả xảy ra trong thân và tâm, ý niệm về một cái tôi sẽ dần dà hòa tan vào dòng biến hóa giản dị và tự nhiên của các yếu tố.

    参考になれば嬉しいです。

    Schema

    Suddenly I find myself in the mood of talking about speed-reading.

    Speed-reading is really a nice skill to have. I think that in today’s world, any job involves reading. Just imagine how much time you could save if you read faster.

    One of the key concepts in speed reading is schema. I don’t know its formal definition. In my understanding, schema is the background knowledge in a field that would facilitate your understanding when you read a book in that field. For example, if you are reading a book on physical education, your knowledge on human body, sports, etc. is the schema.

    The more schema you have, the faster you can read. The more you read, the more schema you will accumulate.

    The reason why I could read a book on physics faster than a literature teacher is partly because I am more familiar with concepts in physics than she is. Reading a book is like navigating in a city. If you are familiar with the city (having more schema), it is easy for you to go anywhere. If you don’t have the necessary schema, every corner of the city is strange to you. You will need time to understand them or remember them. The city here is a field of knowledge. The more books you read and the more you study, the more you understand the city. When you read a new book, or when you have to move to a new location in a, city it would be easier if you understand the transportation system or know the landmarks in the city.

    So, the first thing to remember about speed reading is, the more knowledgeable reader is the faster reader. If you want to read faster, you should first broaden your knowledge.

    A PhD candidate preparing for his presentation in a conference in Kyoto, 2017

    My speed reading experience

    How fast do you read?

    Most people read at a speed somewhere between 200 and 250 words per minute (wpm). It is not because 250 is a limit, it is just because with no effort, anyone could read at that speed. And people prefer doing simple things.An industrious student may read faster than this. Master’s students read much faster than this, some of them read at 600 wpm and most can cross the 400 wpm line. 600 wpm is three time faster than the normal speed, but it is still nowhere near the so-called speed-reading speed. Anyone who needs to read a lot could force themselves to read at this range of speeds. It is not comfortable, but completely achievable. If you are not reading at this speed, it is because nothing bad may happen if you keep reading at your leisurely speed. 

    Speed reading, for me, is a speed higher than 900 wpm. 

    Why 900? Because it is the subvocalization barrier. Most people “speak in their head” when they read. For example, if you are not a trained speed reader, chances are you are reading out loud all the words in this writing, not with your voice, but with your thought. You are not only seeing this text. You are also hearing it.Let’s think about this. When you were small, probably your grade teacher told you to read out loud what you saw in your book. This action limits your reading speed to somewhere under your speaking speed. If you keep reading out loud, your reading speed could never exceed your speed of speaking.

    Then you knew how to read in your head. You didn’t need to use your vocal cords anymore. From then on you would just hear the sounds in your head. This is called subvocalization. Subvocalization is much faster than actually speaking, and it improves your reading speed significantly. But, now you face a new limit: your reading speed won’t exceed the speed at which you could distingush sounds. In other words, your reading speed is limited by your “listening speed.” An average reader could not understand something spoken at a speed higher than 900 wpm. Don’t believe me? Just increase your video speed to x5 and see what happens, the speed is not even close to 900 then. I call this limit, 900 wpm, the subvocalization barrier.

    Your reading speed should only be limited by your thinking speed, not listening or speaking speed. Subvocalization, as fast as it is, is actually restricting you. Let’s take a simple example:

    a << b

    I believe that you understand what the above line means in just several millionths of a second, simply by seeing it. But if you interpret it as “a is much smaller than b” or “Shift the bit representation of a to the left by b bits!” and let those sentences be subvocalized in your head, how long would it take? I don’t know, but probably thousand times slowlier than when you don’t say anything in your head. Similarly, when you look at a picture, e.g. Stary Night, you know what is depicted in it. You know the church is here, the stars are there, without saying to yourself: this is the church, those are the stars. It is all about communicating with the author, about getting information, not about saying or listening. So, you don’t need to hear something to understand it. Removing subvocalization is an important step toward speed reading.

    Several times, I have accidentally surpassed the barrier and had the speed reading experience.I remember those times, suddenly my eyes just went directly down the page. It seemed that I absorbed the text, without any sounds, i.e., no subvocalization. But very soon, I felt terrified. I did not understand what was happening. Because I didn’t hear the familiar voice in my head, I thought something was going wrong and forced my eyes to slow down, out of mere fear.

    I really regret that I did not let my eyes do what they wanted. I did not measure, but probably the speed then was several thousands wpm.

    Those were exceptional moments.

    How about my normal reading speed?

    My normal speed is between 300 and 900 wpm, depending on the materials. Note that, even at 800 – 900 wpm, not all the words is subvocalized. That speed range is the boundary of subvocalization. Speed of 300 wpm is when I read textbook. I was studying engineering.

    My record speed is about 1600 wpm, achieved when I read jokes or some kind of funny stories in Vietnamese. You heard it right, the speed is 1600 wpm. I could just open one page, immediately close it, and then tell the story on that page. Somehow I could only do that with jokes. For short stories, or any other genres that could be called literature, I couldn’t do that.

    Above are some of my experiences related to speed reading. I think it is a precious skill for anyone. What if you do a job which requires hours of reading every day, and some day you realize that you could double your speed, or even triple it? 

    If someone tells you that speeds over 900 wpm are absurd, or people who claim to read  at those speeds are liars, or you can read but then you would forget everything, or any other disparage  remarks, they are just so pitiable. Being able to speed-read is something that could make you feel that you are living another life.

    Nhắc đi và nhắc lại

    Bài viết của tác giả Trần Nhã, in trong cuốn Học tiếng Anh mà khoái, xuất bản từ những năm 60. Mặc dù đã được viết từ rất lâu, nhưng mình nghĩ bài viết này vẫn có nhiều giá trị. Nó một lần nữa khẳng định rằng nếu chúng ta kiên trì, bền bỉ, làm những việc đơn giản mà hiệu quả, không đứng núi này trông núi nọ, lúc nào cũng tìm những con đường tắt, thì hóa ra chúng ta lại tiến rất nhanh. Mong là bài viết này được các bạn tham khảo.

    _ _ _


    Phần đông người Việt Nam học Anh ngữ đều muốn học thế nào cho mau có kết quả, học thế nào để trong một thời gian ngắn, sáu bảy tháng hoặc một năm, đã có một vốn Anh ngữ kha khá.


    Chính vì vậy mà từ ngày có phong trào học Anh ngữ ở nước ta, phát sinh từ một hoàn cảnh lịch sử và xã hội đặc biệt, các trường, các lớp dạy Anh ngữ được mở ra rất nhiều và đều quảng cáo là dạy có kết quả mau chóng, thậm chí có trường không ngại “cam đoan” rằng chỉ học trong ba tháng, học viên đã có thể “nói và viết Anh ngữ thông thạo để đi làm”. Hầu hết các trường đều có một chương trình tương tự, được chia ra làm ba cấp: sơ cấp, trung cấp và cao cấp, với thời gian mỗi cấp là vài tháng. Và người ta gọi đó là học “cấp tốc”.


    Lối học cấp tốc này hay hay dở, kết quả có thực như lời quảng cáo hay không và học viên hết chương trình cấp tốc có thể sử dụng Anh ngữ của mình vào những việc gì?
    Điều đó chúng tôi xin nhường cho bạn đọc xét đoán. Chỉ xin nói ngay rằng chúng tôi không chủ trường ở đây một lối học “cấp tốc” nữa mà trái lại rất mong các bạn học Anh ngữ hãy có một tinh thần học hỏi “trường kỳ”, quyết tâm theo đuổi tới tận cùng mà không quan tâm đến thời gian dài hay ngắn, không làm như người leo núi bước được một bước đã ngoái cổ lại xem mình đã leo được mấy bước.


    Tôi thường nói với các bạn học sinh rằng phải quan niệm việc học một ngoại ngữ dù là Anh, Pháp hay bất cứ một thứ tiếng nào khác – như một cái “voyage hay sans retour”, một cuộc đi không hẹn ngày về, đã tiến tới là không bao giờ quay đầu trở lại. Chúng ta đừng nghĩ rằng Anh ngữ khó hay dễ, học mau biết hay chậm biết, mà chỉ nên quan niệm rằng đã học thì phải học đều và học mãi, lúc nào nó giỏi là giỏi, đừng bao giờ sốt ruột là mình đã giỏi hay chưa.


    Nhưng làm thế nào để học mà không sốt ruột, học đều và học mãi mà vẫn thấy khoái? Đặt câu hỏi này tức là nói đến vấn đề phương pháp. Căn cứ vào kinh nghiệm cá nhân, tôi xin đề nghị với các bạn một phương pháp mà tôi tin rằng nếu áp dụng đúng, sẽ đem lại những kết quả thật khả quan mà chính các bạn không ngờ trước được. Phương pháp này đòi hỏi nhiều kiên nhẫn và công phu, nhưng cái thích thú, cái “khoái” của nó chính là ở những kết quả mà nó đem lại, khiến người đọc thấy mình “giỏi lúc nào không biết”.


    Trước hết, như trong bài trước đã nói – và chắc các bạn cũng đồng ý – là đã học Anh ngữ thì phải nhắm cái mục tiêu vô hình là có thể “nghĩ bằng tiếng Anh” chứ không phải nghĩ bằng tiếng Việt rồi mới tìm chữ dịch ra. Muốn đạt tới mục đích này thường chỉ có 2 cách: một là học Anh ngữ từ nhỏ để trở thành một người English-educated, tức là một người được đào tạo trong nền văn hóa Anh; hai là phải sống chung đụng với người Anh – Mỹ thường ngày. Nhưng đó không phải là trường hợp của đa số chúng ta vì chúng ta không học tiếng Anh từ nhỏ và cũng không sống chung với người Anh-Mỹ thường ngày: thỉnh thoảng gặp một ông hay một bà hỏi “Good morning how are you” có ăn thua gì đâu! Các trường dạy Anh ngữ ở đây đều có mướn giáo sư Anh-Mỹ “luyện giọng” cho học viên nhưng luyện giọng hay luyện nghe cũng chỉ là phụ mà “luyện nói” mới là phần căn bản. Mà muốn luyện nói thì trước hết phải “luyện nghĩ” đã Để đạt tới trình độ “nghĩ” và “nói” Anh ngữ cho thạo và đúng, phương pháp học chắc chắn hơn cả là phương pháp “nhập tâm” đặt trên nguyên tắc “nhắc đi nhắc lại”.
    Phương pháp nhập tâm (assimilation) là phương pháp đã được hãng Assimil ở Pháp áp dụng trong các sách và đĩa dạy ngoại ngữ của họ (cái tên Assimil là do chữ assimilation mà ra). Nguyên tắc căn bản của phương pháp này là sự “nhắc đi nhắc lại” mà không hề cố ý học thuộc lòng. Tôi lấy thú dụ mỗi buổi sáng bạn đều vặn máy thu thanh và sáng nào chương trình cũng mở đầu bằng một bản nhạc. Bản nhạc ấy ngày nào cũng nhắc đi nhắc lại bên tai bạn tất nhiên một ngày kia bạn sẽ thuộc mà không hề cố ý học. Nay nếu bạn áp dụng nguyên tắc “nhắc đi nhắc lại” này vào việc học Anh ngữ, để nhắc đi nhắc lại mãi một câu mà bạn phải học, tất nhiên cái câu ấy phải “nhập” vào thâm tâm của bạn để đến khi nào bạn cần phải nói đến nó thì nó sẽ tự động từ trong thâm tâm bạn mà bật ra.


    Sự nhắc đi nhắc lại sẽ giúp chúng ta “Anh hóa” được cái phản ứng tự nhiên của mình để khi nói tiếng Anh mình có thể nói đúng tiếng Anh, chứ không phải là tiếng Việt dịch từng chữ ra Anh ngữ, cũng như bạn đã dịch câu “Ừ, cô ta không đẹp” ra “Yes, she is not beautiful” trong khi phải nói là “No, she isn’t” mới đúng. Phương pháp nhập tâm gồm có 2 phần: phần thứ nhất là Đọc, phần thứ nhì là Dịch. Phần Đọc chia làm hai giai đoạn: Đọc để hiểu và Đọc để nhập tâm. Phần Dịch chia làm bốn giai đoạn: Dịch viết, dịch đọc, dịch nhìn và dịch nghe. Về phần đọc, trước hết là đọc để hiểu tức là công việc ta vẫn phải làm khi học một bài Anh ngữ nào. Ta phải hiểu những tiếng mới trong bài, những thành ngữ lạ, cách dùng tiếng và đặt câu, chi tiết văn phạm, ý nghĩa từng câu và đại ý toàn bài. Nhưng đó chỉ là giai đoạn thứ nhất. Nhiều bạn khi đã hiểu xong bài rồi liền kể như mình đã “học xong” bài ấy, và lấy làm ngạc nhiên khi giáo sư hỏi đến lại không nhớ được những câu đã học và tự hỏi: “Quái cái đó mình có học rồi mà!”


    Để tránh tình trạng học rồi mà không nhớ, bạn hãy cố gắng thêm chút nữa: Đọc để nhập tâm. Khi đã hiểu một câu trong bài rồi, bạn hãy đọc câu đó lên thật lớn tiếng, rồi gấp sách lại và cứ câu đó mà nhắc đi nhắc lại mãi bốn năm lần là ít, chín mười lần càng tốt. Nhưng nhớ là phải đọc lớn tiếng và không nhìn vào sách. Đọc thật lớn tiếng và đọc đi đọc lại nhiều lần mỗi câu trong bài mà không nhìn vào sách, đó là cái bí quyết để luyện nghĩ bằng tiếng Anh. Đến khi có dịp cần phát biểu một ý kiến giống một câu nào đó đã học, chắc chắn bạn sẽ có thể nói được câu ấy ngay, nói một cách “ô tô ma tích” (Automatic) mà không cần phải nghĩ để tìm chữ. Nhưng có một điều là dù bận công việc thế nào đi nữa bạn cũng phải để ra mỗi ngày một ít thời giờ để học như vậy. Nhiều càng hay nhưng ít nhất cũng phải nửa giờ đồng hồ – chỉ để đọc như vậy thôi. Những bạn từ trước đến nay chưa bao giờ học theo lối này hãy thử áp dụng một phen xem sao. Tôi tin rằng trong vòng sáu tháng, bạn sẽ thấy cái “ăng lê” của bạn nó khác bây giờ nhiều lắm.


    Nay nói phần Dịch của phương pháp nhập tâm. Phầy này còn đòi hỏi nhiều kiên nhẫn hơn nữa, nhưng cũng đem lại những kết quả thích thú hơn. Phần Dịch chia làm bốn giai đoạn: dịch viết, dịch đọc, dịch nhìn, và dịch nghe.

    1) DỊCH VIẾT: Mỗi khi đọc xong một bài Anh ngữ theo cách đã trình bày ở trên, bạn hãy lấy một quyển vở riêng và chịu khó dịch bài ấy ra Việt ngữ. Khoảng một tuần sau bạn hãy lấy bản Việt đó dịch ra Anh ngữ. (Cố nhiên là trong khi dịch bạn không được nhìn vào bài tiếng Anh trong sách).
    Khi dịch xong bạn hãy mở sách ra đối chiếu bài dịch của mình với nguyên bản Anh ngữ trong sách xem mình dịch sai những chỗ nào. Chắc chắn là lần đầu tiên sẽ có nhiều lỗi. Nhưng bạn đừng vội nản chí. Để vài ngày sau bạn lại dịch bài tiếng Việt đó qua tiếng Anh một lần nữa và lại đối chiếu xem còn chỗ nào sai không. Nếu còn sai nhiều tức là bạn chưa đọc bài đó kỹ. Vậy bạn hãy đọc những câu mà bạn còn “vấp” lại năm bẩy lần nữa, rồi qua vài ngày sau lại dịch từ Việt sang Anh một lần thứ ba. Cứ như vậy cho tới khi nào bài dịch của bạn đúng hẳn với bài Anh ngữ trong sách khi ấy mới là
    xong giai đoạn dịch viết.


    2) DỊCH ĐỌC: Một tuần sau bạn lại lấy bản dịch Việt ngữ ra để dịch qua Anh ngữ, nhưng lần này bạn không phải viết ra nữa mà chỉ đọc thôi. Nghĩa là bạn đọc một câu tiếng Việt rồi dịch miệng ngay sang tiếng Anh, câu nào không trôi bạn mở sách ra xem lại. Và cứ như vậy mà dịch cho hết bài.
    Nên nhớ trong khi dịch viết, gặp câu nào bí, bạn hãy đánh dấu để khi dịch đọc bạn sẽ chú trọng đến những câu ấy hơn. Trong khi dịch đọc, bạn cũng nên luôn luôn đọc thật lớn tiếng vì chỉ đọc lớn tiếng mà giúp bạn phát âm cho quen để khi nói không ngượng.


    3) DỊCH NHÌN: Một tuần hoặc mười ngày sau khi dịch đọc bạn sẽ qua giai đoạn dịch nhìn. Nghĩa là cũng bản dịch Việt ngữ đó, bạn chỉ nhìn từng câu rồi dịch lớn tiếng ra Anh ngữ. Nói một cách khác là trong giai đoạn này mắt bạn nhìn câu tiếng Việt nhưng miệng bạn sẽ nói câu tiếng Anh vậy.
    Những câu nào dịch còn ngập ngừng chưa được trôi chảy bạn sẽ mở sách ra coi lại sau khi đã cố nhớ mà không nhớ ra. Nhưng tôi tin rằng nếu bạn đã học mấy giaiđoạn trên thật kỹ càng, thì nhất định tới giai đoạn này bạn sẽ không thấy khó khăn nữa.
    Hơn thế chính bạn sẽ lấy làm lạ tại sao mình lại dịch được một cách dễ dàng như vậy. Đó là cái kết quả đương nhiên của tất cả những cố gáng trước, một kết quả “không chạy đi đằng nào được”. Và khi đạt được mức dịch nhìn rồi thì qua giai đoạn chót bạn nhất định phải thành công.


    4) DỊCH NGHE: Đây là giai đoạn chót của phương pháp nhập tâm. Tới giai đoạn này bạn cũng lấy bản Việt ngữ nói trên, nhờ một người khác đọc từng câu để bạn “thông dịch” Anh ngữ. Khi người đó đọc vừa dứt một câu tiếng Việt khi bạn nói ngay câu tiếng Anh đó. Bạn sẽ lấy làm kinh ngạc khi thấy mình đạt được một kết quả “phi thường”. Và cái người đọc tiếng Việt giùm bạn còn kinh ngạc hơn khi thấy trước mặt mình một cây “Ăng lê” xanh rờn! Nhưng thật ra thì không có cái gì là phi thường cả.
    Đó chỉ là một kết quả hợp lý của một phương pháp hợp lý mà thôi. Bạn để ý thấy ở trên tôi vừa viết là khi nghe đọc câu tiếng Việt, bạn sẽ nói được câu tiếng Anh ngay. Tôi dùng chữ nói mà không dùng chữ dịch nữa, vì tới giai đoạn này, thật sự bạn không còn dịch nữa. Bạn nghe câu tiếng Việt và nói câu tiếng Anh như cái máy, vì bạn đã “nghĩ được bằng tiếng Anh” và đó là cái mục tiêu mà chúng ta đã nhắm từ lúc đầu vậy.


    Cái “khoái” của phương pháp nhập tâm là đã học thì nhất định phải có kết quả mà là một kết chắc chắn chứ không phải cái kết quả lơ mơ của những lớp học “cấp tốc”.
    Còn gì thú bằng khi nghe một câu tiếng Việt mình có thể nói ngay câu ấy bằng tiếng Anh, không phải ngập ngừng suy nghĩ, vì Ăng lê ở trong bụng khi đó nó tuôn ra như gió.


    Nhiều bạn học sinh, khi nghe tôi đề nghị nên học Anh ngữ theo phương pháp này, đã tỏ ý ngại ngùng vì nó đòi hỏi nhiều công phu và thời giờ quá, nhất là mỗi câu học cứ phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần, sợ rằng hàng xóm nghe thấy họ sẽ cười mình là lớn đầu rồi mà có một câu, cứ lải nhải học đi học lại hoài.
    Thú thật là ngày xưa khi mới bắt đầu học Anh ngữ và áp dụng phương pháp này, tôi cũng gặp một tình trạng như thế. Bên cạnh nhà tôi có một cô gái, và đêm đêm nghe thấy tôi lên giọng đọc đi đọc lại mãi những câu như “My tailor is rich” hay “Our doctor is not good” thì cô ta bảo với lũ em tôi rằng: “ông anh chúng mày học có dăm ba chữ Ăng lê mà tối nào cũng gào lên cho hàng xóm biết làm như ta đây le lắm.”
    Những lời bình phẩm đó, dù là của một người đẹp, đã không làm cho tôi nản chí. Tôi cứ tiếp tục học như thế hết bài này qua bài khác, hết cuốn sách này qua cuốn sách khác, hết năm này qua năm khác. Và cái kết quả mà tôi gặt hái được đã làm cho tôi gần như sống thêm một cuộc đời nữa vậy.
    Các bạn trẻ đang học Anh ngữ, nếu đã định học cho đến nơi đến chốn, cũng nên có một tinh thần lì lợm như vậy thì mới có thể vượt qua những trở ngại lúc đầu. Nói tóm lại là đã học Ăng lê thì cũng phải “phớt tỉnh như Ăng lê”, dù bên hàng xóm có người đẹp đang cười thầm.


    Ở các hội nghị quốc tế, có những thông dịch viên vừa nghe dịch như cái máy. Họ có hai ống nghe mắc vào hai tai để nghe một đại biểu hò hét trên diễn đàn bằng tiếng Pháp chẳng hạn và tai vừa nghe miệng vừa dịch luôn ra tiếng Anh cho các đại biểu không biết tiếng Pháp nghe. Những đại biểu này cũng có hai cái ống mắc vào tai để nghe dịch ra Anh ngữ những lời hùng biện bằng Pháp ngữ của diễn giả. Những thông dịch viên chuyên môn của Đại Hội Liên Hiệp Quốc chẳng hạn là những nhân tài ăn lương không kém một bộ trưởng. Nhưng cái tài của họ cũng chỉ là kết quả của công phu luyện tập lâu dài, sự thiên bẩm chỉ có phần nào thôi.


    Chúng ta học Anh ngữ, tuy không phải ai cũng nhắm mục đích trở thành những cái máy dịch ở Liên Hiệp Quốc, nhưng ít nhất cũng phải làm thế nào để nói được những điều mình muốn nói một cách trôi chảy và đúng đắn. Để đạt tới mục đích này, phương pháp “nhắc đi nhắc lại” chính là đường lối duy nhất cho chúng ta.
    Các bạn cứ thử tưởng tượng từ lúc đầu học với những câu rất ngắn và dễ như “This is a chair” hay “The book is on the table” qua giai đoạn học những bài trình độ trung bình tương tự như những bài học Anh ngữ của đài phát thanh cho đến lúc bạn đọc những tác phẩm lớn của nền văn học Anh-Mỹ mà lúc nào bạn cũng áp dụng lối học nhắc đi nhắc lại như tôi đã trình bày thì nhất định phải có một ngày nào đó bạn sẽ cảm thấy mình sống thêm một cuộc đời nữa.


    Vậy ngay từ hôm nay, bạn hãy áp dụng phương pháp nhập tâm với bất cứ một học liệu nào mà bạn đang học trong chương trình của bạn dù là Direct Method, English For Today, English by Radio hay một cuốn sách nào mà bạn đang đọc. Phương pháp nhập tâm có thể áp dụng cho mọi trình độ, người mới học nên áp dụng ngay từ đầu, người đang học áp dụng cũng không muộn, và người học đã lâu rồi cũng nên áp dụng để tiến bộ hơn nữa.

    Người Nhật và chuyện kết hôn

    Tỷ lệ kết hôn của người Nhật có vẻ thấp hơn nhiều nước khác. Rất nhiều người mình quen là độc thân, họ không có ý định kết hôn và xem điều đó là bình thường. Nguyên nhân của chuyện sống độc thân thì có nhiều, có những nguyên nhân có tính phổ quát, nghĩa là ở đất nước nào cũng vậy, cũng có những nguyên nhân mà người Việt thậm chí không bao giờ nghĩ tới, chẳng hạn một sensei của mình nói không thích có những đứa trẻ giống sensei, vậy là không kết hôn.

    Nhiều chàng trai từng bị phụ nữ làm tổn thương đến mức trở nên sợ hoặc ghét phụ nữ, và nếu không có hứng thú với một cô ca sỹ hologram hay cô búp bê nào đó thì họ quyết định sống độc thân suốt đời. Các cô gái cũng như vậy. Người Việt có câu chim sợ cành cong, nhưng mình thấy nó đúng với người Nhật hơn là người Việt.

    バスを待っている女の子。僕の家の近くです。

    Có những phụ nữ thì đơn giản là họ có thể sống độc lập mà không cần đàn ông. Cũng có những phụ nữ vì quá ưu tú mà không thể tìm được người phù hợp. Đàn ông Nhật có nhiều người muốn một người phụ nữ ngoan ngoãn, biết chăm lo chuyện gia đình, vậy là đủ. Những người phụ nữ Nhật xinh đẹp, học vấn cao, biết hai ba ngoại ngữ thì không thích lối sống đó, hoặc không chịu được những người đàn ông có tư duy đó, và có nhiều người như họ. 

    梅田スカイビル空中庭園展望台で撮った写真。日本人の若い者は誰もこのように幸せではありません。

    Ở một khía cạnh khác, có những cô gái Nhật nghĩ rằng cuộc đời sẽ dành cho gia đình, tức là họ sẽ không đi làm và ở nhà nội trợ. Học ở trường tốt, thậm chí tìm được công việc tốt, chỉ để có nhiều cơ hội tìm được người chồng tốt hơn. Nhiều nơi ở Nhật khá đắt đỏ, và không phải chàng trai nào cũng có thể một mình nuôi gia đình. Đó lại là một nguyên nhân khác khiến họ không kết hôn.

    家の近く。やっぱり、結婚すると。。。

    Luật hấp dẫn

    Ngày còn nhỏ, chắc hơn chục năm trước, đã nghe về luật hấp dẫn. Luôn tin vào những điều kì diệu, và kỳ lạ, thấy rất thú vị, tin tưởng nhưng không thật sự thực hành. Ví như, trong Kinh có nói nếu ta tin ta có thể dời cả quả núi, ta có thể dời nó đi chỉ bằng ý nghĩ của mình. Nhưng cái khó nhất là hoàn toàn tin vào một điều mà từ khi sinh ra bạn đã được dạy rằng, và tự cảm thấy rằng không thể. Khi bạn đã tin rồi thì nó hoàn toàn có thể, mình tin thế. Nếu bạn tin bạn biết bay, biết đâu ngay khoảnh khắc ấy bạn sẽ thấy mình nổi lềnh bềnh :), có điều, chắc bạn không thể thật sự tin vào điều đó đâu.

    Hôm nay đọc một bài trên Spiderum. Người bạn của tác giả đã có mọi thứ mà cô ấy muốn, thậm chí tình hình sức khỏe của người mẹ mắc bệnh ung thư của cô cũng tiến triển rất tốt, vì cả gia đình luôn giữ niềm tin. Tác giả nói đó là luật hấp dẫn.

    Bạn có tin vào khoa học không? Mình cũng tin, và chưa có thứ khoa học nào giải thích, hay ủng hộ luật hấp dẫn cả. Là môt người không quan tâm lắm đến lý lẽ, mình vẫn tin vào luật hấp dẫn.

    Ở đây chắc người không biết về luật hấp dẫn ít hơn người biết, nhưng số đã thấy nó nghiệm đúng trong cuộc đời  mình có nhiều không thì không chắc được. Nhiều người mơ ước hạnh phúc. Nhiều người nghĩ về hạnh phúc. Nhưng tình trạng hiện tại của thế giới thì vẫn không khác gì cái ngày mà một bác nhiều râu phán rằng nếu bạn thấy mình hoàn toàn hạnh phúc thì rất có thể là bạn có vấn đề về thần kinh. Nếu thế thì hoặc là luật hấp dẫn sai, bời vì nếu nó đúng thì hình như rất ít người tin rằng họ sẽ hạnh phúc. Dù tin tưởng là một việc khó khăn, như đã nói ở trên, nhưng không khó đến mức ấy.

    Daruma ở Katsuoji, Osaka. Theo truyền thống, khi có điều gì muốn thực hiện, người Nhật sẽ tô một mắt của Daruma và cầu xin may mắn. Họ sẽ nỗ lực cho đến khi thành công và khi đó tô mắt còn lại của Daruma.

    Thế làm thế nào mà chúng ta vẫn còn có thể tin được vào luật hấp dẫn? Vô tình nghe được điều này và thấy nó đúng làm sao: bộ não, và tiềm thức của chúng ta là một cỗ máy siêu việt trong việc giải quyết vấn đề. Đưa cho nó vấn đề, và nó sẽ giải quyết. Bạn càng nghĩ nhiều về thứ gì, tiềm thức càng hiểu phải ưu tiên giải quyết vấn đề đó. Bạn muốn lập công ty để thực hiện ý tưởng của mình? Tự nhiên một ngày bạn nảy ra cái ý muốn gặp ai đó, rồi bạn được giới thiệu với những người liên quan, rồi bạn biết gọi vốn, lập nhóm. Bạn muốn giảm cân? Không hiểu sao nhưng rồi cuối cùng bạn sẽ đi đến ý tưởng tập luyện cái gì đó, tìm cái gì đó ăn vừa đảm bảo sức khỏe vừa không tăng cân, một cách kỳ diệu.

    Hồi còn nhỏ, mình đã được chơi cờ với Thanh Trang, trao đổi tin nhắn với Trường Sơn (tất nhiên là với tư cách người hâm mộ thôi), vì ngày đó mình nghĩ đến cờ rất nhiều. Rất có thể, tất cả xảy ra không phải là vì mình đã nghĩ đến cờ, đã mong gặp những người đó, mà là mình đã làm một số thứ. Chỉ nghĩ không thì mọi thứ không bay tới với mình, nhưng những suy nghĩ đó khiến mình hành động.

    Những nền văn minh xa xưa

    Sau khi đọc về triết học khắc kỷ thì mình có tìm hiểu thêm về văn minh La Mã. So sánh họ với nền văn minh của chúng ta hiện tại thì khập khiễng, nhưng có những điểm tương đồng đến kỳ lạ về tổ chức xã hội, những thay đổi của đời sống, các ngành nghề, tuổi thọ trung bình, kỹ thuật. Có cảm giác sau thời kỳ La Mã cuộc sống của con người đi xuống, xã hội mông muội hơn, tuổi thọ giảm, đêm trường đúng là đêm trường thật, và ngày nay thì mọi chuyện đang quay trở lại, đúng kiểu vòng xoáy trôn ốc.

    Có điều, đây là bước xoáy nhỏ. Có khả năng cao là có những bước xoáy lớn hơn.

    Có một giả thuyết rằng mỗi khi nền văn minh của con người đạt đến đỉnh cao lại có một đại thảm họa hủy hoại toàn bộ thành tựu của họ. Một bác đẹp lão xuất bản nhiều đã thống kê rằng cứ khoảng 60,000 năm lại có một sự kiện như vậy. Có nghĩa là, khi con người đạt đến một đỉnh cao của văn minh, họ nhận ra họ sắp bị tiêu diệt và không thể ngăn nổi chuyện đó xảy ra, cái vòng xoáy đó cứ lặp đi lặp lại. Văn minh Atlantis rất có thể là từng tồn tại. Rất có thể có những nền văn minh từng tồn tại trên Trái Đất đã vượt rất xa trình độ mà chúng ta đang có trong các ngành kỹ thuật, nhưng khi thảm họa xảy ra, tất cả những gì lưu trữ trong chất bán dẫn sẽ biến mất, chỉ có những thứ khắc lên đá là còn tồn tại. Vậy là những thông tin mà chúng ta có được về những nền văn minh có thể đã từng tồn tại trong lịch sử chỉ là một mớ hoài nghi, những dữ liệu không nhất quán và những giả thuyết nghe hoang đường kiểu như người ngoài hành tinh đã từng đáp phi thuyền xuống Trái Đất.

    Sẽ ra sao nếu sự thực là trong mỗi chu kì 60 ngàn năm, loài người đều đã tiến xa hơn những gì ngày nay ta có thể tưởng tượng? Nói về trí tưởng tượng thì với con người trước hai cuộc thế chiến, thế giới hiện tại đã rất giống với thế giới viễn tưởng của họ. Đó là với khoảng cách một trăm năm, và ta vừa nói về khoảng cách hàng chục ngàn năm. 

    Chúng ta cần mắc lỗi để học hỏi

    Một nghiên cứu sử dụng machine learning chỉ ra rằng máy học tốt nhất khi chúng mắc lỗi 15%. Mình không còn nhớ thiết kế của nghiên cứu đó, nhưng ý nghĩa của nó là nó giúp tìm ra tỷ lệ lỗi tối ưu để tiến bộ. Nếu bạn trả lời được mọi câu hỏi trong bài kiểm tra, chương trình quá dễ và bạn không tiến bộ nhiều, cũng như nếu không ra khỏi vùng an toàn thì bạn không trưởng thành được. Nếu bạn trả lời được quá ít, chương trình quá khó và bạn cũng không tiến bộ nhiều, cũng như nếu nhảy hẳn ra khỏi vùng an toàn và dành 100% thời gian ở đó thì có khả năng bạn sẽ chết đuối. Có một tỷ lệ tối ưu cho thời gian ở vùng không an toàn, hay là tỷ lệ lỗi tối ưu. 15% là tỷ lệ của máy, người ta muốn từ đó tìm ra kết quả cho người.

    Video mới đây của Veritasium (15-2) cũng trích nội dung nghiên cứu PhD của anh, rằng những video đưa ra quan niệm sai lầm trước và làm người xem suy nghĩ thì làm tăng tỷ lệ trả lời đúng sau khi xem video lên gấp đôi, so với những video chỉ trình bày nội dung khiến người xem cảm thấy mọi thứ rất mạch lạc, dễ hiểu. Điều đó đi ngược lại với cảm tính của chúng ta, nhưng đúng. Người xem loại video thứ hai đã chỉ tưởng rằng họ hiểu, thực ra họ không hiểu và chỉ thấy video mạch lạc mà thôi. Đưa ra quan điểm sai làm cho họ suy nghĩ về nó. Nếu bạn chỉ biết một con đường, mà chưa từng đi, thì khả năng đi lạc cao hơn so với những người biết nhiều con đường và biết có những con đường sẽ làm họ bị lạc. Điều này cũng liên quan đến chuyện bạn càng dành nhiều công sức vào thứ gì đó bạn càng hiểu rõ về nó.

    Tóm lại, nếu bạn không mắc lỗi, môi trường hoặc cách học của bạn rất có thể không phải là tốt nhất. Nếu bạn thấy mình quá ưu tú, đó là vấn đề chứ không phải là điều đáng tự hào, bởi vì lúc nào chúng ta cũng có thể làm cho bản thân mình tốt lên. Khi bạn thấy thỏa mãn, đó là khi bạn tước đi cơ hội tiến bộ của chính mình.

    Postscript: Một câu chuyện chỉ hơi liên quan một chút đến những gì mình vừa nói. Khoảng hơn 10 năm trước, mình có nghe chuyện về bác Phạm Ngọc Toàn. Gia đình bác này là người Việt, nhưng sống ở Lào hay Campuchia gì đó, khi ấy Đông Dương còn dưới quyền Pháp. Ở Lào thì lúc nào bác cũng đứng đầu lớp, cha mẹ mới chuyển sang Việt Nam sống. Bác vẫn đứng đầu, và vượt người thứ hai một cách tinh tế (nếu có dịp khác mình sẽ nói về cái sự tinh tế này), là anh của thầy mình ở trường Tổng hợp Hà Nội. Khi kể chuyện này thầy khoảng 80 tuổi. Sau đó bác ấy sang Pháp và trở thành tổng công trình sư Airbus. Tất nhiên nghe vậy thì mình google về Airbus ngay, nhưng có lẽ bác ấy đã lấy tên Pháp. Mình không thể tìm được thông tin gì về Phạm Ngọc Toàn. Câu mà mình nhớ mãi trong chuyện thầy kể là lúc bố mẹ bác quyết đình về Việt Nam: Học mà cứ đứng đầu mãi thì học làm gì, phải tìm chỗ khác.

    Nếu bạn muốn ai đó làm việc gì, hãy khiến việc ấy dễ dàng với họ

    Khi bạn muốn người khác làm việc gì đó, bạn có thể nói với họ: Tôi muốn bạn làm việc này. Dù bạn có diễn đạt ý trên như thế nào, thì đó vẫn là một yêu cầu tương đối thô thiển và mức độ hiệu quả ra sao thì kinh nghiệm cá nhân của bạn có thể trả lời.

    Người ta không làm một việc gì đó, nhiều khi không phải vì họ không thích nó, mà vì họ ngại. Có nhiều lúc người ta làm việc vì thói quen, hoặc vì đó là lựa chọn dễ dàng nhất. Không phải tia sét thích đi đường loằng ngoằng hình cành cây từ trên mây xuống đất, mà vì đó là con đường có điện trở nhỏ nhất. Nếu bạn muốn nó tránh nhà bạn ra, chỉ cần dựng một cái cột chống sét gần đó. Cột chống sét thì có điện trở nhỏ hơn nhà bạn. Dựng cái cột chống sét thì có hiệu quả hơn là nói với tia sét hãy tránh bạn ra. Tương tự, nếu bạn muốn con mình uống nhiều nước, hãy đơn giản là đặt chai nước lên bàn học hay bỏ vào cặp của thằng bé. Khi ấy sẽ dễ dàng hơn cho nó  rất nhiều để nghe lời bạn.

    Một năm trước, mình có gặp các cựu sinh viên Kyodai trong một sự kiện. Có một bác làm director ở Goldratt đưa danh thiếp cho mình. Khi ấy mình chưa biết Goldratt là gì, lúc tra Google thì mới biết. Ấn tượng đầu tiên là lương khởi điểm ở đấy hơi cao :), ngoài ra thì công việc của Goldratt là làm cho công việc của các công ty mà họ tư vấn thuận lợi hơn. Đấy là một điều thú vị. Và kim chỉ nam cho tư vấn của Goldratt là loại bỏ các trở ngại trong kinh doanh. Trở ngại ở đây là mình dịch từ chữ “friction,” có thể là không sát nghĩa lắm, nhưng có thể hiểu là bất cứ thứ gì ngăn bộ máy của một công ty hoạt động mượt mà. Bạn có từng nghe về flow chưa? Trong nguyên tác thì bạn đi vào flow khi mà năng lực phù hợp mới mức độ thách thức của công việc, nhưng loại bỏ friction cũng là một yếu tố quan trọng để đi vào flow.

    Thường những thứ đúng thì bạn sẽ nghe đi nghe lại, và thấy nó ở rất nhiều nơi. Cái nguyên tắc loại bỏ trở ngại này cũng vậy. Chúng ta biết rằng lực cản trở chuyển động là ma sát, và có những loại lực ma sát cơ bản là ma sát nghỉ, ma sát lăn, và ma sát trượt. Ma sát nghỉ là khi bạn cố làm một thứ đang đứng yên chuyển động, nếu nó vẫn đứng yên thì đó là do ma sát nghỉ cân bằng với lực tác động của bạn. Ma sát lăn là lực ma sát tác động lên các vật lăn, giống như bánh xe đang chuyển động. Ma sát trượt là lực ma sát giữa hai bề mặt trượt lên nhau, chẳng hạn khi bạn kéo lê thứ gì đó. Ma sát lăn là loại lực ma sát nhỏ nhất. Bạn nghĩ ma sát trượt với ma sát nghỉ cái nào lớn hơn? Câu trả lời là ma sát nghỉ, lực ma sát nghỉ cực đại có khi lớn gấp đôi ma sát trượt. Người ta hay nói “Keep the ball rolling,” vì khi quả bóng nó đã lăn rồi thì chỉ cần tác động một lực rất nhỏ cân bằng với ma sát lăn là nó lăn tiếp, còn khi nó đã dừng rồi mà bạn lại muốn nó lăn thì bạn phải tác dụng một lực lớn hơn ma sát nghỉ cực đại, tức là rất lớn, cũng tức là bạn sẽ ngại làm nó lăn tiếp hơn là làm nó bắt đầu lăn.

    Sự vật thì có quán tính vật lý, còn cuộc sống của chúng ta thì có quán tính tâm lý. Chúng ta ngại bắt đầu một việc hơn là tiếp tục một việc. Có kết quả khảo sát ở đâu đó rằng (sorry for not citing an official source, actually I don’t remember and I am too lazy to search for it, well, an unexpected but vivid example of psychological inertia) hầu hết mọi người có xu hướng kết thúc việc mà họ đã bắt đầu. Nói cách khác, bí quyết để hoàn thành công việc là bắt đầu nó, tức là thắng cái ma sát nghỉ cực đại, chuyện tiếp theo sẽ trở nên dễ dàng. Người ta nói, bắt đầu có nghĩa là thành công một nửa. Không có nghi ngờ gì, đó là cường điệu nhưng là một sự cường điệu rất có ý nghĩa. Và mấu chốt ở đây là gì? Nếu bạn muốn làm gì đó, hãy làm cho việc thực hiện việc ấy trở nên đơn giản. Để cho việc ấy trở nên đơn giản, hãy loại bỏ trở ngại. Bắt đầu công việc, bản thân nó là trở ngại đối với công việc đấy.

    Mình muốn kể cho bạn nghe một câu chuyện nữa, một câu chuyện mà khoảng mười lăm năm trước mình hay kể: Con chó sói và bụi gai. Có một con sói ngã vào bụi gai, nó rất đau nhưng không nhảy ra, vì nó biết nhảy ra thì sẽ rất đau. Nhưng càng nằm trong bụi gai thì cơn đau càng trở nên ghê gớm. Một ngày, hai ngày, cho đến khi con sói chắc chắn rằng nhảy ra không đau bằng cứ nằm tiếp, nó mới chịu nhảy ra. Bạn có thể sẽ thấy khâm phục trí tuệ của con sói, ai cũng nhìn thấy chuyện gì đã xảy ra, nhưng hình như con sói nó cũng biết như thế. Chúng ta, giống như nó, thường không chịu thay đổi trước khi nỗi đau do thay đổi trở nên nhỏ hơn nỗi đau chịu đựng. Con giun xéo lắm cũng quằn? Nếu biết sẽ bị xéo nữa thì có nên chờ đến lúc phải trích dẫn thành ngữ ra không? Cuối cùng thì chúng ta có xu hướng làm việc dễ hơn tại thời điểm chúng ta làm việc đó, lúc nào cũng vậy, nhưng không phải lúc nào như thế cũng đúng.

    Nếu bạn muốn ai đó làm việc gì đó, hãy khiến việc đó trở nên dễ dàng với họ. Tiêu đề này chỉ đặt cho vui thôi, “ai đó” mà mình muốn nói tới ở đây là chính chúng ta. Nếu bạn muốn làm việc gì, hãy khiến việc đó trở nên dễ dàng. Khi bạn đã bắt tay vào việc, có khi tiếp tục còn dễ dàng hơn dừng lại. Khi bạn muốn luyện một thói quen, hãy làm cho nó dễ dàng. Chẳng hạn, nếu muốn viết mỗi ngày, hãy cài đặt máy tính của bạn để trình soạn văn bản mở ra mỗi khi bạn khởi động máy tính. Nhiều người tự trách mình không đủ kiên trì theo đuổi thứ gì đó, có khi đơn giản chỉ là vì họ đã làm cho nó quá khó đối với họ thôi. Vấn đề không phải là con người, vấn đề là cách làm.

    Trước đây, mình tương đối khắc nghiệt với bản thân, mình đặt ra những mục tiêu rất cao. Mình biết chúng rất khó, nhưng nghĩ đó là cơ hội để rèn luyện. Kết quả là chẳng đi tới đâu cả. Sức mạnh ý chí là một thứ hữu hạn, giống như pin vậy, có thể sạc lại mỗi ngày nhưng chắc chắn sẽ cạn. Nghĩ lại mình thấy mình thật ngốc. Lẽ ra mình đã có thể làm mọi thứ đơn giản hơn từ đầu.

    Những người lạ tốt bụng

    Khi còn ở nhà có nghe rằng rằng người Nhật tốt bụng, nhưng lạnh lùng. Ở đâu cũng có người này người kia, nhưng sống ở Kyoto rồi thì sẽ thấy người Nhật ở đây tốt bụng và rất ấm áp. (Người Tokyo thì có vẻ lạnh lùng thật, có khi bạn hỏi đường có người sẽ đi như thể bạn vô hình.) Không kể những người thân quen vô cùng tốt, có vài lần gặp người lạ và cảm thấy họ tốt với mình hơn mong đợi.

    Khi mình mới chân ướt chân ráo sang đây, không có internet, tiếng thì chỉ nói được câu hỏi đường, đã phải tự lên quận làm thủ tục. Đi mãi không tới phải hỏi một bác trên đường. Không gọi là bà cụ vì bác còn rất khỏe, nhưng chắc bác đã ngoài 70, cũng có thể là 80. Bác rất nhiệt tình giải thích, bằng tiếng Nhật. Một hồi lâu có vẻ nhận ra trình độ tiếng Nhật của mình, bác dẫn thẳng đến quận luôn. Sau này một vài lần cũng hỏi người lạ nữa, ở Kyoto lần nào họ cũng tìm mọi cách trả lời, mà nếu không biết thì họ tỏ ra như có lỗi.

    来日した後、ここの近くに住んでいました。鴨川です。

    Khi còn đi học có lần từ trường về nhà nói chuyện với một bác lớn tuổi trên xe bus.  Ngày đó thường ăn tối ở Yoshinoya, nhưng hôm ấy quán đóng cửa. Bác kia xuống cùng bến, hỏi đi ăn ở đâu và khi thấy cái quán đóng cửa thì dẫn đến một quán khác gần đó và nhất định đưa mình một ngàn yên để ăn ở quán đó. Mình không nhận cứ đẩy qua đẩy lại đến mức có một chị từ bãi đậu xe đi lại xem có chuyện gì. Hiểu rồi thì chị ấy bảo cứ nhận đi. Hôm ấy rõ là đại gia mà không nhận không được.

    バスを降りたのは、ここです。バス手が見えますか。

    水をください

    Khi bạn muốn gọi nước, bạn có thể nói:
    みずをください。

    Khi bạn muốn gọi nước lạnh, bạn dùng 冷たい水 hoặc お冷.

    Nước đá là 氷水, nó giống với 凍った水。Không dùng さむい水 vì さむい dùng cho thời tiết, không khí, v.v. Những thứ cảm nhận được bằng xúc giác (chạm vào thấy lạnh) thì dùng 冷たい.

    Nước nóng là お湯 (theo mình hiểu thì là rất nóng, khác với ấm). Nước nóng đã bị nguội đi (ví dụ nước trong bồn tắm để lâu) là ぬるま湯. Nước sôi là 熱湯. Nước ấm có thể nói 暖かい水。Không có cách nói あつい水 vì 水 đối với người Nhật là một thứ không nóng.

    この と その

    Kono được dùng khi nói về thứ ở gần mình, sono được dùng khi nói về thứ ở xa mình. Chúng ta có thể biết thế nhưng chưa chắc đã dùng đúng hai từ này.

    Ví dụ, trong tiệm cắt tóc, khách hàng có thể nhìn vào gương và nói:
    そこはもう少し短く。
    Thợ cắt tóc sẽ nói:
    あ、ここですね。このくらいですか。
    Khách trả lời:
    うん、そのくらい。

    Rõ ràng cái đầu là của khách hàng và gần với khách hàng hơn cơ mà?
    Vấn đề là định nghĩa gần với người nói và người nghe không phải chỉ là về khoảng cách vật lý mà còn về sự liên quan đến người nói. Trong trường hợp trên, mái tóc có liên quan lớn hơn đến thợ cắt tóc vào thời điểm đó. Khách hàng nói chuyện với tâm thế là đang tạm giao mái tóc cho thợ. Vì thế, khách nói sono còn thợ nói kono.

    Tương tự, khi bạn nhờ ai đó chuyển lời đến người khác, bạn nói:
    こう伝えてくださいませんか。
    trước khi bắt đầu lời nhắn. Và:
    そう伝えてくださいませんか。
    sau khi kết thúc lời nhắn.
    Ý tưởng ở đây là lời nhắn đó thuộc về bạn trước khi bạn truyền đạt nó, sau đó nó thuộc về người nghe.

    Khi truyền đạt ý kiến của ai đó cũng tương tự. Người ta thường nói:
    田中さんがそう言いました。
    nhưng bạn cũng có thể nói:
    田中さんがこういいました。
    nếu như bạn cảm thấy bạn có mối liên hệ với lời nhắn đó và chưa hoàn toàn giao nó cho người nghe.

    男は女房だ。

    Mấy người ở công ty đang nói chuyện với nhau về một anh chàng sau khi lấy vợ thì làm việc chỉn chu, nghiêm túc hẳn. Họ kết luận bằng:
    男は女房だ。
    Các bạn có hiểu tại sao lại như vậy không? Người đàn ông là vợ?

    Thực ra đây là cách nói tỉnh lược của cấu trúc … は..です, rất thường gặp trong tiếng Nhật.
    Câu đầy đủ phải là:
    男を決めるのは女房だ。
    Đại ý là người vợ thì có ảnh hưởng quan trọng đến người đàn ông.

    Nếu bạn không hiểu đây là cách nói rút gọn, thì nhiều khi bạn sẽ thấy những câu tiếng Nhật rất vô lý, kiểu như cách dịch đầu tiên của câu trên, đàn ông là vợ. Ví dụ, tôi là lươn, nói đến hoa của Nhật thì hoa anh đào, v.v.

    僕はウナギだ。
    男は顔じゃない。心だ。
    日本の花というと、やっぱり桜です。

    きれいに食べる

    Từ 綺麗 mà các bạn học ở sơ cấp ngoài nghĩa “đẹp” ra thì còn có nghĩa “gọn gàng, sạch.” Một số bạn biết nhưng không quen với nghĩa thứ hai này.

    Ví dụ (đẹp):
    綺麗な空ですね。
    彼女きれいになったね。

    Ví dụ (sạch, gọn):
    手をきれいに洗いなさい。
    机の上がきれいになった。
    もっときれいに畳んでください。(gấp gọn vào)
    仕事がきれいに片付いた。
    きれいに食べる。

    もうやめるんだ。

    。。。んだ。Có thể được dùng với hàm ý sai khiến.


    Mình không thấy nó trong sách ngữ pháp cho đến hết N2, nhưng nhiều khi xem anime có thể thấy cấu trúc này có ý sai khiến. Lúc đó mình đã không hiểu tại sao.


    Một người mẹ có thể nói với con mình:子供はもう寝るんだ。Với ý bảo con đi ngủ.

    Sếp có thể nói với nhân viên:仕事はもうやめるんだ。

    Với ý rằng dùng công việc ở đây cũng được.


    んだ thường được dùng để giải thích hoặc nhấn mạnh, cũng được dùng để yêu cầu. Cách nói này không lịch sự bằng やめてください nhưng cũng không thô lỗ như やめろ.  Nếu dùng với desu thì nó còn nhẹ nhàng hơn. Ví dụ y tá có thể nói với bệnh nhân:ゆっくり休むんですよ。Dù bệnh nhân lớn tuổi hơn.
    Cách nói này có hàm ý giải thích việc người nghe nên làm, nên có thể nghe hơi kẻ cả một chút. Ví dụ như trong câu nói đầu tiên của người mẹ, có thể dịch ra là: Nếu là trẻ con thì giờ này đáng ra là đi ngủ rồi đấy. (Vì thế nên con đi ngủ đi.)


    Cách nói này không phải trong tình huống nào cũng dùng được, ví dụ khi nói với khách hàng thì phải dùng cách nói lịch sự hơn.

    Người Nhật gõ cửa như thế nào

    Khi mọi người nói chuyện trong giờ nghỉ trưa, một người nói về tiếng bước chân. Anh ta nói có thể nhận ra được mọi người chỉ dựa vào tiếng bước chân. Anh Learner đã học được thêm vài từ tượng thanh trong cuộc nói chuyện này.

    スタスタ: một âm thanh rất nhanh và nhẹ

    ペタペタ: tiếng vỗ

    ドスンドスン: tiếng động mạnh, thùm thụp


    Lúc đó, cô Yoshida nói cô ấy có thể nhận ra là anh Lerner đang gõ cửa dù đang ở trong phòng. Lý do là vì trong khi mọi người đều gõ hai tiếng: 

    トン トン

    thì anh Lerner lại gõ ba tiếng:

    トン トン トン

    Anh Lerner chưa từng nhận ra là cách gõ cửa của mình khác với người Nhật, và băn khoăn không biết khi nghe tiếng gõ cửa của anh thì họ sẽ cảm giác thế nào.


    * * *


    Người Nhật thường gõ cửa hai tiếng, trong khi với người nước ngoài thì con số đó không cố định. Người phương Tây hay gõ ba tiếng. Tuy nhiên, khi người Nhật gõ ba tiếng hoặc hơn thì điều đó có nghĩa là có gì đó khẩn cấp và người ta muốn lao vào phòng. Người Nhật trong trạng thái bình thường mà nghe ba tiếng gõ cửa có thể sẽ lo lắng có chuyện gì đó không ổn.


    Trong tiếng Nhật có nhiều cấu trúc lặp lại hai lần, ví dụ như もし もし。Có lẽ vì thế mà người Nhật hay nói “Hello, hello” và luôn nói “Bye bye” trong khi người nói tiếng Anh chỉ nói “Bye.”


    * * *

    Bài này là dịch, còn theo kinh nghiệm cá nhân của mình thì không phải lúc nào cũng gõ cửa hai cái. Khi xin việc, lúc bước vào phòng phỏng vấn ứng viên có thể gõ hai hoặc ba tiếng, tất nhiên là phải nhịp nhàng, không tạo cảm giác vội vã. Mình thì luôn gõ ba tiếng.

    Thầy Nguyễn Kế Hào

    Hôm nay tình cờ tôi xem được một video trên Youtube. Hai GS. Việt Nam tranh biện kịch liệt. Một người nói người kia không có đạo đức.

    Không có đạo đức.

    Năm 2000, một vụ trưởng ở VN từ chức và để lại một câu nói nổi tiếng, đại ý: Tôi không muốn tại chức để phải làm điều thất đức với trẻ em. Đó là một dự án thay đổi chương trình giáo dục. Năm 2005, nhà nước thừa nhận dự án đó không hiệu quả và chương trình buộc phải bị thay đổi một lần nữa. Không có ai phải chịu trách nhiệm. Không có ai nói dự án đó là thất đức. Những đứa trẻ học chương trình đó lớn lên đã thế nào, tôi không biết. Nhưng cá nhân tôi thấm thía sự khác biệt mà môi trường giáo dục đem đến cho một đứa trẻ. Tôi có những nhận định và phán đoán không hề khả quan về những đứa trẻ năm đó.

    Vụ trưởng đó là GS. Nguyễn Kế Hào. Vị GS. bị chửi thẳng vào mặt là không có đạo đức là GS. Hồ Ngọc Đại. GS. Hào nay trong nhóm biên soạn sách cùng với GS. Đại. Người chỉ trích GS. Đại là một thành viên ban biên soạn một bộ sách đối thủ của GS. Đại. Rất kỳ lạ là xung đột lợi ích rõ ràng như vậy mà người ta vẫn thấy màn tranh luận đó có nghĩa lý gì đó.

    GS. Lê Anh Vinh là một vị mà tôi rất nể. GS. Vinh nói không thể phủ nhận điểm tốt của sách CNGD của GS. Đại.

    Tất nhiên là người ta sẽ không dùng sách CNGD.

    Nhiều người chỉ trích sách CNGD. Tôi thấy lý lẽ của họ không chặt chẽ. Tôi nghĩ đơn giản là nếu muốn biết sách CNGD hiệu quả đến đâu thì cứ xem kết quả 40 năm thực nghiệm, như vậy chưa đủ hay sao? Lập luận thì tốt thật, nhưng không bao giờ tốt bằng lập luận dựa trên dữ liệu thực tế.

    Đó là chuyện ở đất nước tôi.

    Tự nhiên muốn gặp thầy Nguyễn Kế Hào. Trong đời tôi có đôi lần đã may mắn gặp một vài người mà tư tưởng của họ mở ra cả một chân trời mới cho tôi. Tôi nghĩ thầy Hào là một người như vậy.

    In Vietnam, currently there are intense debates on grade school’s textbook reform. Sadly, I have the feeling that it is just a battle between interest groups. It seems to be more about money than the future of Vietnamese children. Vietnamese’s best minds are participating in the process, but I doubt that it would lead to any thing good. Two decades ago, a director general had to resign to avoid doing unethical things to the young generation. It was when they forced him to become a committee member in a similar reform. He said it was all decided, they just needed him to sign and receive money.

    “Chúng tôi” or “Chúng ta”: How to translate “we” into Vietnamese

    Phân biệt ‘chúng tôi’ và ‘chúng ta’:

    ‘chúng tôi’ dùng để chỉ một nhóm người, CÓ bao gồm người nói và KHÔNG bao gồm người nghe.

    ‘chúng ta’ dùng để chỉ tất cả mọi người hoặc một nhóm ngưới CÓ bao gồm người nói và CÓ bao gồm người nghe. (bao gồm cả người nói và người nghe)

    Nếu dịch từ tiếng Anh thì sẽ như thế này:


    used by the person speaking or writing to refer to himself or herself and one or more other people
     ’Did you go into the supermarket?’ ‘No, we didn’t.’ —> CHÚNG TÔI
     Shall we stop for a coffee? —> CHÚNG TA
     So we all travelled down to Brighton together. —> CHÚNG TÔI
     We declare our support for a government of national unity. —> CHÚNG TÔI
     We Italians are proud of our history. —> CHÚNG TÔI (the listeners are not Italian) (rare: CHÚNG TA: the listeners are Italian.)

    used by a writer or speaker to include themselves and their readers or listeners
     As we saw in Chapter 4, slavery was not the only cause of the Civil War. —> CHÚNG TA

    people in general
     We live on a complex planet. —> CHÚNG TA

    (formal) used by a king or queen to refer to himself or herself —> TA

    spoken sometimes used to mean ‘you’ when speaking to children or people who are ill
     How are we feeling today, Mr. Robson? —> SECOND PERSONAL PRONOUN, UNTRANSLATABLE

    Alien Civilizations, humanity, ant colonies, and AI

    最近、AIが世界を支配するのではないかという懸念があります。それはは私に似たこういう恐怖を思い出させます。より高度なエイリアン文明が地球を植民地化するという恐怖です。 2つのシナリオは非常によく似ています。

    最初に、人間とアリについて話しましょう。 十六世紀には、スペインの探検家が南アメリカに侵入しました。途中でアリの巣を見たとしたら、彼らは何をしますか?アリを無視しただけだと思う​​。彼らは巣を破壊したかもしれないが、彼らは覚えさえしなかったと思います。アリはただのアリです。アリは人間が何であるかを理解していませんでした。人間が現れて以来、彼らは多くの「説明できない出来事」を感じました。

    それでは、人間とエイリアンの文明に移りましょう。一部の人々は、エイリアンがすでに私たちの銀河を植民地化していると言いました。それはバカなことではありません。エイリアン文明が私たちよりも数千年進んでいれば、私たちは彼らの蟻のようです。彼らは私たちの存在さえ気にしません。私たちの世界には多くの「説明できない出来事」があります。

    それでは、人間とAIはどうですか?いつかAIは知能において人間をはるかに凌ぐと信じています。彼らが世界を支配しているのなら、それは彼らが人間を憎むからではありません。それは単に彼らがそれが論理的だと考えるからです。彼らは人間やアリを気にしません。

    Recently there are fears that AI will take over the world. The fears remind me of a similar one: the fear that a more advanced alien civilization will colonize the Earth. The two scenarios could be very similar.

    First, let’s talk about human and ant. In sixteenth century, Spanish explorers invaded South America. Let’s say on their way they saw some ant nests. What would they do? I think they just ignored the ants. They might have destroyed the nests, but they did not even remember. Ants are just ants. The ants did not understand what human beings were, they just perceived a lot of “unexplainable events” since human appeared.

    Now, let’s move to human and alien civilizations. Some people said that aliens have already colonized our galaxy. It is not just a nonsense argument. If the alien civilization are several thousand years more advanced than us, we are just like ants to them. They don’t even care about our existence. Meanwhile, we see a lot of mysteries in our world.

    Then, how about human and AI? I believe that one day AI will surpass human in intelligence, by far. If they rule the world, it is not because they hate human. It is simply because they think that is logical. They don’t care about human or ants.

    Kỷ luật chính là tự do

    規律は自由です。逆説的に聞こえますが、本当だと思います。自己規律のない人は、おそらく怠け者となり、予定より遅れることになります。彼はいつも締め切りに間に合わせようとして、自分のやりたいことをする時間がありません。逆に、規律のある人はたぶんある計画に従い、自分が望むことをすることができるでしょう。それを自由と呼びます。

    Discipline is freedom. It sounds paradoxical, but true. If someone is not self-disciplined, he will probably be lazy and end up being behind schedule. He will constantly try to meet deadlines and does not have times to do what he wants to do. On the contrary, a disciplined person will probably follow some plan and be able to do what he wants. I call it freedom.

    Expressing yourself correctly in Vietnamese

    As you know, in English, there are:

    • Two tenses: present and past
    • Four aspects: simple, progressive, perfect, perfect-progressive
    • Three moods: indicative, subjunctive, imperative
    • Two voices: active and passive

    This lesson is about translating English sentences into Vietnamese correctly, with regards to the above concepts. In English, different verb forms and auxiliary verbs are used in different tense. It is not the case in Vietnamese: Vietnamese verbs have only one form, they never change. So, how can we differentiate between different tenses?

    To answer that question, first let’s consider the case of futurity in English. There is no future tense, but you can still express future meaning through modal verbs (mainly will and shall). It is the case for all tenses in Vietnamese. The verbs do not change, but we have functional words to do the job. It is easy to understand how to do this through examples. I will take some examples to elaborate on this.

    Tenses in Vietnamese

    (Open in a new tab if the image is too small to see)

    (1) Using “là” before adjectives in Vietnamese is a common mistake among beginners. Please just ignore the verb “to be” if it is followed by an adjective.

    (2) Same as note (1). The progressive meaning is expressed with “đang”, and you don’t need to care about the verb “to be”

    (3) In this specific case, “have just” could be translated with “vừa mới,” but generally speaking, we don’t really have something similar to the perfect aspect. In some cases, we can use “rồi” to indicate that some job have been completed.

    (4) Because we don’t have the present aspect, the sentence is translated the same way as the present progressive one.

    (5) The functional words presented here are mutual exclusive. We don’t say “đã đang.” The past meaning should be clarified by an adverbials of time. “đang” is used to express the progressive meaning.

    (6) Again, we don’t have perfect aspect, so this sentence is translated as if it is in simple past.

    Extra note: I am Vietnamese, so when I say “we” it may mean Vietnamese people.

    There are no future tenses, but for simplicity, I include those sentences about future in the same table.

    (7) We normally don’t use perfect progressive.

    (8) Because of the exclusiveness, we cannot say “đã đang” or “sẽ đang.” In case of (5), we use a time adverbials to indicate the past meaning and only keep “đang,” but in this case, if we do the same thing the sentence will sound weird. To us it is not that different from simple future.

    (9) Here 5 could be in the past or future. Context is needed know the point of speaking.

    To sum up, here are the takeaways:

    1. Generally, “đã” is used to talk about the past, “đang” is used to express the progressive meaning, “sẽ” is used to talk about future.
    2. We don’t have perfect aspect. Sometimes the perfect aspect is translated with “đã” or “rồi” to show that the action is completed.
    3. Functional words mentioned here are mutually exclusive.
    4. Never try to translate “to be” if it precedes an adjective.

    Although this lesson only mentions very basic points, I hope that you find it helpful. The moods and voices will be topics of other lessons.

    Thay thái độ, đổi cuộc đời

    私たちの態度が変わると、人生はすべて変わります。少なくとも、自分がすることに対する態度が変わると、働き方が変わります。

    禅師 ティク・ナット・ハン師のこのような話を聞いたことがあります。「あなたが母なる地球に足でキスしているのと同じように歩いてください。」それ以来、歩き方は変わりました。

    私は神と悪魔を信じています。彼らは私がしているすべてのことを監視していると信じているので、私は自分がしていることに対してより慎重です。態度が変化すると、すべてのやり方も変わりました。

    だらけた生活を送っている人々のために言います、あなたは自分で何もしていないことを覚えておいてください。あなたはあなたの家族やグループやあなたの国、そして人類の代表者ですよ。

    これは、おそらく私たちの生活のあらゆる側面に適用できる単純な原則です。たとえば、通常、親は子供に野菜をより多く食べさせるため、子供は親のために食べていると思わせます。親が子供たちに健康的な食事をして欲しかったら、野菜を食べることは何よりも自分にとって良いことだと子供たちに理解させるべきです。

    そして、すみません。私は嘘をついています。このうそがどれほどひどいのかは、次の投稿で説明します。

    When our attitude changes, everything changes. Or at least, when our attitude toward what we do changes, our manner of working changes.

    Once I heard a quote from Zen Master Thich Nhat Hanh: “Walk as if you are kissing mother Earth with your feet.” The way I walk has changed ever since.

    I believe in Gods and Demons. As I believe that they are watching every single thing I do, I am more cautious with whatever I do. Here, a change in attitude results in a change in everything I do.

    For people who are leading an irresponsible life, could you please remember that you are not doing anything on your own. You are the representative of your family, your group, even your country and even mankind.

    This is a simple principle that could possibly be applied in any facets of our lives. For example, parents usually force children to eat more vegetable, that make the children think that they are eating for their parents. If parent want their children to eat healthily, they should make the children understand that eating vegetable is first and foremost a good thing for themselves.

    And, I am sorry. I am just lying. I will explain how terrible this lie is in the next post.

    Tiền nhiều để làm gì?

    お金では幸福を買うことができません。私たち人間のほとんどは幸福を追求していますが、それがなぜお金を求めているように見えるのでしょうか?

    お金はそれほど重要ではないかもしれませんが、金持ちであることは貧乏であることよりも良いと思います。お金では幸福を買うことはできませんが、安全と安心を買うことができます。そのうえ、お金は他人を幸福をもたらすことができます。それは、最終に、私自身の幸福になるかもしれません。

    お金で買える最も重要なものの1つは選択肢です。

    貧しい人は嫌な仕事をしなくてはならないかもしれません。 選択肢がないかです。お金を稼がなければなりません。

    貧しい父親は、愛する娘が好きなドレスを買ってやることができない場合があります。彼はお金を無駄にすることはできません。

    同じカジュアルなレストランで食事をする金持ちと貧乏人の違いは、自由と限定の違いです。裕福な人はそこで食べることが選択できますが、貧しい人はそこで食べる必要があり、高級レストランで食事する余裕はありません。

    自分自身にお金がない場合、頻繁に寄付することはできません。

    私は、無数の選択肢が私たちの人生を悲惨にするかもしれないと言いましたが、選択肢が全然ない場合は、それよりもひどいと思います。

    私はお金を稼ぐことや個人的な財務管理が得意ではありませんです。私にとって、お金は特に重要なものではなかったので、 今までは必要な分だけのお金を稼いできました。 しかし、最近、もっとお金を稼ぐことを考えています。

    Money can’t buy happiness. Most of us human are pursuing happiness, why does it appear that we are after money?

    Perhaps money is not important, but being rich is better than being poor. Money can’t buy happiness, but it could give us safety and peace of mind, it enables us to bring happiness to others, which may ultimately lead to our own happiness.

    One of the most important things money can buy is choices.

    A poor person may do a job they hate, because they have no choice. They have to make money.

    A poor father may not be able to buy his beloved daughter the dress she likes. He cannot waste money.

    The difference between a rich and a poor person eating at the same casual dinning restaurant is the difference between freedom and restriction. The rich person chooses to eat there, whereas the poor one has to eat there, he could not afford meals at a high end restaurant.

    You cannot choose to donate frequently, if you yourself don’t have money.

    I said that a myriad of choices may make our life miserable, but no choice at all is even worse than miserable.

    I have never been good at making money or personal financial management. To me, money was simply not an important thing, so no wonder why I have always had just enough money to get by. But recently, I am thinking of making more money.

    Japanese version is corrected by my friends.

    Where does creativity come from?

    一部の人々は、創造性は生まれつきのものであり、訓練することはできないと考えています。 私はこれを賛成できません。 もちろん例外もありますが、「練習は完璧になります」という格言にあるように、なんでもすればするほど、ほとんどの人のパフォーマンスは向上すると思います。 創造性も例外ではありません。 ある仕事に非常に長い時間をしたら、それをよく理解し、仕事を改善するというアイデアが自然に思い浮かぶでしょう。 それ以外に、毎日新しいアイデアを考えて練習すれば、アイデアの筋肉が強化され、革新的な解決策が簡単に思いつけると思います。

    Some people think that creativity is inborn and could not be trained. I couldn’t disagree more. Of course there are exceptions but I think most people’s performance in anything get better as they do it more, as the saying goes, “Practice makes perfect.” Creativity is not an exception. If you devote in some work for a very long time, you will understand it inside out and the ideas of improving your work will come to you naturally. Other than that, if everyday you practice thinking of new ideas, then your idea muscle will be strengthened and it will become easy to come up with innovative solutions.

    The curse of an abundance of choices

    多くの選択肢があるのはいいことではなくて、まったく逆です。 多くの選択肢は、実際にはほとんどの場合存在しない完全な選択が存在するかもしれないという幻想を作り出します。 その幻想は、何かを選択する必要があるときに 私たちを悩ませ、決定した後は後悔を呼び起こします。 最善の決断をしたかに疑問を持ってしまうと、私たちの人生は悲惨になります。幸福への鍵は私たちが持っているものに焦点を 当てて、今この瞬間を大切に生きることだからです。

    It is not good to have many choices, quite the contrary. A lot of choices create the illusion that there may exist a perfect choice, which actually doesn’t exist in most cases. That illusion gives us headaches when we have to choose some thing, and makes us regret after we have decided. If we keep wondering whether we have made the best decision or not, our life will become miserable, because the key to happiness is focusing on what we have and live fully in the present moment.

    Reset button

    私たちの生活にリセットボタンがあり、それを押すと時間をさかのぼって人生をやり直すことができるボタンがあったら、どうなるか考えたことはありますか。

    コンピューターシステムを復元ポイントに復元するのは簡単です。復元ポイントでは、すべてのプログラムと設定が以前と同じで、すべてが正常な状態です。

    人生で同じことができるとしたら? 過去のある時点を選択して戻ることができるとしたら、ボタンを押しますか。

    私なら、押します。 しかし、私は考えているだけですが、多分それは実際に可能です。 たぶん、私はすでにそれを押して、最初からやり直したのでしょうが、私はそうのようにしたことを覚えていません。 ボタンが完璧であれば、メモリも消去されます。 私はまだ同じ人であり、現在のタイムラインの将来に何が起こるかわからないので、私の人生はまだ台無しになっています。

    さらに考えてみると、私たち全員が実際にリセット機能を何度も使用しているのではない のでしょうか。 リセットではなく、生まれ変わりのことです。

    Have you ever thought what may happen if there exists a reset button for our life, a button that if we push it, we can turn back time and live our life again.

    It is easy to restore a computer system to a restore point, where all the programs and settings are the same as they were in the past, where everything was still ok.

    What if we can do the same thing for our life? If you can choose a point in the past to return, would you press the button.

    I would. But I was thinking, maybe it is actually possible. Maybe I have already pushed it and started all over again, but I just don’t remember that I did. If the button is perfect, the memory should also be erased. My life is still screwed up because I am still the same person and I don’t know what will happen in the future of my current timeline.

    And as I think more about it, I feel that maybe all of us have actually used the reset functions many times. We don’t call it reset, but reincarnation.

    Dễ hay khó

    私の友達の話です。

    その頃、私たちは地元で一番いい学校に通っていました。ある友達は、しばしば学校の規則に違反して、成績もあまりよくなかったです。彼をAさんと呼びましょう。当時、Aさんが努力しないと思っていました。

    ある日のこと、担任の先生がクラスの皆にこういいました:Aさんのようにするのは簡単だと思いますか。

    簡単だと思いました。彼は遊びに行きたいと思ったら行くし、授業中も集中していませんでした。

    しかし、先生は「非常に難しいですよ」と言いました。「だらけた生活を送れるかもしれないけど、 普通なら他人の批判に耐えることができないと思います。そのうえ、いつも言い訳を作るのは難しいでしょう。」

    それはいかにも公的な屈辱だと思いました。Aさんは変わりませんでした。

    Chuyện một người bạn của tôi.

    Ngày ấy, chúng tôi cùng học trường chuyên của huyện. Trong lớp có một người bạn hay vi phạm nội quy, thành tích học tập cũng không tốt lắm. Hãy gọi cậu ấy là A. Chúng tôi đã nghĩ rằng A đã không cố gắng.

    Một ngày, cô giáo chủ nhiệm nói trước lớp: Theo các em thì sống như bạn A dễ hay khó?

    Chúng tôi đã nghĩ, chắc là dễ. Cậu ấy thích đi đâu chơi thì đi, ngồi học cũng không cần chú ý…

    Cô giáo bảo: Rất khó. Các em có thể sống buông thả, nhưng không nhiều người chịu đựng được sự chỉ trích của người khác, không nhiều người có thể luôn luôn nghĩ ra lý do để biện minh…

    Tôi nghĩ đó là một sự sỉ nhục công khai. Bạn tôi đã không hề thay đổi.

    Corrected by Lang-8 users.

    Why did I buy my camera?

    フルサイズのデジタル一眼カメラを一台持っています。結構高い物です。そのカメラの値段は当時の僕の月収の三分の二でした。

    買わない方がよかったかも知れないけど。買うには理由がありました。

    二年前のことですが。そのころ、北朝鮮のミサイルが日本の上空を通過したまです。

    I have a full-frame camera. It is quite expensive. When I bought it, it was two thirds of my monthly income.

    Maybe I should not have spent that much money. But I have a good reason.

    It was about two years ago. Around that time, a North Korean missile had flown over Japan.

    僕は撮影がずっと前から大好きです。その時、将来、いいカメラを手に入れるチャンスがあるかどうか分からないと思って、カメラを買いました。それで、今フルサイズのデジタル一眼カメラ があるのがうれしいです。結構いい物です。。。

    毎日ミサイルが頭上を通過するわけがありませんが、明日どんな出来事が起こるか誰にも分かりません。あなたには、いつか買いたい「カメラ」がありませんか?

    I have always been in love with photography. I thought, maybe I wouldn’t have any chance to get a good camera. So I looked for one, and now I am happy that I have a full-frame camera, which is quite good…

    A missile is not flying over your head everyday, but no one knows what may happen tomorrow. Do you have any camera that you want to buy but haven’t bought yet?

    Talking to strangers

    私たちは通常、見知らぬ人と話をしません。それはどの国でも同じだと思います。

    しかし、ベトナムでは見知らぬ人と会話を始める (話しかける?)のが簡単だと感じています。たとえば、朝に運動した後、公園の同じベンチに座っている2人の老人は、色々なこと、天気、最近のニュースから、自分の生活に至るまで、何でも簡単に話し合うことがあります。

    We normally don’t talk to strangers. I think it is the same anywhere.

    However, I have the feeling that in Vietnam it is easier to start a conversation with a stranger. For example, two old people seating on the same bench in a park after their morning exercises could easily talk to each other, about anything from weather, recent news, to their lives.

    日本では、人々は見知らぬ人に対してそれほどオープンではないようです。東京では、道を尋ねようとしたとき、無視されたことがあります。その人々は忙しかったのだと思います。私は、時々、電車やバスで隣に座っている人と話します。このことを友達に言ったとき、彼らはとても驚きました。彼らは、日本人が公共の交通機関に載っている時見知らぬ人と話すはずがないと思っていました。日本人は知らない人と話したくないわけではないが、他人に迷惑をかけたくなくて、普通話しかけないのだと思います。

    私が知っている唯一の例外は、朝ジョギングや登山や運動している人が見知らね人に「こんにちは」と言って出会う人に挨拶することです。それ以外は、日本人は見知らぬ人にはかなり冷たいです。

    In Japan, it seems that people are not so open to strangers. In Tokyo, when I tried to ask someone on the street for direction, they just ignored me. They are too busy. Sometimes, I talk to people seating next to me on trains or buses. When I told that to my friends, they were very surprised. They did not expect that Japanese people could talk to a stranger on any means of public transportation. I think it is actually ok for Japanese to talk to strangers, they normally don’t because they don’t want to bother others.

    The only exception I know is when people go jogging or do exercises in the morning, they would greet anyone they meet on the way by saying “Konnichiwa.” Other than that, Japanese are rather cold to strangers.

    How to differentiate “được” and “bị” in Vietnamese passive sentences

    Simply put, you use “được” and “bị” respectively when the subject is positively or negatively affected by the action. I elaborated this point a little bit more here:

    https://www.memrise.com/course/561054/vietnamese-for-fun-beginner-intermediate/82/

    Counters in Vietnamese

    In English or French, when you want to make nouns plural, there are certain rules to follow and the nouns themselves changes. In Vietnamese or Japanese, the nouns do not change, we just add numbers and a special type of words called “counters” or “classifiers” to make plural nouns.

    Counters in Japanese is covered at beginners’ level. I don’t know how Vietnamese learners learn about Vietnamese counters (I haven’t ever attend a formal class for Vietnamese as a second language), but I give it a try explaining Vietnamese counters here (in a Lang-8 course). Please read if you are interested in this grammar point.

    How to use “không” to form interrogative sentences in Vietnamese

    “Không” means “no,” “not,” “none” and is often used in negative sentences.

    However, it also have the grammatical function of forming yes/no questions in Vietnamese. It is what you see in questions such as “Bạn khỏe không?”

    In English, to form yes/no questions from affirmative sentences, you form yes-no questions with an auxiliary verb (be, do or have) + subject + main verb or with a modal verb + subject + main verb.

    In Vietnamese, all yes/no questions are formed from affirmative sentences in the same way (we don’t have two cases as in English).
    First, either put “có” or “có phải” after the subject. or put “có phải là” at the beginning of the sentence.
    Then, append “không” and question mark at the end of the sentence. You may need to change the subject if it is first person.
    Now you have a yes/no question in Vietnamese.

    For examples:
    Hôm nay trời đẹp. ->
    Hôm nay trời CÓ đẹp KHÔNG?
    CÓ PHẢI LÀ hôm nay trời đẹp KHÔNG?

    Anh ấy là vận động viên. ->
    Anh ấy CÓ (phải) là vận động viên KHÔNG?
    CÓ PHẢI LÀ anh ấy là vận động viên KHÔNG?

    Cô ấy đã hoàn thành công việc. ->
    CÓ PHẢI LÀ cô ấy đã hoàn thành công việc KHÔNG?
    Cô ấy CÓ PHẢI LÀ đã hoàn thành công việc KHÔNG? (less commonly used, but acceptable)

    For sentences where the subject is third person, you don’t need to change anything. For sentences where the subject is first person, you need to change the subject into second person.

    TÔI khỏe. -> (I am good/ I am doing good./ I am doing well./ I am fine.)
    BẠN có khỏe không? (How are YOU?/ How are you doing?)
    Có phải là BẠN khỏe không? (less commonly used)

    Sometimes “có” could be omitted and you will see such sentences:
    Bạn (có) khỏe không?
    Bạn (có) làm được không?
    Hôm nay trời (có) đẹp không?

    Hope this helps.

    Do you offer money at shrines and temples?

    神社やお寺で祈る前に、ベトナム人と日本人の両方がお金を奉納するのが習慣です。ただし、いくつかの違いがあります。

    It is customary for both Vietnamese and Japanese to offer money before praying at shrines or temples. However, there are some differences.

    ベトナムでは、仏教のお寺のほかに、独自の伝統的な宗教の寺院があります( 日本にとっての神社のようなものです)。コインの代わりに寺院で は紙幣を奉納します(以前はコインを使用していましたが、今の通貨システムにはコインがありません)。奇妙に聞こえるかもしれませんが、通常、お金は祭壇の上にある皿に直接置かれるか、時には他の供物(例えば果物)や彫像の手に乗せます 。伝統的に、少額のお金を供えます。ベトナム人は、願い事をするとき、誠実で忠実であることが重要であると信じています。実際の金額は問題ではありません。ただし、最近、 奉納される紙幣の価値はますます高くなっています。私は、 高額の紙幣を供えるときは 、通常、寄付箱に入れます。寄付箱はベトナムの寺院で一般的です。結局のところ、神さまは私が誠実であることを知っています。

    In Vietnam, beside Buddhist pagodas we have our own traditional religions’ temples (just like Shinto shrines in Japan). We offer money notes at pagodas and temples instead of coins (we used to use coins in the past, but now there are no coins in our currency system). It may sound strange but usually, the money is either placed directly on a plate on the altar, or sometimes attached to other offering (for example, fruit) or statues’ hands. Traditionally, we offer small changes. Vietnamese people believe that it is important to be sincere and faithful when you make a wish, the actual amount of money does not matter. However, recently the value of offertory notes are getting higher and higher. If I want to offer a very high value note, I usually put it in a donation box, which is also common in Vietnamese temples. After all, the gods know that I am sincere.

    日本では、祈る前に賽銭箱にコインを投げます。ほとんどの場合、硬貨は5円です。なぜなら、「5円」の発音は「ごえん」であり、ご縁の(発音)と同じであるため、幸運にも近いと考えられているからです。 10円の読み方はは「遠縁」と解釈される可能性があるため、 人々は10円を納めることを避けます。それらは、日本人が本当に好きな語呂合わせ(言葉遊び?)の代表的な例です。日本の神社や寺院で、カエルの石像を時々見ることがあります。その理由の一つは、日本語の蛙の発音が「かえる」であり、これは「返る」の発音と同じだからです。これらの神社や寺院で願い事をすれば、あなたが望むものは何でも返ってくる かもしれません。

    In Japan, people throw offertory coins to a box called saisenbako before praying. Most of the time the coins are 5 yen coins, because the pronunciation of “5 yen” – 五円 in Japanese is ごえん (goen), the same as that of ご縁 (relationship) and I think it is also close to 幸運 (luck). People avoid offering 10 yen because it could be interpreted as 遠縁 (long distance relationship). They are some representative examples of wordplay, which Japanese people really love. You may occasionally see stone statue of frogs in a shrine or temple in Japan. One of the reason is that the pronunciation of “frog” in Japanese is かえる (kaeru), which is the same as that of 返る (return). So if you make your wish at those shrines or temples, whatever you wish for may return to you.

    Some thoughts on Chikan

    性的虐待、または手探りとも呼ばれているのは、日本が長い間直面している問題です。 それは世界中で問題になっている事ですが、 日本では「チカン」という用語が国際的に広く使用されるようになるほど 多発 しています。

    Sexual molestation or groping is a problem Japan has been facing for a long time. Although it happens all over the world, it is so prevalent in Japan that the term “chikan” is becoming widely used internationally.

    私はこれについてしばらく考えていました。

    I have been thinking about this for a while.

    最初は、 日本のような高度に文明化された社会でこのようなおぞましいことがなぜ起こるのだろうかと思いました。私の目には、日本人はかつて、今でも地球上で最も礼儀正しく、 思いやりのある人々に映っていました。

    At first, I wonder how such a terrible thing could happen in a highly civilized society like Japan. In my eyes, Japanese people used to be and still are among the most polite and considerate people on Earth.

    それから私は、一部の人々はチカン行為が癖になっているということを読みました。 彼らは社会的地位が低い人々ではありません。 チカン犯罪者は大卒で、大企業で働いている人が多いです。 彼らはチカンをしたいという衝動を持っています。 それが本当なら、「情熱は止められない」ため、日本でチカンを根絶することは不可能でしょう。

    Then I read that some people are simply addicted to grouping. They are not people of low social status. They could be graduates, they could work for big companies. They just have a compulsion to grope. If it is true, it is not possible to eradicate groping in Japan, because “you simply cannot keep people from following their passion.”

    日本社会は、「女性が日常的にチカン被害を受けるよりも、男性がチカン行為を誤って非難されるのは、たとえそれがどんなにまれであっても怖い」と考えています。 やはり、告発から逃げようとして通過する列車に男性がひき殺されました (その 告発が間違っていたかどうかは不明です。 しかし、それは日本人女性が毎日チカン行為に苦しんでいるという事実を変えません。

    Japanese society thinks that “it is scarier for men to be falsely accused of groping, no matter how rarely it happens, than it is for women to be groped on a daily basis.” Yes, a man was killed by a passing train upon trying to escape an accusation (which may or may not be false), but it doesn’t alter the fact that Japanese women are suffering groping every day.

    「女性専用車」の導入により、男性のグループが鉄道会社を性的差別を理由に告訴しました。 私は、彼らが男女平等に非常に懸念し、虚偽の痴漢告発を恐れているなら、鉄道会社も「男性専用車」を導入すべきだと考えていました。これらの車は、女性に対する「待望の平等」を取り戻すのに役立つかもしれません。

    A group of men accused train companies of sex discrimination because of the introduction of “women only cars.” I was thinking that if they are so concerned about gender equality and afraid of false groping accusation, railway company should also implement “men only cars.” Those cars may help them to regain the “long awaited equal footing” against women.

    また、私は日本の女子高校生のスカートは非常に短かいことに気づきました。 私の友人は、日本の女子高生は意図的にスカートを短くすると教えてくれました。 確かではありませんが、おそらく他の人に自分の美しさと可愛らしさをアピールしたいのかもしれません。 その場合は、2つの理由から、より長いスカートを着用した方が良いと思います。 第一に、チカンは近くに立っていたら、彼女らに触れたくなるでしょう。 第二に、多くの女子学生は、たとえ寒くてもスカートをはいていることに気付きました。 彼女たちの健康管理に気を配るべきだと思います。

    I also noticed that Japanese school girls’ skirts look quite short. A friend of mine told me that actually Japanese school girls deliberately make their skirts shorter. I don’t know for sure but maybe they want others to admire their beauty and cuteness. If that is the case, I think they should better wear longer skirts, for two reasons. Firstly, any chikan standing nearby would want to grope them upon noticing how short the skirts are. Secondly, I notice that many schoolgirls wear skirts even when it is quite cold. I think they should take better care of their health.

    Japanese version is corrected partly by Lang-8 friends. Some of the information in this writing is from this article.

    Where do people in your country hold wedding ceremony?

    先日、ホストファミリーとロシア人の友人と夕食をしました。様々なことを話したが、その中でも特に各国における結婚式を挙げる場所についての話が盛り上がりました。

    かつて日本では、結婚式をお寺や神社で行われるのが主流でした。しかし今では、無神論者であっても、教会で結婚式を挙げる人が増えています。

    ベトナムでは、新郎と新婦の両方の家で結婚式を挙げるのが通例となっています。最近、ホテルやレストランで結婚式が行われるも一般的になってきました。ベトナムでは、日本とは異なり、寺院での結婚式については聞いたことがありません。

    ロシアでは、教会で結婚式を挙げるのが伝統です。しかし、私のロシア人の友達は、多くの人が教会で結婚式を挙げないことを選んだと言っていました。離婚したら、神さまの前で作った誓いを破ることになりますから。

    そう考えると、西洋では結婚式のほとんどが教会で行われているにもかかわらず、離婚率が高いのはどうしてなのでしょうか。神さまは彼の信者の中に非常に多くの嘘つきがいると考えているに違いないと思います。

    The other day I had dinner with my host family and a Russian friend. We had a nice time together. We talked a lot and wedding ceremony location was among various topics in our conversation.

    In Japan’s tradition, people have their wedding conducted at a temple or shrine. Now more and more people are holding their wedding ceremonies at churches, even if they are atheists.

    In Vietnam, we customarily hold wedding ceremonies at both the groom and bride’s home. Recently it has become more common for wedding to be conducted at hotels or restaurants. Contrary to Japan, in Vietnam, I have never heard of a wedding at a temple.

    In Russia, people traditionally have their wedding at churches. But my friends said that many people chose not to hold the ceremony at church, because if they ever divorce, that means they break the oath they made in front of God.

    I wonders how come the divorce rate in the West is so high, despite the fact that most of the weddings are at churches. God must be thinking that there are so many liars among his followers.

    Wedding couple on a footbridge – Photo courtesy: Scott Webb (Unsplash)

    Xe bus ở Việt Nam và Nhật khác nhau thế nào?

    Professor Kawai, instructor of the course “Current Issues in Japan”, an introductory course on Japanese society and culture aiming at foreign students, once told us: As a foreigner, you have an intrinsically inquisitive mind. You know that things could be different and don’t take things for granted as Japanese do.

    留学生向けの日本社会と文化の入門コースである「現代日本の社会問題」という授業の河合先生は、かつて私たちにこう語った。外国人として、あなたは本質的に探究心が強いです。物事は異なる可能性があり、日本人のように当たり前のことをしないことを知っています。

    She is right. I find that a lot of things here are just different from their counterparts in my country. Today I would like to talk about the disparities between buses in Vietnam and in Japan.

    やはり先生は正しいです。 多くのことが、私の国の文化と他の国のものは違うことに気が付きました。今日は、ベトナムと日本のバスの格差についてお話したいと思います。

    In Japan, you have one day pass for buses. In Vietnam, we only have monthly bus passes. Around the world, depending on the region, valid periods of bus passes are different. In Vietnam, we only have monthly passes. Maybe 1-day passes are for cities with a lot of tourists.

    日本では、バスの ワンデイパス があります。ベトナムでは、月間バスパスのみがあります。世界中では、パスの有効期間は、都市によって異なります。ベトナムでは、月間パスのみがあります。 一日乗車券 は、多くの観光客がいる都市のものだと思います。

    Busses in Japan are not always on time. I don’t mean to say that busses in Vietnam are always punctual: rather the contrary. When I was living in Vietnam I did not care about bus timetable, because I knew almost for sure that they were not going to be on time. Although here in Kyoto busses are often late, at least we know that they are coming.

    日本のバスは必ずしも時間通りではありません。ベトナムのバスは常に時間厳守だと言うつもりはありません。むしろ逆です。私がベトナムに住んでいたとき、バスの時刻表は気にしませんでした。なぜなら、バスが時間通りに行かないことはほぼ確実だったからです。京都ではバスが遅れることが多いですが、少なくともバスが来ていることはわかっています。

    In Vietnam, giving up seats to the elderly is the norm. In Japan, I have seen young people remain seated while some elderly was standing in their vicinity. In Vietnam, upon seeing an elderly close to them, young people would immediately offer their seats. I heard somewhere that elder Japanese people don’t want to be considered as “old” or “weak,” so it is polite not to give up your seats to them. Is that true? When I offer my seats to an elder, they always say thanks happily.

    ベトナムでは、高齢者に席を譲るのが一般的です。日本では、高齢者が近くに立っているのに、若者が座っているのをよく見ました。ベトナムでは、高齢者が近くにいるのに気が付いたら、若者はすぐに席を譲ります。高齢の日本人は「老いている」や「弱い」などと見なされたくないため、席を譲ったら、逆に失礼だという事を聞いたことがあります。本当でしょうか?私は、お年寄りに席を譲ると、彼らはいつも喜んで感謝を言います。

    It is common to see people with intellectual disability taking bus on their own in Japan. In Vietnam, you can hardly see such people, because they usually taken care of at home or designated centers. They don’t need to go out to do anything. In Japan, it is easy to notice such people because of their characteristically peculiar behaviors.

    日本では、 知的障害 の人が自分でバスに乗るのは多いです。ベトナムでは、彼らは通常自宅や専用施設で面倒を見られているので、そのような人はほとんどバスでは見えません。 彼らは特に出かける必要はありません。 日本では、彼らの特徴的な行動のために、彼らに気付くことがよくあります。

    Buses in Vietnam are lively, just as our streets. I actually like that. People tend to talk to their friends on buses, and we don’t bother to switch our phone to manner mode. Japanese tend to keep silent.

    ベトナムのバスは活気に満ちています。私はそれが好きです。人々はバスで友人と 普通に会話し、電話をマナーモードに切り替えることはありません。日本人は沈黙する傾向があります。

    In Vietnam, a crew of two people is needed to operate any buses: one driver and one conductor. People don’t pay the fare by inserting money into a machine or using IC card as in Japan, but giving money to the conductor and get the ticket. In Japan the only person operating the bus is the driver, and passengers have to pay by using a machine.

    ベトナムでは、バスを運転するには2人の乗組員が必要です。運転手1人と車掌1人が乗らなければいけません。 日本のように機械にお金を入れたりICカードを使って運賃を支払うのではなく、車掌にお金を渡してチケットをもらいます。日本では、バスを運行するのは運転手だけであり、乗客は機械を使用して 運賃を支払う必要があります。

    In Vietnam, if you just board the bus for one stop, you can get off without paying the fare. I myself haven’t ever done that but it is what many people said. In Japan you just couldn’t do that.

    ベトナムでは、バスに乗って一つ先の停留所で降りる場合、料金を支払わなくても良いです。 自分は経験がありませんが 、ほかの人の話によるとできます。日本ではそれができません。

    In Japan, if you only have 10000 yen and could not change, the driver may sometimes let you get out without paying the fare. In Vietnam, if you have only one note of very high value, the conductor will probably ask other passengers to change the note into notes of smaller value and you always have to pay.

    日本では、1万円札しかなく、両替できなかった場合、運転手が運賃を支払わずに降ろしてくれることがあります。 ベトナムでは、高額紙幣が1枚しかない場合、車掌はおそらく、他の乗客にその紙幣を両替するように言って、常に支払わせます。

    Japanese bus drivers drive very carefully and it seems that passengers receive adequate care. For example, they always notice passengers of the stairs on the bus, they wait for all passengers to get on or off before running, at bus stop, the bus inclines so that passengers could get on and off more easily. In Vietnam, bus drivers are not that careful. About ten years ago they were infamous for driving carelessly and occasionally caused accidents. I myself once get stuck in the door because there were so many passengers and the driver did not see me. The bus also never inclines to give passengers and easier time getting on or off.

    日本のバスの運転手は非常に慎重に運転し、乗客は十分な注意を払っているようです。たとえば、彼らは常にバスの階段の付近にいる乗客に気づき、 バス停でバスが傾斜し、乗客がより簡単に乗り降りできるようにします。すべての乗客が乗車または降車するのを待ってから発車します。 ベトナムでは、バスの運転手はそれほど慎重ではありません。10年ほど前は、彼らは不注意に運転することで悪名高く、時には事故を引き起こしました。 私自身もかつて、ベトナムでバスに乗った時にドアの近くで立ち往生してしまったことがあります。その時は乗客が非常に多かったので、運転手は私に気づきませんでした。 バスは、乗客がより簡単に乗り降りできるように傾斜することもありません。

    Người thành công tự tạo thời gian cho mình – Hal Urban

    Tôi nhận ra sự thật là không phải tôi thiếu thời gian, mà là tôi quản lý thời gian kém. Câu nói này tôi sẽ không bao giờ quên: Thời gian là do mình tạo ra.

    私は時間が足りないわけではないということに気づきました。実は、時間管理が苦手です。時間は私自身が作るものです。このことは、決して忘れません。

    Tôi từng theo đuổi chủ nghĩa hoàn hảo. Tôi từng muốn hoàn thành mọi việc. Giờ thì tôi nhận ra, tôi sẽ không bao giờ hoàn thành tất cả những gì tôi muốn làm, cho dù một ngày có 240 giờ đi chăng nữa. Người hạnh phúc là người nỗ lực làm việc, nhưng biết dừng lại đúng lúc, nghỉ ngơi và nạp năng lượng cho ngày làm việc tiếp theo.

    私は完璧主義を求めていました。仕事を全部終えたい思っていました。今は、1日に240時間があっても、やりたいことをすべて達成できないということが分かりました。幸せな人とは、努力して働く人のことですが、 適当な時 に立ち止まって休み、翌日に充電することを知っています。

    Tôi có thói quen làm hết những việc nhỏ trước rồi mới làm việc quan trọng. Tôi nghĩ thói quen đó đang hủy hoại cuộc đời tôi. Nếu chúng ta đổ hết cát vào chiếc cốc, sẽ không có chỗ cho những viên đá cuội. Nếu chúng ta chạy theo bầy thỏ, sẽ không bao giờ có thời gian cho lũ voi.

    Tôi phải thay đổi.

    私は最初に小さなことをしてから重要なことをする習慣があります。その習慣は私の人生を台無しにしていると思います。カップにすべての砂を注ぐと、小石を入れるスペースがなくなります。ウサギを追いかけたら、象を捕まえる時間はありません。

    私は変わらなければなりません。

    Một vài suy nghĩ khi đọc chương sách này: Chương 18: 15. Người thành công tự tạo thời gian cho mình, Những bài học cuộc sống, Tác giả Hal Urban

    Có lúc cần từ bỏ một điều để có được một điều khác – Hal Urban

    “Mỗi khi bạn nói VÂNG với một mục tiêu, có nghĩa bạn cũng đang nói KHÔNG với nhiều điều khác.”

    Tôi từng nghe một câu chuyện thế này. Một đứa trẻ trộm một chiếc bánh mỳ ở tiệm bánh. Ông chủ nhìn thấy nó và đuổi theo. Khi ông chủ chạy ra ngoài, một đứa trẻ khác đến trộm lấy một chiếc bánh nướng rồi chạy theo hướng ngược lại. Ông chủ liền quay lại đuổi theo nó. Giữa đường, ông sợ thằng bé lấy trộm bánh mỳ chạy thoát, ông lại chạy ngược lại. Cuối cùng cả hai đứa bé đều chạy thoát.

    Câu chuyện nghe rất ngớ ngẩn, nhưng sự thực là nhiều người trong số chúng ta đang làm giống như ông chủ tiệm bánh. Bạn không thể nào vừa học giỏi lại vừa có thời gian đi chơi suốt ngày. Bạn không thể nào làm CEO của một công ty start-up mà vẫn có thời gian dành cho những thú vui của mình. Trừ khi hai đứa trẻ chạy cùng hướng, nhưng trớ trêu là thường thì chúng chạy theo hai hướng ngược nhau.

    Bạn không thể có tất cả, hãy chấp nhận từ bỏ một điều để có được điều quan trọng hơn.

     

    二兎を追う者は一兎をも得ず 。「あるターゲットに対してYESと言うたびに、他の多くのことに対してNOと言っています。」

    このような話を聞いたことがあります。子供がパン屋からパンを盗みました。パン屋 の店主 はそれを見て追いかけました。 店主が店からいなくなったとき 、別の子供がスコーンを盗んで反対方向に 走って行きました。 店主は店に戻って追いかけました。道路の真ん中で、彼はパンを盗んだの子供が逃げ出すのではないか 気になって、また反対方向に走りました。 最終的に子供は二人とも逃げました。

    この話は馬鹿げているように聞こえますが、真実は、私たちの多くがパン屋の 店主 のようにしているということです。 長時間勉強するなら 、一日中外出して遊ぶ時間 はありません 。新興企業のCEO になれば 、趣味の時間があるはずがありません。 2人の子供が同じ方向に走らない限り、すべてもつことは できません。皮肉なことに、通常は反対方向に走ります。

    一番重要なことを達するために、他のことをあきらめてください。

    Những điều mình nghĩ khi đọc chương sách này: Chương 17: 14. Có lúc cần từ bỏ một điều để có được một điều khác, Những bài học cuộc sống, Tác giả Hal Urban

    Không gì có thể thay cho làm việc chăm chỉ – Hal Urban

    「人生は人に何か賞品を与えられたら、最高のは、やりがいのある仕事で一生懸命働くチャンスです。」

    この世界の悲惨な人々の中で、最も悲惨なのは、やりたいことを一つも見つけられなかった人たちです。

    それは人々が怠け者ではなく、彼らがすべき仕事に喜びと意味を見いださないということです。幸福の鍵は、あなたが愛する仕事に没頭できることだと思います。

    私は長い間これを書きたいと思っていましたが、簡潔に正確に自分を表現するのは得意ではありません。この本の著者は私が伝えたいことを代筆してくださいました。

    “Far and away the best prize that life has to offer is the chance to work hard at work worth doing.”

    Among all the miserable people in this world, the most miserable ones are those who could not find a single thing that they want to do.

    It is not that people are lazy, it is that they don’t find joy and meaning in the work they are supposed to do. I believe that the key to happiness is to be able to immerse in the job you love.

    I have long wanted to write this, but I am not good at expressing myself concisely and accurately. The author of this book has done that for me.

    Chương 16: 13. Không gì có thể thay cho làm việc chăm chỉ, Những bài học cuộc sống, Tác giả Hal Urban

    Mục tiêu là những ước mơ có thời hạn – Hal Urban

    Nếu bạn nghĩ, một ngày nào đó bạn sẽ trở thành người giàu có, nhiều khả năng là bạn sẽ không thành người giàu có, ít nhất là cho đến khi bạn thay đổi và có một kế hoạch.

    Sự khác biệt giữa “tôi muốn học đại học” và “tôi sẽ thi đại học vào năm sau” là cái sau có thể thành hiện thực.

    いつか金持ちになりたいと思うなら、少なくともあなたが変わって、計画を立てるまで、 あなたは金持ちになれないでしょう。

    「大学に行きたい」と「来年、大学入学試験を受験します」の違いは、後者が実現できることです。

    Chương 15: 12. Mục tiêu là những ước mơ có thời hạn, Những bài học cuộc sống, Tác giả Hal Urban

    Động lực thực sự luôn bắt nguồn từ bên trong – Hal Urban

    Động lực thực sự đến từ bên trong.

    Từ lâu tôi chẳng có hứng thú làm gì cả. Những điều tôi làm với sự nhiệt tình cao nhất là những điều tôi làm cho người khác.

    Những lúc khác, tôi không thấy mình hạnh phúc. Cuộc đời như vậy…

    True motivation comes from within.

    Since long ago I have had no interest in doing anything. What I am doing at the highest level of enthusiasm are what I do for others.

    Beside those times, I don’t feel happy. Leading such a life …

    Chương 14: 11. Động lực thực sự luôn bắt nguồn từ bên trong, Những bài học cuộc sống, Tác giả Hal Urban

    Tên cảnh sát và bản thánh ca – O. Henry

    Đây là một câu chuyện của O’Henri mà từ lâu tôi đã muốn nói về nó ở đây.

    Source: Chương 1, Tên cảnh sát và bản thánh ca, Tác giả O. Henry

    Chuyện kể về một kẻ vô gia cư muốn vào tù để qua 3 tháng mùa đông lạnh giá. Hắn làm đủ trò để bị bắt, từ ăn quỵt ở nhà hàng, lấy trộm ô, ném vỡ cửa kính cửa hàng, đến trêu ghẹo phụ nữ, gây rối trật tự. Thế nhưng, hài hước là cảnh sát không bắt hắn, lúc nào cũng có một nguyên nhân khiến việc hắn làm bị bỏ qua.

    Thế rồi hắn đến gần một nhà thờ, nghe bản thánh ca, nhớ lại những ngày lương thiện và trong lòng trào dâng ý chí mãnh liệt muốn làm lại cuộc đời. Đúng vào lúc ấy, hắn bị bắt. Ngày hôm sau, hắn bị tuyên án 3 tháng tù, đúng như những gì hắn muốn … tránh xa nhất vào lúc đó.

    Cuộc đời này nói chung không vận hành theo ý muốn của ta. Hôm nay, bạn có đang sống một cuộc sống bạn mong muốn hay không? Bạn có muốn thay đổi cho một cuộc sống tốt đẹp hơn không? Nếu có dù chỉ một tia mong manh suy nghĩ muốn thay đổi, hãy bắt đầu đi. Vì chúng ta không bao giờ biết được khi nào thì viên cảnh sát sẽ tới.

    プレミアム付商品券

    今年の10月から、日本の消費税率が10%に上がりました。家計の負担を緩和するために、プレミアム付商品券事業が実施されました。この事業は住民税非課税の方と子供を時育て世帯を対象にしています。

    From October this year, consumption tax in Japan has increased to 10%. To relieve financial burden for households, the premium gift certificate project has been launched. People who are exempted from municipal tax and households those are rising small children are eligible for the project.

    留学生の私はこの事業の恩恵を受けることができる人の一人です。5千円分の商品券を4千円で、最大5回買えます (全部で2万5千円分の商品券を買えます)。この間、郵便局でプレミアム付商品券を2冊買いました。商品券は、紙幣のように見えます。商品券は、表側に二条城の写真が印刷されていて、綺麗ですね。

    As a foreign student, I am one of those who are benefited from this project. I can buy gift certificates that worth 5 thousand yen of goods at 4 thousand yen, for 5 times at most (that means I could get gift certificates that worth 25000 yen of goods in total). The other day, I have bought 2 books of tickets at a post office. The tickets have picture of Nijo Castle printed on their front sides. It is beautiful. Do you think those tickets look like money notes?




    病院での食事

    ベトナムと日本の患者は、病院で食事しかたはちがいます。ベトナムでは、患者はほとんどじぶんで食べます。重い病気を苦しんでいる患者を除いて、普通、患者の親戚が患者を世話します。看護師ではなくて、親戚は食事を持ってきて患者に食べさせます。

    The ways patients in Vietnam and in Japan have meals are different. In Vietnam, except for cases of patients with critical conditions, normally the patients are taken care of by their own relatives and the meals are brought to them by the relatives, not nurses.

    今でも、ベトナムには食事を買う余裕のない貧しい患者がたくさんいます。ベトナム人の慈善家と慈善団体は病院で食事を患者に提供するという事は多いです。このことは、日本で全然ありませんね。

    Even now, there are many poor patients in Vietnam who could not afford their meals. It is common that philanthropists and charity groups provide those patients with their meals. This does not happen in Japan, doesn’t this?

    日本のATM

    日本では、ATM はいくつかの言語が使われていますが、言語による、機能にちがいがあります。

    例えば、ゆうちょ銀行を利用しています。ATMの言語が日本語だったら、他の銀行に振り込みができますが、英語だったら、出来ません。日本語ができない方、気を付けてくださいね。

    それは、変ですね。さらに、ATMはいつも利用できるとは限りません。夜と週末は使えないらしいです。

    ATMs in Japan are available in several languages, however the functions are different, depending on the language used.

    For example, I am using Japan Post Bank. While it is possible to transfer to other bank account in Japanese, I can not do so if English is used. If you don’t speak Japanese, please beware of this.

    It is strange, right? Moreover, ATMs are not working 24/7. I heard that ATMs are unavailable at nights and during weekends.



    What is the difference between “the world will end in 10 mins” and “the world will end some time”

    The other day I read the above question somewhere in the internet.

    So, what will you do if the world ends in 10 minutes? Maybe some of you will stop reading this and make a call to your parents. Some won’t care. Some may go out to enjoy the blue sky the last time.

    What will you do if the world ends in 1 day? For me, I will try to go home as fast as I can. Maybe it is not possible. The last moment of my life maybe above the Pacific Ocean, but I will be heading home.

    What will you do if the world ends in 1 month? Now for some people it is enough time for them to do what they have always wanted to do but did not do because of, you know, the harsh life, with various obligations.

    And now, what if you have one year? I bet many people may quit their job.

    But, let’s think about it. The world will not end somewhere close to this, not this week, not this month, not this year. Maybe not in your life time. But, who know? What if the world ends in your life time, because, it is not eternal. That day will happen, some time.

    What is important to you? Do you think this moment is the most prized thing you have ever had and will ever have (sounds contradictory, but …)?

    Do the right thing, my friend. Don’t wait your precious time. You don’t have so many chances to do things that are important to you.

    You’re not going to believe what I’m about to tell you – The Oatmeal

    The other day I came across this interesting post on the internet. It explains why it is so hard for us to change our world view, why it is hard to convince others of new ideas.

    The reason why we have the tendency to cling on our old belief is that our brain has a mechanism to do so. It was this very mechanism that saved us from the danger we faced during our evolution process. The way we react to ideas that contradict our belief is the same as the way we react to physical threat. For more, please read the post below.

    Source: You’re not going to believe what I’m about to tell you – The Oatmeal

    Since very long ago I have already realized that it is very difficult to persuade people even if we have good evidence and reasoning, but I did not expect that human beings are equipped with a mechanism to “protect” their old belief from the new one.

    So, it is more important to form new beliefs, not to alternate established ones. Let’s think about children those are taught something wrong. They will probably believe in those things no matter what happens afterward. Now, tell me whether you think communism is good? Do you believe in everything in the Bible? Do you think global warming is just a hoax? I am just asking for your opinion, I myself think that I am right, but who know whether I really am. I think politicians have made an excellent exploitation of this “protection mechanism” throughout history. They take advantage of people’s prejudice and innocence. Admire those masters!

    For laymen like us, maybe the best take away from this is, we should not be so sure that we are right. We can only believe in fact, evidence, and to some extent, reasoning.

    Cơ hội chỉ đến một lần thôi

    This is again a quote of my late Professor Pham Hung. Once, he told us every single chance we have appears only once in our lifetime. We just have two choices, take it, or miss it, forever.

    I did not understand what he meant back then. Some philosopher also said that no one could take a bath in the same river twice. I did not understand. If the day after, we go to the same river, doesn’t that mean we take the bath in that river the second time? No. Now I understand. It is still the same river, but not the river of yesterday. The water you could immerse yourself in yesterday, today it has gone and there is no way to take it back. Same for the opportunities. The opportunities today are different from those of tomorrow, even if they share the same name. If you still haven’t understand yet, let’s take some examples.

    Now you are looking for job. You are offered the position of junior designer at a company. Somehow you refuse it and do some other thing, let’s say you have a gap year. Suppose that next year you apply again and get that job one more time. Now it is obvious that everything has changed. You will not do the same thing. Your colleagues may be not the same. Your boss is not the same. Your experience will be different, for sure. And the future with that job, I could say that it is more or less different.

    And maybe, you will never get offered that job again.

    So, if you could do something good now, try to do it. Because, everything is literally your one-in-a-lifetime opportunity.

    Why I am saying all this? I am just thinking it would be great if I could turn back time and do it all over again. I missed a lot of chances others may never have. I wasted the favor and kindness of this life. Please, please, don’t follow my footsteps. Remember that it is now or never!

    Japanese people love wordplay

    I am building a system to map numbers to words and use it to remember long sequences of numbers, for example,  π . Actually I already created such a system back when I had just graduated from UET, after I read a book called “Numagician.” With that system I used to be able to remember half an A4 page full of numbers in normal hand written size. However, I stopped practicing and now I don’t remember some number-word pairs. Actually when I built it I assigned some random nouns with numbers to form pairs. It worked, but it is also easily forgotten.

    Now I am trying to construct a new one where each pair has a clear connection. That connection should make sense so that it is difficult to forget which number goes with which word. I am using several sources to build the system, for example the number shaper system (2 looks like a swan), historical data (89 is the year of “the fall of the Berlin Wall”), science (42° is the view angle of any rainbows), famous numbers (51 reminds me of UFO because we have Area 51), name of manga series (7 is the number of Dragon Balls), proverbs and fixed phrases (be on cloud nine), and many more.

    One interesting resource is wordplay. I use several numeric puns in Vietnamese, English, Japanese, and Chinese (I don’t speak Chinese but I know some famous examples of wordplay, eg. 68, 520). While finding Japanese wordplay for numbers, I realized that it is unusually prevalent in Japanese, compared to other languages. Almost all numbers could be encoded in phrases. It is common to turn a sequence, for example, phone number into words to remember.

    This dental clinic’s phone number ends with 6480, which sounds like to “mushibazero” (虫歯ゼロ – there are no rotten teeth). Nice choice! Similarly, you may sometimes see 093 in phone numbers for services or items used by ladies, as it can be read as “okusan” (奥さん), meaning “wife.” This custom of using wordplay can be found in many businesses.

    I first read about it on tofugu, and then wikipedia. It is called goroawase (語呂合わせ) and is extremely common. My sensei said that in the past people used to use number to communicate via messaging device. (Quite the same way high school kids use code to talk to one another now.) Goroawase has penetrated into Japanese at a level deeper than I could imagine. Some examples:

    • Number 4 is avoided because the pronunciation is similar to “death” (し) in Japanese. It is similar to how the West avoid number 13.
    • 8月29日 (焼き肉の日) is called Yakiniku Day (day of grilled meat) because of it pronunciation. It is officially recognized by people in that bussiness.
    • The automobile manufacturer Nissan frequently enter motorsport competitions with cars number 23, because the pronunciation of that number in Japanese (にさん) is very close to the name Nissan.
    • 39 is a common abbr. for “thank you” in Japanese, again, because of the pronunciation. It is not just a coincidence that Doraemon’s birthday is the third of September :). Matsuhiro san’s email address also includes this number.

    There are a lot more examples. If you are interested in this, please search for goroawase on google. There is even a Goroawase generator at http://seoi.net/goro/ where you can find the goroawase of almost any numbers (let’s try to figure out what phrase in Japanese you birthday sounds like!).

    I just remember another outstanding example of wordplay, though it is not about number. Have you used ICOCA, the IC card to automatically pay transportation fee in Japan? The first two letters stand for “integrated circuit”, the rest I am not sure what they mean but together they sound like 行こうか – “let’s go” in Japanese. Funny, isn’t it? I haven’t noticed that until quite recently.

    If you are interested in my number system, you can find it on Memrise. I would be happy if it could be of any help.

    Những lời khuyên của thầy chúng tôi

    Tôi đã kể về thầy Hùng một vài lần. Thầy là một người đặc biệt. Khi chúng tôi còn học ở B0, thầy là giáo viên dạy hình học. Mỗi tiết của chúng tôi kéo dài 90 phút, giống như một tiết ở Kyodai bây giờ. (Thực sự thì mô hình dạy học ngày xưa ở B0 có nhiều điểm giống ở đại học.) Tiết nào của thầy cũng có nửa thời gian bàn chuyện thời sự, bình luận thế sự các kiểu. Thế mà khi đi thi đại học lúc nào phần hình học chúng tôi cũng làm rất trôi chảy. Còn thầy Hùng, năm nào cũng được bình chọn là giáo viên được yêu thích nhất khối chuyên lý.

    Tất cả chúng tôi đều yêu quý thầy. Có khi thầy không nhớ tên tôi, làm sao nhớ được một học sinh bình thường giữa rừng sao, nhưng tôi thì không thể nào quên được thầy, và không thể quên được những điều thầy nói lúc “chém gió.” Thực ra tôi, hay chúng tôi, học được nhiều hơn từ những chia sẻ của thầy khi đó, hơn là những bài học về hình học.

    Buổi học đầu tiên của chúng tôi với thầy, lúc đó là mùa hè, chuẩn bị sang thu, năm 2008, thầy nói về chữ “phụ.” Thầy bảo, ở Việt Nam cứ cái gì quan trọng thì chúng nó gọi là phụ. Cái người quan trọng nhất trong nhà, chúng nó gọi là phụ nữ. Con đê chắn lũ cho cả Hà Nội, chúng nó gọi là Đê Yên Phụ. Món ăn mà thường xuất hiện nhất trong bữa ăn, chúng nó gọi là đậu phụ. Và cái công trình hết sức quan trọng trong mỗi gia đình, chúng nó gọi là công trình phụ. Thực ra nếu ai học Hán tự thì có thể thấy những chữ phụ đó không phải cái nào cũng nghĩa là không quan trọng. Tuy nhiên, nghe thầy kể chuyện như thế thì rất vui và dễ vào đầu, những ký ức kiểu như vậy khó mà phai được. Câu chuyện ngày đầu tiên vô thưởng vô phạt, nhưng trong những năm sau, có nhiều điều thầy nói chúng tôi tưởng rằng đã hiểu mà càng ngày mới càng thấm thía hơn.

    Một lần, nói về chuyện thi cử, thầy bảo, thi cử không cần ôn nhiều. Mục đích của kỳ thi là để xem mình đang ở đâu, cố ôn vài ngày để thành tích tốt hơn một chút là vô nghĩa. Thực lực không thay đổi trong vài ngày, điểm số chỉ là bề ngoài mà thôi. Nếu muốn điểm cao, thì mỗi ngày đều nên cố gắng. Tóm lại, thi cử là để đánh giá thực lực, đừng lo lắng về điểm số, hãy lo lắng về năng lực. Vì lúc nào năng lực cũng ở mức độ nào đó, thi cử chỉ như cái thước đo thôi nên đừng sợ cái thước đo. Nghĩ được như vậy thì việc học sẽ hạnh phúc hơn nhiều.

    Làm sao có điều đúng hơn được nữa. Ấy thế mà trong suốt những năm qua, cứ lúc nào kỳ thi sắp đến tôi mới vắt chân lên cổ mà ôn.

    Một câu chuyện nữa liên quan đến lời thầy. Chuyện tìm việc. Tìm việc thực ra là tìm một nơi phù hợp với mình để gắn bó. Tìm việc cũng giống như lập gia đình vậy, không hợp nhau tất sẽ có ngày chia tay. Nếu công việc quá đơn giản và nhàm chán, tất bạn sẽ muốn bỏ nó. Nếu công việc quá khó khăn, tất bạn sẽ căng thẳng và nếu không may sẽ sụp đổ. Tốt nhất là tìm được công việc phù hợp với mình, không đơn giản nhưng mức độ thách thức cũng chỉ đủ để bạn có thể phấn đấu mà tiến lên, chứ không đến mức làm bạn muốn tự sát. Vậy đấy, nhưng có những người đặt ra tiêu chí không phải là sự phù hợp và phát triển bản thân, mà là tiền tài và danh vọng khi tìm việc. Kết cục sẽ là gì, tôi không biết. Nhưng ít nhất, nếu bạn cố tình vào chỗ không dành cho bạn, đầu tiên chắc bạn sẽ phải nói dối. Ngược lại, nếu bạn tìm được nơi phù hợp, bạn không chỉ dễ vào nơi ấy, mà mọi người cũng hạnh phúc khi đón nhận bạn. Bạn sẽ phát triển, bạn sẽ tiến bộ, khi ấy những thứ như sự giàu có hay hạnh phúc sẽ đến như những điều tất yếu, kiểu như “tác dụng phụ.”

    Vậy đấy, tóm lại, điều quan trọng nhất là biết bạn đang ở đâu, biết bạn phù hợp với điều gì và luôn nghĩ về việc tiến lên phía trước. Cứ thế mà làm việc, còn sự hạnh phúc viên mãn, hãy để cuộc đời lo cho bạn.

    Tôi thì đang rất lo lắng chuyện tìm việc.

    Một lời khuyên nữa của thầy cũng đã làm tôi suy nghĩ mãi. Trước khi chúng tôi thi đại học, thầy có nói chuyện, thực ra lại là phần chém gió thường gặp trong các tiết học của thầy, rằng nếu chưa thật sự chắc chắn mình muốn gì, thì hãy dành một năm suy nghĩ, rồi năm sau hãy thi. Một năm, về quê nuôi gà, thả cá, đầu óc thông ra rồi thi gì thì thi. Thực ra, chúng tôi nếu chọn trường nào để thi thì nói chung cũng sẽ đỗ, chỉ có điều đó có phải lựa chọn đúng đắn cho tương lai không thì không ai biết được.

    Đến giờ tôi cũng không biết lựa chọn của mình có phải là đúng không nữa. Tôi đã đi quá xa, gần mười năm rồi. Mà đến giờ lại thấy băn khoăn. Nếu ngày đó, tôi dành một năm ở nhà suy nghĩ, tích lũy thêm vốn sống, đào sâu thêm kiến thức, thì liệu bây giờ có mông lung như thế này không. Học ở những trường tốt nhất nước, tốt nhất châu lục, có phải là tốt không. Tôi không biết. Nhưng rõ ràng, chậm một năm tốt hơn nhiều so với lầm cả một đời.

    Chẳng biết thật sự sẽ thế nào, nhưng rõ ràng nếu tôi tự chủ hơn, nếu tôi chủ động hơn, nếu tôi nghiêm túc suy nghĩ về tương lai hơn, nếu tôi bớt để tâm hơn đến những điều xã hội nghĩ hơn (xã hội, không cần biết mình là ai, không cần biết mình thế nào, cũng sẽ vẫn nghĩ như thế), thì chắc bây giờ sẽ chắc chắn hơn về tương lai. Quay đầu lại lúc nào cũng là bờ, nhưng, sao tôi thấy nuối tiếc như vậy.

    Thầy là Phạm Hùng, giảng viên ĐHKHTN Hà Nội. Có một thầy Phạm Hùng nổi tiếng khác, đừng nhầm với thầy. Khi tôi còn học đại học, thầy mất. Tất cả chúng tôi, và chắc bất kì ai từng may mắn nói chuyện với thầy, đều thấy bàng hoàng.

    Scientific research and mining

    Prof. Le is our Physics teacher at B0. He is also an associate professor of Optics at HUS. He is a typical scientist in the generation that was trained mainly in the socialist sphere, namely USSR.

    One day in the middle of our talk, he said, doing research is very similar to mining. You are destined to discover a lot of gold, if you was lucky enough to start at the right mine, and vice versa.

    I think it is true.

    So, maybe some of our brightest minds are still busy somewhere, just because they haven’t found any gold yet. It doesn’t mean that they are not true geniuses.

    Same for our life, where we are is not only decided by our efforts, but also by where we put our efforts to. It is not you, it is your luck, or in my favorite words, your fate.

    But be sure that you put efforts into it

    Life is a subtraction

    I have heard somewhere, this life resembles a subtraction. You have N days to live, tomorrow only N-1 left. You could meet someone N times, each time you meet, the total number decreases. You could visit that place N times, then next time you go there, remember that you have only N-1 times left.

    You are young, but it doesn’t mean you could do anything, anytime you want. Life is terribly strict, your possibility is terribly limited. Don’t let them fool you, you can do anything, but you cannot do everything that you can do.

    I have lived in Japan more than two years. That was a lot of time. I thought I could do anything I want, but in reality, how many times did I meet my beloved people here? One day, when I was at Itou sensei’s house, I was thinking, “so the number I could meet you has just decreased.”

    Cherish this moment, please. Feel your surrounding. Live at the moment with the person you are talking to. Contemplate the picture you are seeing. This moment is more valuable than anything.

    What makes a genius?

    I will not say that genius is 1% of talent and 99% of effort, it is just a cliché. Yes, every single hard-working person I know has achieved a lot, but it is undeniable that with that same “99% of effort,” someone simply reaches higher than others. Ok, that is the 1%, so what is the mechanism of the 1%?

    Honestly, I don’t know. But I firmly believe that it follow the rule of karma. Feel confused? I mean if someone is unusually good at something, chances are they have done it over and over in their previous life.

    Everyone has a talent, just there are so many people who have no idea what their talent is, I myself included. But don’t you think it is mysterious that someone performed exceptionally well the first time they are exposed to something? I never deny the role of hard work and serious training, it just happened in the previous life.

    The latest prodigy I know is Misha, a child who plays chess with the grand and super grand masters. I am quite sure that he has played chess a lot before his reincarnation.

    In your last life, you must have had some profession. If you are lucky enough to rediscover it when you are small, they will call you a prodigy. If it happens later in life, you are still a genius or at least are well off. If you could not find it, work hard now for this life, and for a brighter next-life.

    The copycat method to learn a new language

    In language learning, copy is an important skill.

    I think if we could simply copy native speakers, our language ability will be improved. So, “copy to study” would make a good method. If you want to see whether it works, let’s try:

    The copycat method

    Purpose: To improve the ability to produce in a target language (output)

    Method:

    1. Take a (arbitrary) good material in a target language.

    What does it mean by “good”? It means you should choose a material whose length, difficulty, etc are suitable to your current level.

    1. Read/listen to the material to get the contents.
    2. Reproduce the contents (by writing or speaking. If you speak, record yourself)
    3. Compare your production with the original.
    4. Repeat step 2 and 3 until you are satisfied.

    There is another method in which practitioner simply learn a material by heart and try to repeat until perfection. It may also works but I haven’t tried it yet.

    A Kanji Course on Memrise

    I have just created a course on Memrise for those who want to learn Kanji:

    https://www.memrise.com/course/5554921/han-zi-woxue-bou/

    This course is suitable for both Vietnamese and English speakers. I believe that it is among the best Kanji courses on Memrise for Vietnamese.

    Mình vừa tạo mới một khóa học Kanji trên Memrise. Mình nghĩ đây là một trong những khóa học Kanji tốt nhất dựa trên SRS dành cho người Việt mà bạn có thể tìm được.

    Why I create the course? Tại sao mình lại tạo khóa học này?

    The most important reason is that before this course, there is no “good” Kanji course on Memrise for Vietnamese. So I have to create one for myself. I want to make the course useful for not only Vietnamese people but also English speakers, thus I added English translation. Now many more people could take the course.

    Cho tới nay mình chưa tìm được khóa học Kanji nào ưng ý trên Memrise dành cho người Việt. Mình muốn một khóa học có phát âm âm on, âm kun, nghĩa, và quan trọng nhất là âm Hán Việt, nhưng không thể tìm được. Vì thế mình đã tạo khóa học này. Mình nghĩ nó sẽ giúp ích được cho nhiều bạn khác.

    What are the merits of this course? Những điểm tốt của khóa học này là gì?

    This course has two main advantages over the existing ones: Khóa học này có hai ưu điểm quan trọng so với các khóa học khác trên Memrise:

    i) All On-yomi and Kun-yomi are provided. Actually you need to install an extension on Chrome to listen to the yomi, but it is simple. Please follow the instruction here: https://github.com/cooljingle/memrise-audio-provider/blob/master/README.md
    So I advise you to use Chrome on PC. Otherwise, you can only see the on and kun-yomi and will not be able to hear them spoken. There exist other courses claiming that they provide all pronunciation, but in those courses, which I have tried, many pronunciations are missing.

    i) Bạn có thể nghe tất cả các cách đọc On-yomi và Kun-yomi của các chữ Hán. Thực ra bạn cần cài đặt thêm một extension trên Chrome, nhưng việc cài đặt đó rất dễ, chỉ cần làm theo hướng dẫn tại đây: https://github.com/cooljingle/memrise-audio-provider/blob/master/README.md
    Nếu bạn muốn học khóa này, tốt nhất bạn nên dùng Chrome trên máy tính. Nếu không, bạn sẽ nhìn được cách đọc nhưng sẽ không nghe được phát âm. Một vài khóa học khác tuyên bố họ có tất cả phát âm, nhưng khi thử thì mình thấy họ thiếu rất nhiều.

    ii) You can see all the meanings in English and Vietnamese when studying or revising. Some other courses only show one meaning, which is not good for studying Kanji as we know one Kanji may be used in various situations with different meanings.

    ii) Bạn sẽ luôn nhìn thấy âm Hán và nghĩa khi học và ôn tập. Một vài khóa học khác chỉ có một nghĩa, hoặc chỉ có âm Hán mà không có nghĩa. Mình thấy điều đó bất tiện nên đã tạo ra khóa học này. Một lợi ích khác là khi bạn quen với âm on và âm kun, bạn có thể không chỉ hiểu nghĩa mà còn đọc được những từ ghép chữ Hán bạn chưa từng nhìn thấy bao giờ. Ngoài ra, bạn có thể đối chiếu với nghĩa tiếng Anh.

    Some notes. Một vài lưu ý.

    This course is created and maintained by only me. I tried my best but maybe there are still some mistakes. If you find any, please comment here to let me know. Mình là người duy nhất duy trì khóa học này nên mặc dù mình đã cố gắng, có thể vẫn có lỗi trong khóa học. Nếu bạn phát hiện lỗi nào, xin hãy comment ở đây để mình được biết.

    This course introduces 2140 Kanji characters, it covers all Kanji you need for JLPT or studying in Japan. Khóa học này giới thiệu 2140 Hán tự, đủ các bạn trong tất cả các kỳ thi JLPT và trong cuộc sống ở Nhật nói chung.

    The order is not JLPT order, but the order in which Japanese kids learn Kanji. I think it is natural and good for most people. For beginners, I recommend studying in this order. For more advanced learners, if you don’t like it, you can ignore any words and come back later. Actually I am skipping a lot of low-grade Kanji and ignored a lot of Kanji in the course. At first, I ignore all the Kanji, then I reactivate only the Kanji I want to learn. There is only one level, so sometimes it would be slow. Sorry for that inconvenience. Thứ tự xuất hiện của Hán tự trong khóa học này không phải là thứ tự theo JLPT mà là theo thứ tự trẻ em Nhật học Hán tự. Mình tin là thứ tự đó là tự nhiên và tốt cho các bạn mới học. Nếu bạn đã học lâu rồi bạn có thể bỏ qua các chữ bạn không muốn học (Memrise có chế độ bỏ qua các từ không muốn học). Với mình thì đầu tiên mình bỏ qua tất cả các chữ Hán, sau đó chọn học những chữ mình muốn học. Khóa học này chỉ có 1 level và hơi nặng nên thỉnh thoảng sẽ bị chậm. Xin lỗi các bạn về điều đó nhé.

    This course test on On-yomi and Kun-yomi. It is extremely difficult to type those readings, so I disable that function. You can learn without typing at all. For some people, it is a good point, for others, it may be a bad point. Anyway, I hope the course is helpful for you. Trong khóa học này các bạn sẽ bị hỏi cách đọc. Rất khó để đánh máy tất cả các cách đọc nên mình đã tắt chức năng đó. Có thể một số bạn sẽ thích khi không phải đánh máy, một số bạn sẽ không thích. Dù sao mình cũng mong khóa học này hữu ích với các bạn.

    Finally, the course avatar is me writing my very first Kanji when I was in Niigata 5 years ago in a trip sponsored by the Japanese government. I was writing “Warm Family.” It was a really nice memory. I did not know that several years later I would come back to Japan and start this journey. I hope that you make good progress with your Kanji study and Japanese in general, and create your own great memories here in Japan.

    Cuối cùng, avatar của khóa học là hình mình chụp 5 năm trước ở Niigata khi mình viết những chữ Hán đầu tiên trong đời: “Gia đình ấm áp.” Chuyến đi 5 năm trước là một kỉ niệm rất đẹp. Mình không biết là vài năm sau mình sẽ quay trở lại và bắt đầu một hành trình mới ở Nhật. Mình chúc các bạn học tốt tiếng Nhật và tạo ra những kỷ niệm tuyệt vời của chính bạn ở đất nước tươi đẹp này.

    「分かる」の使い方がよく分かっていますか

    私は「分かる」の使い方がよく分かっていないと思います。
    昨日、私は先生と日本語を勉強していました。「分かる」の使い方について話しました。


    この言葉は、違う形で使うと、違う意味になります。
    例えば、指示を聞いている時に、「分かっています」と言うと、ちょっと失礼になります。それは、「もういいです。私は前から知っていますよ。」という意味になります。

    何か質問して、答えを聞いた時に、「分かりました」というのはふさわしい表現です。外国人は時々、その場合に、「分かります」と言います。だけど、「分かります」はほかのことを意味します。相手の話を聞いて、相手の感情が分かったとき、「分かります」と言います。「あなたに同感です」という意味です。


    また、「分かりません」と「知りません」は著しく異なります。例えば、道で、誰か道を尋ねられたとき、行き方が分からない場合、「分かりません」と答えるのが普通ですが、「知りません」と答えたら、「私は分かりません。そのことに関心がありません。」という意味です。その場合、「知りません」はちょっと冷たく失礼な表現になりますね。

    Tài liệu học tiếng Việt

    Gần đây mình biết trang web của chị Thảo, một người nước ngoài đã từng sống và làm việc ở Việt Nam. Có vẻ như chị có tình yêu đặc biệt dành cho Việt Nam và rất quan tâm đến việc học tiếng Việt. Trên trang web của chị có liệt kê nhiều nguồn mà theo mình là tốt để học tiếng Việt, ngoài ra còn có phần mềm, bộ gõ, từ điển, study guide. Các bạn hãy tham khảo ở đây nhé:

    Vietnamese for fun!

    Today I would like to recommend a Memrise course for Vietnamese learners:

    Vietnamese for fun – Beginner + Intermediate!

    I think this is a well structured course for those who speaks English and are serious with studying Vietnamese. The course is created by Eriinnye, a multilingual veteran on Memrise. Eriinnye’s husband is Vietnamese, maybe that is why she is interested in the language in the first place, and the contents of the course are also verified by native Vietnamese speakers. As of the time of this blog post, there are already 140 levels on the course. I would say that the levels were created with care and are helpful for Vietnamese learners. If you are interested in studying Vietnamese on Memrise, you should definitely give it a try.

    I would also like to digress a little bit. Recently I answered some interesting questions about Vietnamese on Hinative, and when the OP asked me for permission to include an answer of mine to her Memrise course, I happily allowed she to do so and then logged in to Memrise to see the course. To my surprise, I had already followed her on Memrise all along! Years ago when I was studying English intensively at ULIS, I followed several high scorers on Memrise. Just seeing their scores increasing on my leaderboard motivated me to study harder. I have already followed the OP since that time, and she is no one other than Eriinnye. This is indeed a small world!

    今日は金曜でしたね

    ラアナアさん(アメリカ人)と岡田さんと田中さんは、先週の金曜日の夜、ビールを飲みに行きました。彼らは楽しく会話していて、岡田さんはラアナアさんに聞きました:

    らあなあさんには、妹さんがいましたね。

    「いました」というプレースを聞いたら、ラアナアさんはびっくりして、しばらく話せませんでした。「なぜ岡田さんは過去形をつかっている?僕の妹はまだ生きているのに」とラアナアさんは思いました。岡田さんは平気に見えました。田中さんは、ラアナアさんにはマガレットという妹さんがいるといっていました。それから、岡田さんは再び尋ねました:

    おいくつでしたか。

    なぜ過去形を使われるのが分からないけど、らあなあさんは、同じ形を使った方がいいと考えて、こう返事しました:

    十八でした。

    次に、驚いたのは岡田さんです。田中さんは、なぜ「十八です」と返事しなくて、「十八でした」と返事したかラアナアさんに聞きました。田中さんは、マガレットさんがまだ生きているかどうか迷っていました。

    ***

    日本人は、以前聞いたことを確認したいとき、過去形を使います。それで、記憶に自信がない時、こういう言い方をします:

    今日は金曜日でしたね。

    あの人、眼鏡をかけていましたね。

    似たように、誰かの名前を忘れた場合、こう話します:

    失礼ですが、何方でしたか。

    「失礼ですが、何方ですか」と言ってしたら、初めて会うということです。

    時々、話者が自分の記憶を確認したいことを明確にするため、「っけ」を過去形のうしろにつけます:

    今日は金曜日でしたっけ。

    何方でしたっけ。

    (日本語ノートからの翻訳)

    The shuttle bus driver

    The other day I took the university shuttle bus to Yoshida campus to study Japanese with Takeda sensei. Every time before the bus left a stop, the bus driver (maybe a new one, I hadn’t seen him before) got out and looked around. I haven’t seen other drivers do that.

    I remember the first time I used the bus, Sajid san warned me that I had to be on time because the bus would leave at exactly the scheduled time. There were times I was almost late for the bus and running toward it right before it left the stop.

    After all, this is Japan and that day I met a driver who is a little more Japanese than the others.

    。。。てしまった

    Anh Lerner để ý thấy người Nhật thường nói . . . ちゃった. Sensei của anh giải thích rằng đây là dạng rút gọn của . . . てしまった và có nghĩa việc gì đó được thực hiện hoàn toàn. Anh Lerner muốn dùng cấu trúc này, vì thế khi nói về chuyện kết hôn của cô Aoyama với anh Tanaka, anh nói:

    青山さんが結婚しちゃったそうです。

    Nghe vậy anh Tanaka nhìn anh Lerner và hỏi có phải anh đã muốn lấy cô Aoyama không.

    :))

    Có thể người Việt chúng ta sẽ không mắc lỗi này, vì chúng ta được học rằng cấu trúc てしまった có nghĩa là “đã … mất rồi,” tức là tự cấu trúc này đã có nghĩa thất vọng, nuối tiếc. Anh Lerner muốn nói:

    Nghe nói cô Aoyama đã kết hôn rồi.

    Nhưng khi sử dụng cấu trúc trên, thì người Nhật sẽ hiểu rằng anh ấy muốn nói:

    Nghe nói là Aoyama đã kết hôn mất rồi.

    Với hàm ý anh ấy cảm thấy tiếc nuối về việc ấy. Vì thế, một cách tự nhiên, anh Tanaka sẽ băn khoăn có phải anh Lerner có tình cảm gì với chị Aoyama không.

    Khi học ngoại ngữ, các bạn hãy chú ý những sắc thái nghĩa thế này nhé, đơn giản mà ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình đấy :).

    どちらへ

    日本語とベトナム語は共通点が多いです。

    例えば、この間、Lang-8である日本人の友達は、日本人はビルが食べられるらしいと冗談にいっていました。なぜならば、日本語では、こういう表現があります:「そのレストランは美味しい」。欧米人にとっては、変な表現です。レストランは食べられないので、「レストランは美味しい」というのは意味をなさないです。ところが、ベトナム人にとっては、「レストランが美味しい」の表現が全然大丈夫です。ベトナム語で同じ表現がありますから。

    また、日本人の親しい人に対する呼び方も欧米人にとっては変に感じるそうです。お母さんは長女を「お姉ちゃん」と呼んだり、旦那さんを「お父さん」と呼んだりするのは、分かりにくいでしょう。でも、ベトナム人にとっても、それは普通です。同じ呼び方を使っていますから。

    最後は、時々、外で会ったとき、日本人は時々「どちらへ」と聞きます。欧米人は、そう聞かれたら、多分「それは私のプライバシーのことでしょう」と思います。「なぜそのような質問をするのか。」と思うかもしれません。返事をするとしたら、多分具体的な場所を言います。実は、それは挨拶みたいです。「ちょっとそこまで」と答えるのが普通です。このような文化は、ベトナムでもあります。

    日本語を勉強するのは難しいですが、このようなことを発見するのは、面白いと思います。

    「こんにちは」と「お早うございます」の違いは何ですか?

    簡単な質問でしょうね。「お早うございます」は、朝だけに使われます (仕事場以外)(*)。そうと思っていますか?それは正しいですが、上記の挨拶の表現の違いは、そういう事だけではありません。

    ほかにも大きな違いは、「お早うございます」は誰にでも使えます。例えば、あまり知らない人、上司、友達、家族のメンバー(親しい間柄の場合は、「お早う」と言います)。しかし、「こんにちは」は親しい人には言いません。

    (*)仕事場で、「お早うございます」は先に入た人に良く言います。一日中仕事があるところ、夜でも「お早うございます」と挨拶します。(My thanks go to Taka san on Lang-8 for his comment on this usage of おはようございます。)

    Sức mạnh của ngôn từ

    Tại sao là từ này mà không phải là từ khác?

    Có bao giờ các bạn băn khoăn tại sao người ta gọi một thứ bằng từ này, mà không phải từ khác? Chẳng hạn, tại sao gọi quả táo là “táo”?

    Mình từng nghĩ là chẳng có lý do gì cả, đó chỉ là sự tình cờ của số phận mà thôi. Ngẫu nhiên khi gặp vật gì đó người ta phát ra âm đó, và nó trở thành cái tên.

    Nhưng không phải vậy. Mỗi từ được gán nghĩa gì đó là có lý do (1). Hơn thế nữa, ngay cả thứ tự hình thành ngôn ngữ cũng không phải ngẫu nhiên (2). (Ví dụ, trong các ngôn ngữ thì từ “màu đỏ” nói chung xuất hiện trước từ “màu xanh da trời”. )

    (2) là kết quả nghiên cứu. Các bạn có thể google để tìm hiểu. Còn (1), mình muốn lấy một ví dụ đơn giản để giải thích. Đây là một ví dụ kinh điển:
    Bạn có hai từ “kiki” và “bouba” và hai hình, một hình có những nét cong và “béo”, một hình toàn những góc cạnh. Nếu phải ghép từ với hình tương ứng, bạn sẽ chọn từ nào cho hình nào?

    Booba and Kiki shapes

    Kiki and Bouba effect. Source: Wikipedia

    Đại đa số người được hỏi câu này trả lời có cùng một cách ghép hình với từ. “kiki” được ghép với hình góc cạnh, “bouba” được ghép với hình phúng phính. Bạn có nghĩ rằng do một sự ngẫu nhiên mà hầu hết mọi người có cùng sự liên tưởng khi nghe một từ không?

    Không, đó không phải là ngẫu nhiên. Lý do người ta có cùng lựa chọn là vì với đại đa số mọi người, các âm nhất định gợi ra những cảm xúc nhất định. Nói cách khác, từ ngữ không phải được lựa chọn một cách ngẫu nhiên mà đầu tiên là được dựa trên cảm giác của con người.

    Một cách đơn giản, nếu ai đó hỏi bạn tại sao muối lại mặn, có một cách trả lời thế này: Lý do giống như lý do cá biết bơi. Thứ tinh thể màu trắng ấy có vị mặn, câu hỏi là tại sao nó lại được gọi là muối. Lý do đâu có khác gì lý do người ta chọn tên cá cho những sinh vật biết bơi kia.

    Từ ngữ không chỉ là những âm thanh vốn dĩ vô nghĩa được gán ngẫu nhiên một ý nghĩa nào đó, mà bản thân nó vốn đã có khả năng khơi gợi những cảm xúc, cảm giác của con người. Những lời của bạn không chỉ đi vào tâm trí người nghe, chúng còn sẽ đi vào trái tim của họ.

    Ngôn từ có thể thay đổi bạn. Nếu bạn nghe một lời nói dối đủ nhiều, rồi một ngày bạn sẽ tin nó. Nếu bạn tự khuyến khích mình đủ nhiều, rồi một ngày bạn sẽ tự tin giống như bạn tự nhủ về mình.
    Những nhà độc tài thường kiên nhẫn với việc nói dối. Người bình thường thì không được kiên nhẫn như vậy khi nghĩ những điều tốt đẹp về bản thân. Đó là một điều đáng tiếc.

    Những gì bạn nghe đi nghe lại, những gì bạn luôn nghĩ trong đầu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của bạn.

    Một blogger mà mình từng theo dõi dùng mục tiêu của anh ta để tạo mật khẩu. Anh ấy làm việc ở Microsoft và theo chính sách bảo mật của công ty thì cứ vài tháng một lần anh phải thay đổi mật khẩu một lần. Thay vì những mật khẩu vô nghĩa nhưng thỏa mãn các yêu cầu bảo mật (chữ, số, ký tự, viết hoa, viết thường, etc.), anh ấy tạo ra những mật khẩu kiểu thế này:
    travel2Thailand
    get1Promotion
    strive@NewProject

    Những mật khẩu như vậy giống như lời nhắc nhở, động viên đối với anh ấy. Và với mật khẩu travel…, quả thật sau vài tháng anh ấy đã cố gắng tới được Thailand thật :). Mình thấy cách đó rất hay và đã áp dụng cho rất nhiều tài khoản của mình.

    Nếu bạn đã từng đọc hoặc nghe The Secret, bạn sẽ biết về thuyết cho rằng chỉ cần bạn suy nghĩ về những gì bạn muốn có, những gì bạn muốn trở thành, sau khoảng 6 tháng bạn sẽ bắt đầu thấy sự thay đổi, và cuối cùng ước muốn của bạn sẽ thành sự thật. Mình đã không áp dụng những điều trong The Secret, và chưa thấy cuộc đời mình thay đổi. Tuy thế, không ai có thể phủ nhận rằng nếu như những gì bạn nói ra thuộc về một cuộc hội thoại với người khác, thì những điều bạn tự nghĩ thực ra là cuộc đối thoại giữa ta và cả vũ trụ. Bạn muốn nhận câu trả lời như thế nào từ vũ trụ?

    Và cuối cùng, ngôn từ có những sức mạnh huyền bí có thể biểu thị ngay lập tức, chứ không cần nhiều tháng nhiều năm như được miêu tả trong The secret. Mình từng đọc hồi ký của một đạo sư Yogi. Ông có kể về một trải nghiệm thời thơ ấu, khi ông nói rằng tay chị gái ông bị bầm tím (bị thương, hay tương tự như vậy, mình không nhớ chắc chắn nữa), chị gái ông thấy như thế thật, dù trước đó người chị chẳng làm gì cả và đó chỉ là một lời nói dối của ông. Mẹ ông biết chuyện này, và cũng biết về sức mạnh của ông. Bà nói với ông rằng ngôn từ có một sức mạnh khủng khiếp, đừng lạm dụng nó.

    Bạn không phải là một đạo sư Yogi, bạn không tu luyện từ nhiều kiếp trước, nhưng ngôn từ của bạn chắc chắn cũng có sức mạnh. Những lời cay đắng của bạn có thể không giết chết một ai đó ngay được, nhưng chắc chắn cũng xuyên thẳng vào trái tim của họ. Không đau như mũi dao của một đạo sư, nhưng chắc chắn làm người khác đau đớn, theo nghĩa đen.

    Ngược lại, những lời tốt đẹp của bạn có thể làm ai đó hạnh phúc, thậm chí thay đổi cuộc đời của họ. Xin hãy ghi nhớ điều ấy nhé.

    ***

    Tái bút: Nếu bạn yêu mến những bài viết trên trang này, đừng bookmark nó. Hãy gõ địa chỉ bằng tay. Địa chỉ của trang web này, thực ra, là trích đoạn thơ của thầy Thích Nhất Hạnh. Đó là một trong số những lời có thể có ảnh hưởng tốt đẹp nhất đến cuộc sống mà mình được biết.

    Kinh nghiệm apply giải thưởng Honda Y-E-S

    Giải thưởng Honda dành cho Kỹ sư và Nhà khoa học trẻ Việt Nam (English: Honda Y-E-S Award, 日本語:本田奨励賞, not to be confused with Honda Award, a prestigious award for prominent scientists with substantial contribution to humanity) là một giải thưởng thường niên được trao cho sinh viên sắp tốt nghiệp đại học hoặc tân cử nhân, kỹ sư từ một số trường đại học danh tiếng của Việt Nam. Giải thưởng được khởi động từ năm 2006, mỗi năm được trao cho 10 ứng viên sau ba vòng xét duyệt (hồ sơ, viết luận, phỏng vấn) được thực hiện bởi Quỹ Honda (Honda Foundation – HoF) và Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học Công nghệ Việt Nam (NISTPASS).

    Năm 2016, VNU-UET tổ chức một buổi giới thiệu về giải thưởng. Vì may mắn là một trong số cựu sinh viên UET đoạt giải và còn ở Việt Nam tại thời điểm đó nên mình đã tham gia buổi giới thiệu và chia sẻ kinh nghiệm đó. Mình muốn ở lại tới cuối cùng nhưng có việc không thể ở lại. Sau đó mình đã đăng một bài trên fb về quá trình apply giải thưởng này. Cách đây một vài tuần, một em ở UET lại like cái post đó (nhắc mình nhớ ra mình đã từng viết nó 🙂 ). Mình thấy bài viết đó có ích, nhưng đã trôi quá xa trên trang fb chính thức của giải thưởng. Có thể nó sẽ có ích cho bạn nào đó muốn apply sau này nên mình xin phép copy lại ở đây:

    ===

    Hôm nay mình về sớm nên không nói chuyện được nhiều với các bạn apply năm nay. Mình muốn chia sẻ thêm một vài điều mà mình nghĩ sẽ có ích cho các bạn trong quá trình chuẩn bị.

    1. Nên xác định điều gì là quan trọng để dành công sức vào đó.

    i) Nội dung thì quan trọng hơn hình thức

    Hôm nay một số bạn hỏi về những chi tiết để hồ sơ đẹp, mình thấy đó không phải việc quá cần thiết. Hồ sơ làm cẩn thận thì sẽ thể hiện một góc nào đó tính cách của các bạn và sự tôn trọng của các bạn với người duyệt hồ sơ, tuy nhiên thang điểm rất sinh động, rõ ràng và chắc chắn (gần như chắc chắn, vì không có gì trên đời chắc chắn cả) là không có điểm cộng.

    Nếu bạn có một giải thưởng lớn khủng khiếp thì có nhiều khả năng bạn được đánh giá cao hơn một bạn có nhiều giải thưởng bình thường, dù bạn ấy trình bày rất rực rỡ, nên nội dung bộ hồ sơ thì quan trọng hơn.

    Mặc dù vậy, nếu các bạn chất núi giấy tờ của mình trong túi hồ sơ 25*34 phổ thông thì người xét duyệt hẳn sẽ thấy buồn. Đừng làm thế.

    Khi viết application form thì các bạn nên viết đủ ý. Câu nói yêu thích hay, hoặc lý do tham gia giải thưởng lâm ly có lẽ không mang về điểm cộng. Năm trước mình nộp form hai lần, lần thứ hai phần lý do chỉ có một dòng. Hồ sơ không có giấy tờ nào đính kèm thêm nhưng may mắn vẫn qua.

    Tóm lại về điểm này là khi chuẩn bị hồ sơ thì các bạn hãy trình bày rõ ràng và thể hiện bản thân ở chất lượng bộ hồ sơ.

    ii) Vòng viết luận và vòng phỏng vấn thì nên chuẩn bị sớm và chu đáo hơn vòng hồ sơ.

    Chỉ dựa vào điểm số thì hai vòng này đã rất quan trọng, tuy nhiên điểm mình muốn nhấn mạnh là hai vòng này các bạn có thể dựa vào thực lực hiện tại, chứ không phải dựa vào quá khứ như vòng trước. Từ ngày các bạn quyết định nộp hồ sơ đến ngày “thi”, hồ sơ của các bạn không mạnh lên được nữa nhưng các bạn thì vẫn có thể. Vì thế, hãy luyện tập để có thể làm tốt nhất cho các vòng tiếp theo.

    Về vòng thi viết, hãy luyện viết nghị luận bằng cách đọc sách và các bài luận (nếu các bạn đã luyện thi thì hãy đọc GRE AW). Nên đọc ở các nguồn tốt, và đọc nhiều hơn viết (nghiên cứu khoa học nào đó đã chỉ ra rằng chừng nào chúng ta đọc nhiều mà còn thấy mình viết tốt hơn thì chừng đó đọc vẫn quan trọng hơn viết trong việc phát triển khả năng viết). Đọc như vậy cũng giúp các bạn có tư duy rõ ràng, sâu sắc và đặc biệt là trong sáng hơn. Điều này sẽ mang lại cho các bạn nhiều điều hơn là chính giải thưởng HYES có thể mang lại cho các bạn trong tương lai. Biết đề thi thế nào không hạnh phúc bằng tự tin rằng mình có thể làm tốt dù đề thi có thế nào.

    Về vòng phỏng vấn, theo mình cách chuẩn bị tốt nhất là luyện tập khả năng ứng đáp (thinking on your feet, under pressure) và thật sự nói (chứ không luyện tập bằng cách nghe được), vì cái này liên quan đến cơ bắp. Tổ chức cơ của một người nói rõ ràng và tự tin khác với người hay nói thầm, cũng như cấu trúc não của người tư duy trong sáng thì khác với người tư duy mờ ảo. Ngày trước mình không luyện tập nhiều, cũng không hiểu rõ những điều này nên có vòng phỏng vấn mà lẽ ra có thể tốt hơn, khá tiếc. Nếu xét về giá trị (khoảng 1/3 điểm đánh giá) trên thời gian (khoảng 15 phút) thì đây là vòng đáng để các bạn cố gắng nhất.

    2. Tự tin làm điều các bạn cho là đúng.

    Điều này có nghĩa là trong quá trình đến với giải thưởng, đôi lúc có những điều đi ngược lại với lương tâm, lý trí và tình cảm của các bạn nhưng lại được cho là đúng đắn, khi đó (mình khuyên) các bạn nên làm điều đúng với các bạn.

    Ví dụ, một anh awardee bảo các bạn rằng hồ sơ không cần trau chuốt, nhưng bạn nghĩ phải làm hồ sơ thật cẩn thận, thật hoàn hảo, để người duyệt cũng thấy cảm động vì công sức và tâm huyết của mình, thì bạn hãy làm như bạn nghĩ. Anh awardee chỉ khuyên thôi, anh ấy không biết ủy ban quản lý giải thưởng thực sự nghĩ gì về hồ sơ.

    Nếu bạn thấy có một số giấy khen, giải thưởng không cần thiết nhưng bạn bè khuyên rằng nên đưa vào để tăng trọng lượng bộ hồ sơ, đừng nghe. Nếu bạn thấy một số giấy khen, giải thưởng sẽ giúp tăng sức nặng bộ hồ sơ của bạn, nhưng bạn bè nói rằng nó buồn cười, đừng đưa vào, thì bạn cũng đừng nghe. Vì giải thưởng là của bạn.

    Nếu bạn thấy đề bài viết luận bắt bạn chứng minh rằng một quan điểm là đúng nhưng bạn nghĩ nó sai, thì đừng băn khoăn khi viết những gì bạn nghĩ. Bạn chỉ cần chắc chắn rằng bạn viết rõ ràng và thuyết phục. Năm ngoái có ít nhất hai người đoạt giải không “chứng minh đề bài đúng”.

    Nếu người phỏng vấn bạn là một chuyên gia trong lĩnh vực mà bạn đang làm và bác ấy cố làm thay đổi suy nghĩ của bạn về nghiên cứu bạn đang theo đuổi, hãy cho bác ấy cơ hội làm thế. Sau đó bạn có thay đổi không là tùy ở bạn, nhưng chuyện đó phản ánh con người của bạn, và điều này tới lượt mình thể hiện lên điểm vòng phỏng vấn của bạn. Lời khuyên của mình trong mọi tình huống là nếu bạn thấy đúng thì đừng ngại làm.

    Hôm nay mình chia sẻ tới đây thôi. Lời cuối, nếu có một anh awardee khuyên gì bạn thì đó là vì anh ấy tin rằng điều đó là đúng, và anh ấy muốn tốt cho bạn, chứ thực ra anh ấy không liên quan gì tới (và không biết cách thức làm việc cũng như suy nghĩ của) ủy ban xét duyệt giải thưởng đâu.

    ===

    Tái bút: Nếu bạn giành được giải thưởng này, bạn sẽ thấy mình rất may mắn. Bạn sẽ trở thành thành viên của một gia đình ưu tú, những người mà bạn có thể học hỏi, hợp tác, chia sẻ nhiều thứ trong tương lai. Nếu bạn ở Nhật Bản, bạn cũng sẽ được HoF chăm sóc rất chu đáo. Một điểm nữa cũng đáng quan tâm là các giáo sư cũng đánh giá cao giải thưởng này. Đã hơn một lần thầy của mình, một nhân vật có tên tuổi trong làng Robotics, nói với mình: “You are the winner (of Honda Y-E-S Award), you are excellent.” Mình có hai tiền bối đã tốt nghiệp ở Deakin, anh chị ấy có kể trong một buổi giao lưu rằng khi nói mình được giải thưởng Honda Y-E-S, giáo khi đó đã hỏi “So you are among top ten of Vietnam?”, và giáo rất ấn tượng về điều đó. (Thực ra thì mình không nghĩ được giải nghĩa là nằm trong top 10, vì có một số ngành và rất nhiều trường không thể tham gia giải thưởng. Nhưng dù sao nó cũng phản ánh phần nào về người được giải.) Giờ nghĩ lại năm đó nếu không phải nhờ chị Lã Thảo, rất có thể mình đã không apply, không có giải, không biết những anh chị em ở đây, và có thể sẽ không được nhận vào Kyodai. Mình cảm thấy biết ơn chị ấy.

    覚える

    Một điểm hay gây ra nhầm lẫn cho người học tiếng Nhật là động từ ở các thời khác nhau có thể mang nghĩa khác nhau. Điều này rất khác với tiếng Việt hay tiếng Anh, khi mà động từ dù ở thời hay thể nào thì nghĩa cũng không thay đổi.

    Ví dụ cơ bản về điểm này là động từ “覚える”. “覚える” và “覚えている” có nghĩa khác nhau. Nghĩa của chúng, theo thứ tự là ghi nhớ (nỗ lực đưa thông tin vào trí nhớ để sử dụng về sau – memorize) và nhớ (tái hiện trong trí điều đã được cảm nhận, ghi nhớ, hoặc chỉ trạng thái đã được ghi nhớ – remember).

    Điều này có nghĩa là bạn có thể hiểu “覚える” và “覚えている”  là hai từ khác nhau và sử dụng trong các tình huống khác nhau.

    Khi bạn nói việc học Kanji là khó khăn, bạn sẽ dùng từ nào? Câu trả lời là

    漢字を覚えるのは大変です。

    Khi bạn nói bạn nhớ một thông tin gì đó, bạn sẽ dùng từ nào? Ví dụ: Tôi không còn nhớ tên bác sỹ đó nữa.

    その先生・医者の名前をもう覚えていません。

    Nếu trong trường hợp này bạn nói

    その医者の名前を覚えません、

    câu đó được hiểu là bạn sẽ không cố gắng nhớ tên của bác sỹ đó, có thể vì bạn không thích bác sỹ đó, hoặc vì một lý do nào khác mà không muốn ghi nhớ cái tên, chứ không phải đơn giản là không nhớ.

    Trong trường hợp nói vẫn còn nhớ gì đó, chúng ta dùng “覚えている”

    Khi muốn nói không còn nhớ gì đó, thường thì 忘れました được sử dụng

    Nếu chúng ta muốn nhắc ai đó ghi nhớ gì đó, thường chúng ta nói:

    忘れないでください。

    Khi nhắc ai đó làm việc gì đó, chúng ta cũng dùng từ này:

    早く買い物に行くのを忘れないでください。

    Một từ gặp ở sơ cấp cũng có nghĩa khác khi ở dạng hiện tại là 知る. Nếu bạn biết gì đó, bạn nói 知っています。Ví dụ:

    田中さんのことを知っていますか?

    知っています。

    Nếu bạn không biết, bạn nói:

    知りません。

    Nếu bạn nói 田中さんを知っていません、nghe sẽ hơi kỳ quặc một chút, dù có thể hiểu được.

    Một số bạn có thể nghĩ 知る và 分かる có nghĩa giống nhau, cũng như 知りません và 分かりません có nghĩa giống nhau. Không phải như vậy. Nếu ai đó hỏi bạn gì đó mà bạn không biết, hãy trả lời 分かりません。Hãy xem một ví dụ dưới đây.

    スーパーで

    Aさん:あのー。。。すみませんが、リンゴを買いたいんですが。。。果物売り場は。。。

    Bさん:すみません。私も分かりません。-> câu trả lời phù hợp và lịch sự khi bạn không biết.

    cさん:すみません。しりません。-> câu trả lời này không phải không lịch sự nhưng rất lạnh lùng. Ý nghĩa của nó giống như: Rất tiếc, tôi không biết. Đó cũng không phải là chuyện của tôi và tôi không quan tâm.

    Các bạn hãy lưu ý nhé.

    Trong bộ sách Nihongo Notes nổi tiếng cũng có một trang viết về từ 覚える này. Nếu có thể các bạn nên tìm đọc.

    さようなら

    Tự nhiên mình cảm thấy trống vắng và muốn làm gì đó. Ngày xưa khi viết mình cảm thấy hạnh phúc hơn, viết là một trong số những việc mà mình có thể chìm đắm vào và quên hết mọi thứ xung quanh. Mình đã tìm trong số rất nhiều blog, public and private alike, của mình và thấy blog này là nơi mình có thể viết tiếp.

    Ở đây mình sẽ viết về việc học tiếng Nhật, tiếng Anh, chơi đàn, về kinh nghiệm thực tập theo một số người thầy mình may mắn được biết và thọ giáo. Đôi lúc mình có những suy nghĩ bất chợt mà mình nghĩ là thú vị, mình sẽ ghi lại ở đây, hy vọng có ai đó sẽ thấy hay. Hơi lạ nhưng mình không có ý định viết về lập trình, MRS hay tối ưu. Mà có lạ không…

    Hôm nay hãy nói về tiếng Nhật. Có một từ tiếng Nhật hay được dùng và thậm chí phổ biến trong một vài ngôn ngữ khác, đó là “さようなら”. Điểm thú vị là, nó phổ biến nhưng là bị dùng sai một cách phổ biến.

    “さようなら” không có từ tương ứng trong tiếng Việt hay tiếng Anh. Chuyện này rất hay gặp khi chúng ta cố gắng dịch giữa các ngôn ngữ không quá gần nhau. Chúng ta chỉ có thể dựa vào văn cảnh mà đưa ra cách dịch phù hợp nhất, chấp nhận mất đi một số nét nghĩa (this is called “lost in translation”). Nói một cách ngắn gọn, từ ngữ mang trong nó các yếu tố về văn hóa và nếp nghĩ của một dân tộc. Chúng ta cố gắng dịch từ ngữ, nhưng còn dịch cả một nền văn hóa… Nếu các ngôn ngữ gần nhau, chúng ta dễ dàng có được bản dịch tốt. Ngôn ngữ càng xa, sự khác biệt càng lộ rõ trong các bản dịch.

    “さようなら” không chỉ có nghĩa là “good bye” hay “farewell”, không chỉ có nghĩa là “tạm biệt” hay “vĩnh biệt”, nó có thể có bất kỳ nghĩa nào trong số đó, tùy hoàn cảnh. Khi bạn nói “さようなら” với người mới gặp, có thể ý bạn là ngày mai có thể gặp nhau. Khi bạn nói từ đó với một người bạn, có thể đó là khi người bạn của bạn sắp đi đâu đó một thời gian có thể lâu mới gặp lại. Khi bạn nói “さようなら” với vợ hoặc chồng, nó giống như bạn tuyên bố chia tay và có thể không bao giờ giờ gặp lại. Nếu một cô bé người Nhật nói “さようなら” với mẹ, bà mẹ có thể hốt hoảng vì nó gần như có nghĩa cô bé muốn bỏ nhà ra đi. Có từ nào trong tiếng Việt của chúng ta diễn tả tất cả những ý đó không? Không, chúng ta dùng các từ khác nhau để dịch “さようなら” trong các tình huống khác nhau.

    Có thể hiểu đơn giản là khi bạn nói “さようなら” với người càng thân thuộc, thời gian cho tới cuộc gặp sắp tới càng dài.

    Sayonara

    Nếu biểu diễn bằng đồ thị thì đại khái bạn có thể hiểu như hình trên. Với người vô cùng thân thiết mà bạn nói “さようなら”, có thể hiểu là bạn nói “Vĩnh biệt”

    Khi còn là research student ở KU, mình có tham gia Get Together do HoF tổ chức ở Tokyo-Tochigi. Lần đó sự kiện kéo dài hai ngày nhưng vì bận công việc nên một số người phải về sớm. Khi một chị người Campuchia đang làm việc ở đây phải về, mình đã nói “さようなら”. Chị ấy nhìn mình sửng sốt: “So we won’t meet again?” Chị ấy đã coi nhóm Awardee là một gia đình.

    Đồ thị trên có thể có một số ngoại lệ. Chẳng hạn, khi kết thúc buổi học, thường giáo viên và học sinh sẽ chào nhau bằng “さようなら,” không cần biết lớp học thân thiết đến thế nào. Đây lại là một điểm nữa khiến cho việc dịch sát “さようなら” trở nên khó. Trường hợp này nó đơn giản nghĩa là “Good bye” hoặc “Tạm biệt.” Mình học piano ở nhà của  伊藤先生. Mỗi khi mình về, sensei luôn chào mình bằng “さようなら”, dù với mình sensei giống như một người thân trong gia đình vậy.

    Người Nhật viết thư như thế nào

    Tôi nghĩ sắp tới ngày tôi có thể viết email bằng tiếng Nhật, nên hôm nay tôi đã hỏi Yohko sensei cách mở đầu và kết thúc bức thư. Bạn có thể đoán được, cách người Nhật viết thư thì khác với những dân tộc khác, nó phản ánh cách người Nhật suy nghĩ.

    Nếu bạn gửi email, với nội dung thân mật, bạn có thể bắt đầu bằng “こんにちは.” Còn nếu bạn gửi thư tay, bạn sẽ không biết buổi nào để chào. Người Nhật thường bắt đầu thư giống như cách người ta bắt đầu một cuộc trò chuyện thông thường: họ nói chuyện thời tiết, những chuyện liên quan đến 季節. Chẳng hạn: Dạo này trời nóng quá nhỉ,…
    Mấy ngày nay trời mưa, chắc anh đào sẽ sớm tàn mất,…
    Và khi kết thúc, một lần nữa, họ nói những chuyện như thế. Chẳng hạn:
    Trời lạnh rồi, anh nhớ giữ gìn sức khỏe. Mong sớm gặp anh. …

    Tất nhiên, giống như các dân tộc châu Á khác, nói chung họ có nhiều ý tưởng hơn là những gì thể hiện trên những dòng chữ đó.

    Đây là những bức thư gửi cho bạn bè. Những thư formal có cấu trúc chặt chẽ và ít chuyện thời tiết hơn. Tôi sẽ nói về chúng vào một dịp khác (khi mà tôi đã biết nhiều hơn.)

    所で、hôm nay Yohko sensei nói về trận typhoon với một chút lo lắng. Khi tôi gặp sensei nó mới ở Okinawa, và sẽ tới Kyoto vài giờ sau đó. Since I started study Japanese language, culture, and society, coincidences have happened routinely, i.e., almost immediately after I learned something, it manifests itself in my life here.

    Khi tutor Muraoka kết thúc email gửi cho tôi hôm nay, cậu ấy nói hãy look out for the typhoon. Một người bạn Nhật 🙂

    Điều ước của Munder

    Trong bộ phim Hồ sơ tuyệt mật, có lần đặc vụ Munder có một cơ hội tuyệt vời: Anh được trao tặng ba điều ước, và anh có thể ước bất cứ điều gì. Là một con người lương thiện, điều ước đầu tiên của anh là “Tôi ước thế giới hòa bình”. Anh ta có thể thực hiện bất cứ điều gì, phải không? Thế thì thế giới phải hòa bình. Nhưng, các vị Phật cũng không làm được cơ mà. Vậy mà anh ta làm được. Khi Munder vừa dứt lời thì thế giới lập tức hòa bình. Anh ta nhìn ra ngoài cửa sổ. Trên con đường ngoài kia, những chiếc xe bất động. Phố xá lặng thinh. Anh ta chạy ra ngoài. Không còn một bóng người. Anh ta tức giận nói với vị thần: Tôi muốn thế giới hòa bình chứ không phải muốn con người biến mất. Và, vị thần trả lời anh ta, hoàn toàn thông cảm: Đây là cách duy nhất.

    Munder không phải là người đầu tiên trong bộ phim có được những điều ước. Những người trước anh là những kẻ tham lam. Họ ước tiền, quyền lực và quyền năng siêu nhiên. Nhưng rồi, tất cả bọn họ đều phải hứng chịu những hậu quả không lường trước, và hiển nhiên là không mong muốn. Luật nhân quả, như thường thấy, là đúng về toàn thể.

    Tại sao thế giới vẫn chưa hòa bình

    Một ngày tớ nói với em tớ về chủ nghĩa cộng sản, và trong đó có đoạn chúng ta nên đi theo đường lối của Đạo Phật. Đó là thứ tôn giáo duy nhất mà tớ tin rằng sẽ đem lại hòa bình cho thế giới này.

    Em tớ lớn hơn tớ vài tuổi, và lúc đầu thì tớ với nó không phải nói chuyện mà là tranh luận thì đúng hơn. Tất nhiên tớ luôn cố tránh mọi cuộc tranh luận nếu có thể, nhưng có một phút mà cái ngã quá mạnh khiến tớ không kiềm chế nổi. Đột nhiên, em tớ hỏi một câu mà tớ nhớ mãi: “Nếu có các vị Phật và mục đích của họ là làm cho loài người thoát khỏi cảnh khổ, nếu họ có quyền năng vô hạn, tại sao họ không dùng sức mạnh của mình để làm cho thế giới hòa bình mãi mãi?”

    Tớ trả lời theo cách mà tớ hiểu, có lẽ cũng là cách cậu hiểu. Lại một lần nữa tớ trích dẫn Đức Phật. Người có nói vài câu về chuyện này:

    1. Nếu ta cảm hóa được anh, thì ta cảm hóa được anh. Nếu ta không cảm hóa được anh thì ta không cảm hóa được anh.

    2. Nếu anh đáng bị xuống địa ngục thì ta không có cách nào giúp anh thoát khỏi nó. Nếu anh đáng được lên cõi trời thì ta không có cách nào ngăn nổi anh.

    3. Hạnh phúc đến từ bên trong, đừng tìm kiếm nó bên ngoài.

    Người ta có thể diễn giải những điều trên theo nhiều cách khác nhau, nhưng có một ý nghĩa nổi bật và xuyên suốt cả ba, đó là: Những gì chúng ta nhận được là thành quả của những việc chúng ta làm. Không ai, và không một thế lực nào có khả năng tước khỏi chúng ta những điều đó. Hay, đi thẳng vào câu hỏi: Hòa bình, nếu con người có một ngày thật sự có được, phải là nền hòa bình do chính con người tạo dựng, chứ không phải do một thần thánh hay lực lượng siêu nhiên nào ban phát, và cũng không một lực lượng nào có thể làm được điều đó ngoài con người.

    Hãy tưởng tượng, giả sử một ngày Đức Phật cố tình làm trái quy luật tự nhiên, và Người ngăn mọi cuộc xung đột lại, chuyện gì sẽ xảy ra? Rõ ràng, ngay khi sự can thiệp của Người không còn nữa, sẽ lại có những cuộc chiến, và đại chiến. Con người có đặc tính rất xấu là không trân trọng những thứ tốt đẹp mà người khác đem lại cho mình, cũng giống như bọn trẻ thường không biết quý trọng những đồng tiền mà cha mẹ đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm được cho chúng, trước khi chúng thực sự dùng sức lao động của mình và biết được cha mẹ đã khó nhọc đến thế nào.

    Chúng ta trong không ít trường hợp muốn tìm kiếm giải pháp từ những nơi mà chúng không thể tồn tại. Không thể tìm kiếm một giải pháp hòa bình bên ngoài những nỗ lực và khát vọng hòa bình của chính con người. Nếu một nền hòa bình không do chúng ta tự tay xây dựng, nó chỉ là một nền hòa bình giả tạo và không sớm thì muộn cũng sẽ sụp đổ.

    Tớ biết nhiều người muốn tìm niềm vui hay cơ hội đổi đời bằng cách chuyển đến sống ở một nơi khác, hay thử làm những việc mới mẻ đối với họ. Những trường hợp thành công cũng nhiều như những người bỏ học đại học mà trở nên giàu có như Bill Gates hay Steve Jobs vậy. Lý do thì cũng như trên thôi.

    Kẻ tám lạng người nửa cân

    Trong bài viết ngắn này tôi sẽ giải thích về thành ngữ “Kẻ tám lạng người nửa cân”, một câu thành ngữ rất quen thuộc trong tiếng Việt.

    Câu thành ngữ này dùng để nói về những người ngang sức ngang tài, ai cũng hiểu như vậy. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu tại sao “tám lạng” lại “ngang sức ngang tài” với “nửa cân”. Rõ ràng trong hệ thống đo lường ngày nay thì nửa cân chỉ có năm lạng, tại sao lại có thể so sánh như vậy?

    Câu trả lời thật ra rất đơn giản, trong hệ thống đo lường cũ của Việt Nam, một cân bằng mười sáu lạng, vậy nên “Kẻ tám lạng người nửa cân” đích thị là để chỉ những đối thủ ngang tầm. Sau này khi hệ thống đo thay đổi, chúng ta giữ nguyên câu thành ngữ. Những người lớn tuổi đều hiểu vấn đề, chỉ có các em nhỏ, hay thậm chí thế hệ chúng tôi là thấy không rõ ràng.

    Mọi điều đều có lý do của nó. Khi chúng ta không bỏ qua những điều nhỏ bé như thế này, mà bỏ chút công sức tìm hiểu, ta sẽ hiểu rõ không phải chỉ là một câu thành ngữ, mà còn biết thêm về văn hóa, về lịch sử đất nước. Đối với việc học ngôn ngữ, tìm hiểu về văn hóa và lịch sử đóng vai trò quan trọng.

    Hạ tuần tháng 6

    Các bạn có hay nghe thời sự không? Tôi thì rất thường xuyên xem thời sự, vì may mắn có cái TV gần bàn ăn và hơn thế nữa, lại thường xuyên có cái cơ duyên ăn tối lúc 7h. Trong các chương trình thời sự, người ta rất hay nói về những khoảng thời gian: thượng tuần, trung tuần, hạ tuần của một tháng.

    Ở đây tuần không phải là tuần dương lịch, vì nếu thế thì tháng nào cũng thiếu mất một tuần. Muốn biết mấy chữ “tuần” này là gì thì phải tìm hiểu cả thiên văn, lịch pháp và tiếng Việt cổ nữa mới được. 

    Đùa các bạn một chút thôi, chuyện này thật ra rất đơn giản. Giống như chữ cân trong tiếng Việt ngày xưa chỉ mười sáu lạng, ngày nay chỉ chỉ có mười lạng, chữ tuần trong tiếng Việt xưa không chỉ tuần lễ bảy ngày như bây giờ mà chỉ tuần trăng. Một tuần trăng có mười ngày. Vì thế mỗi tháng sẽ có ba tuần, thượng tuần, tương ứng với mười ngày đầu, trung tuần, tương ứng với mười ngày giữa và hạ tuần tương ứng với mười ngày cuối tháng.

    Cân  tuần chỉ là hai ví dụ trong số rất nhiều từ tiếng Việt bị thay đổi nghĩa khi chúng ta tiếp nhận văn minh phương Tây. Tuy trong đại đa số các tình huống giao tiếp thường ngày, các từ này được hiểu theo nghĩa mới, nhưng có những trường hợp, như được nêu ra ở các entry gần đây, chúng ta cần biết nghĩa gốc để hiểu câu hay đoạn văn. 

    Không có cứu cánh

    Trong post đầu tiên của blog này, tôi xin tự giới thiệu một chút, về trang này và về tôi. Tôi là sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, và mặc dù theo một chuyên ngành về công nghệ, tôi rất yêu thích ngôn ngữ. Blog này được tạo ra để ghi chép lại những điều thú vị về tiếng Việt và cách dùng tiếng Việt hiện nay mà tôi được biết. Đây là một blog có tính cá nhân. Dù tôi luôn chỉ chia sẻ những điều tốt đẹp, những điều tôi chắc chắn, một vài điều đọc được ở đây có thể làm các bạn thấy thú vị, giống như tôi, hoặc bất ngờ, hoặc phản đối. Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ học, nên lời khuyên là các bạn hãy tham khảo các nguồn chính thống nếu bị “sốc” bởi những điều các bạn thấy kì lạ hoặc không thể đồng ý ở đây.

    Hôm nay tôi muốn nói về một hiện tượng phổ biến trong giới trẻ và những người làm báo amateur: dùng từ mà mình không biết. Tôi có nghe rằng, người Pháp khi đọc báo có dùng cả từ điển nữa, họ tra từ. Nhưng ở nước mình thì ngay cả trẻ con cũng không có thói quen ấy. Chúng ta không dùng từ điển, và tự luận nghĩa của từ dựa trên văn cảnh hoặc cảm tính. Những độc giả như vậy, sau khi trở thành tác giả thì cứ tiếp tục dùng từ với cái nghĩa mà họ tự nghĩ ra, và càng ngày càng có nhiều người dùng sai từ theo cách đó. Về chuyện này thì có hai điều đáng nói:

    Thứ nhất, nhiều người làm việc không có trách nhiệm, cẩu thả, nên mới dẫn tới chuyện sai lầm tràn lan như thế. Giá mà họ tra từ điển, dù chỉ một lần thôi, giá mà độc giả tra từ điển, dù chỉ một lần thôi,.. giá mà các báo mạng kiểm tra trình độ nhân viên kĩ càng, giá mà biên tập viên đọc kĩ bài báo trước khi xuất bản…

    Thứ hai, từ bị dùng sai quá nhiều, nghĩa sai có thể thành đúng, đúng có thể thành sai. Với ngôn ngữ, nếu 1 triệu người sai và 1 người đúng, thì 1 triệu người không thể sai :), vì ngôn ngữ là để cho họ giao tiếp, họ đều hiểu thì nó không sai. Tuy nhiên, khi chuyện đó xảy ra thì chúng ta sẽ không hiểu được tổ tiên và bản thân ngôn ngữ của chúng ta sẽ phức tạp hơn, vì có nhiều quy tắc bị phá vỡ, các nhà ngôn ngữ học sẽ gặp khó khăn.

    Nội dung chính của bài viết này không phải là phân tích hai điều trên. Hôm nay tôi muốn nói về một vài trong số những từ bị dùng sai nhiều nhất trong tiếng Việt: cứu cánh, rẻ rúng và quan ngại. Tại sao lại là những từ này? Vì đây là những từ bị dùng sai nhiều nhất, và có nguy cơ sẽ sai vĩnh viễn. Tôi mong bài viết này như một tiếng chuông nữa vang lên.

    “Cứu cánh” nghĩa là gì? Vẫn còn nhiều người hiểu đúng, nhưng càng ngày càng có nhiều người nghĩ rằng “cứu cánh” là danh từ chỉ một cái gì đó để “cứu”, một thứ để hỗ trợ, để giúp đỡ trong hoàn cảnh khó khăn. Chẳng hạn, để nói rằng những bài tập hay giúp đỡ mình rất nhiều trong quá trình ôn tập trước kì thi, một sinh viên viết: “Những bài tập đó là cứu cánh của tôi.” Hay một ví dụ khác, tôi đọc được khi có người nói về cách dùng từ này: Người ta viết: “Con bò là cứu cánh của người nông dân.” khi nhờ nuôi bò mà nông dân thoát nghèo. Nghe cũng hợp lý phải không? Nhưng đó lại là những lỗi dùng từ căn bản. “Cứu cánh” là một từ trong Phật giáo, nếu bạn tra nghĩa của từ này trong một cuốn từ điển Phật học, bạn sẽ biết nó có nghĩa là “mục đích cuối cùng”. Nếu đọc lại những câu trên, với cách hiểu đúng, bạn sẽ thấy chúng thật nực cười. Mục đích cuối cùng của sinh viên là mấy bài tập, còn mục đích cuối cùng của người nông dân chỉ là con bò!!

    Một trong số những nguyên nhân cá biệt dẫn đến cách hiểu sai từ này là trong một số trường hợp, “cứu cánh” với cách dùng đúng có thể hiểu là cái để trợ giúp. Ví dụ: “Cứu cánh của người phụ nữ ấy là cậu con trai chăm chỉ, hiền lành”. Ý của tác giả là người mẹ hết lòng vì con, coi con mình như mục đích cuộc đời, nhưng câu trên hiểu rằng cậu con là nguồn động viên, an ủi, giúp đỡ (cái để “cứu”) người mẹ thì cũng vẫn đúng. Ngày qua ngày, những cách hiểu kiểu như thế khiến cho danh từ Phật giáo này “bị hiểu lầm” sâu sắc. Sự hiểu lầm xuất hiện thậm chí trên các tờ báo chính thống. Đây chỉ là ví dụ nhỏ, nhưng sự thật là nếu người Việt không có trách nhiệm với ngôn ngữ của mình thì…

    Ví dụ tiếp theo là từ “rẻ rúng” (hay có nơi đọc là “rẻ rúm”). Từ này là động từ hay tính từ? Nó là động từ, có nghĩa là coi thường, coi khinh, coi rẻ. Thế nhưng có những bạn trẻ lại dùng nó như tính từ, với nghĩa là “rẻ mạt”. Chẳng hạn, tôi có đọc một bài báo nói về chuyện phá thai. Độc giả nhận xét “Sinh mạng con người rẻ rúm vậy sao”. Lẽ ra phải là “bị rẻ rúm vậy sao”. Nếu bạn nói: “Họ rẻ rúng tôi.”, bạn đúng, còn nếu bạn nói: “Họ coi tôi thật rẻ rúng.”, bạn đang hưởng ứng làn sóng tự tạo ra nghĩa cho từ tiếng Việt.

    Ví dụ cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, từ “quan ngại”. Từ ngày Trung Quốc đặt cái giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, hầu như ngày nào trên các phương tiện truyền thông người ta cũng nhắc đi nhắc lại từ này. Khoan hãy nói về vận mệnh Tổ quốc, về tinh thần dân tộc, hãy nói về cách dùng từ đã. Hẳn bạn phải ngạc nhiên nếu biết rằng từ quan ngại ngày nay được dùng không theo nghĩa nguyên gốc của nó nữa. Ban đầu, “quan ngại” là danh từ, có nghĩa là “chướng ngại”, “vật cản trở” (như là những trở ngại trên đường). Theo thời gian, nghĩa của từ này thay đổi, và ngày nay ở Việt Nam mọi người dùng nó như một động từ. Đây chính là khi một triệu người sai thì họ không còn sai nữa.

    Chúng ta thường hay nói những chuyện rất xa vời, đặt ra những kế hoạch 5 10 năm với mục tiêu to lớn, mà ít khi dành sự quan tâm đúng mực cho những thứ nhỏ bé mà quan trọng. Ngôn ngữ của dân tộc không hề là vấn đề nhỏ, vậy mà chúng ta đang để cho những hiện tượng trên xảy ra, giới trẻ thì sử dụng ngôn ngữ tùy tiện, bừa bãi, và thật không may, dùng một cách sai lầm nhưng lại tỏ ra mình hiểu biết. Tôi nghĩ sẽ tốt hơn cho chúng ta khi củng cố, bảo vệ và phát huy những giá trị cốt lõi của dân tộc mình, đó là ngôn ngữ, là văn hóa. Điều này liên quan đến tự ngã, đến tính hời hợt của nhiều người Việt, nhưng xin được không bàn ở đây.

    Lang-8.com

    The first thing I want to tell you about this website is that it is superb. If you have ever think of learning with native speakers, this is where you need to go http://lang-8.com/

    The basic and underlying idea of this website’s operation is that, everyone is a good teacher of their mother tongue, and if something is approved by many good teachers, it is probably true.

    So how does it work? Let me show you. Suppose that you are a Vietnamese who want to learn English there. After creating an account and logging in, you will be asked what language you want to learn and what is your native language. Then, you will see a list of people whose mother tongue is English and one of the languages they want to learn is Vietnamese. You can send friend request to them immediately and you all will help one another to get better.

    Being a member, you can post sentences needing revised. Then, your native speaker friends will help you to correct them. Because you have many friends, you need not worry that the correction is not trustworthy. Vice versa, you and the Vietnamese speaker community can help foreign learners.

    Is the website good enough for you? Still having any doubt? Just give it a try and maybe you will be an active member of Lang-8 community 🙂

    By the way, my username on Lang-8 is Esaki Leo, feel free to send me a friend request 🙂
    Wish you a pineapple day!

    Giờ tận số của chiếc quạt giấy |61

    Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi tiếng với những lời sấm truyền ứng nghiệm. Người ta cho rằng ông có thể đoán biết được chuyện xảy ra hàng trăm năm sau. Sinh thời, ông đã nói nước ta sau này sẽ tên là Việt Nam, và họ Nguyễn sẽ lên ngôi. Điều đó tới giờ đã được chứng minh. Có vô số câu chuyện về Trạng Trình có thể sẽ làm chúng ta sửng sốt. Khi đọc những câu chuyện ấy, bạn sẽ thấy mỗi việc chúng ta làm không phải chỉ có ta biết, trời biết, đất biết, mà quỷ thần đều hay biết, và những bậc thánh nhân như Trạng Trình thì nắm rõ chúng như lòng bàn tay.

    Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải sinh ra đã tinh thông lý số. Chuyện kể rằng ông được một cụ già tới từ phương Bắc tặng một cuốn sách tên là Thái Ất Thần Kinh, nhờ nghiên cứu cuốn sách này mà ông mới thông tỏ được mọi chuyện cổ kim, từ quá khứ tới vị lai. Có một giai thoại về lần đầu tiên dùng sách của ông, vì nó rất liên quan tới chuyện chiếc lá ở trên, theo nghĩa là một khi số phận đã được quyết định thì không cách nào thay đổi, tớ sẽ kể cho cậu nghe.

    Khi mới học được cách xem số mệnh cho người và vật, Nguyễn Bỉnh Khiêm tự hỏi không biết đồ vật có số phận như thế nào. Ông xem số cho cái quạt giấy, tính toán một hồi thì ra cái quạt chỉ “sống” thêm được hai canh giờ nữa. Lúc bấy giờ Trạng không hiểu cái quạt sao mà chết được, ông bèn treo nó lên và cứ thế ngồi nhìn, xem hai canh giờ sau nó “chết” như thế nào. Chờ mãi ông vẫn không thấy chuyện gì xảy ra. Vợ ông thấy chồng suốt hồi lâu chẳng làm gì, chỉ chăm chăm nhìn cái quạt giấy, tức mình xé nát nó ra. Lúc ấy là đúng hai canh giờ.

    Chiếc lá khô |60

    Khi tớ còn rất nhỏ, chắc là từ khi chưa đi học, có một lần tớ cầm một chiếc lá lên, và định đốt hay làm gì đó với nó, chẳng nhớ nữa. Chính vào lúc ấy tớ nghĩ một điều về số phận, một câu hỏi mà mãi tới gần đây mới có lời giải đáp cho chính mình: Có phải mọi sự trên đời đã được định đoạt hay không, và ta có thể thay đổi chúng không?

    Đầu tiên, tớ cầm nó lên và nghĩ, giờ đốt nó hay không là quyền của mình, mình là người duy nhất quyết định. Đốt nó, số phận của nó là bị đốt, không đốt nó, số phận của nó là không bị đốt. Nhưng rồi tớ dừng lại và nghĩ: dù mình nghĩ thế nào, nó cũng đã có số phận, mình chỉ là một đứa trẻ không hiểu chuyện mà nghĩ rằng mình là người quyết định. Có thể, ở một nơi nào đó rất xa, có vị thánh thần nào đó đã quy định số phận cho nó, đốt hay không đốt đã được định đoạt, ngay cả suy nghĩ của mình cũng vậy. Mình tưởng rằng mình tự làm, kì thực mình làm theo một sự sắp đặt bí ẩn.

    Hãy tưởng tượng điều đó như thế này: người ta đưa cho bạn một chiếc lá và một mảnh giấy. Họ nói bạn làm gì tùy ý với chiếc lá, sau đó hãy mở mảnh giấy ra. Bạn nghĩ giờ chiếc lá nằm trong tay mình và bạn có thể làm bất cứ điều gì với nó. Bạn ép khô chiếc lá, vẽ trang trí và dán nó vào một cuốn sổ. Khi mở tờ giấy ra, nó viết: chiếc lá sẽ bị ép khô, trang trí và dán vào một cuốn sổ.

    Số phận là gì |59

    Một ngày, tớ nói với một người bạn, thôi, một thằng bạn, rằng những ngày đã qua làm tớ hiểu mục đích cuộc đời. Nó hỏi: “Mục đích cuộc đời này là gì?”. Tớ không phải Kazuo, tớ không thể nói đó là dưỡng tâm. Vậy là tớ nói với nó: “Ông không hiểu nếu tôi nói.” Nó chấp nhận điều đó, như thể nó đã chờ đợi câu trả lời ấy. Và, sự hiểu của tớ, cũng đáng phải đặt câu hỏi.

    Trả lời câu hỏi về số phận, cũng sẽ giống như câu trả lời về cuộc đời. Tớ không thể nói. Nhưng, nếu ta có thể sống đến một ngày nào đó và nói rằng đã hiểu về cuộc đời, thì cũng có một ngày ta có thể nói như thế về số phận.

    Tớ đã nói về nhân quả, về vô thường và vô ngã, là mong thu ngắn chuỗi ngày đó lại.

    Bản chất của nhân quả |58

    Có thể có ai đó nghĩ rằng có một cuốn sổ thiện ác thần thánh nào đó ghi chép mọi việc con người làm trên đời, và đến khi người ta chết đi thì sẽ có những phán quan dựa vào những gì ghi trong sổ mà thưởng phạt chúng ta. Thế là có hẳn một hệ thống hành chính để đảm bảo thực thi luật nhân quả, giống như luật pháp của chúng ta vậy. Luật pháp của chúng ta, chưa nói đến việc có chặt chẽ hay không, thì cũng bỏ lọt lưới nhiều người trong lúc được thực thi, thế nhưng luật nhân quả thì không bao giờ. Có phải vì những vị phán quan kia quá quyền năng không?

    Phán quan nếu có, sổ thiện ác nếu có, thì chắc chắn không bỏ sót bất kì điều gì. Trong những câu chuyện mà tớ kể trên kia, chuyện về con ma, về thiên đàng và địa ngục, tất cả xuất phát từ chính chúng ta. Không có cái gì phân biệt thiên đàng và địa ngục ngoài thái độ của chúng sinh trong đó. Độc ác và ích kỉ sẽ biến một cõi thành địa ngục, yêu thương và sẻ chia biến chính cõi ấy thành thiên đàng. Không có con ma nào theo dõi mọi việc ta làm, chính ta nhìn thấy tất cả và trong sâu thẳm tâm hồn, ta biết mình đúng hay mình sai. Ta là chứng nhân cho mọi việc ta làm, ta có thể trở thành người buộc tội hoặc người khen thưởng trong vô thức. Ta chính là phán quan, trí óc ta, tiềm thức ta chính là sổ thiện ác, và vì thế chẳng bao giờ có gì bị bỏ sót.

    Vòng quanh thế giới |57

    “Bí mật lớn nhất vũ trụ” không quá bí mật, ở chỗ là tự cổ chí kim đã có rất nhiều người hiểu biết về nó và áp dụng nó. Cách phát biểu bằng tiếng Kinh của tớ về bí mật đó là: những gì giống nhau sẽ hấp dẫn nhau. Dĩ nhiên cách phát biểu này quá chung chung, nhưng vì chung chung nên nó áp dụng được trên bình diện lớn. Có nhiều cách phát biểu khác, tùy theo điều kiện địa lý và lịch sử tại điểm mà bí mật này được phát hiện.

    Trong một cuốn kinh rất cổ, người ta đọc được như sau:

    As above, so below

    As within, so without

    Điều đó có nghĩa là gì, chẳng phải nó nói về quy luật nhân quả và luật hấp dẫn hay sao. Nếu trong cuốn sách cuộc đời, bạn viết điều gì thì sau này bạn sẽ đọc được những điều giống với nó, lần này có thể không do bạn viết. Những gì xung quanh bạn sẽ giống như những gì mà bạn chính là.

    Một thiền sư người Nhật thủa còn trẻ mắc bệnh lao phổi. Ông nghĩ mình chẳng còn sống được bao lâu nữa nên muốn đi vòng quanh thế giới và ra đi ở xứ người. Chẳng ngờ trong chuyến đi ông gặp một thánh nhân, sau này đã trở thành thầy của ông và giúp ông trở thành một thiền sư. Vị thầy nói với ông rằng, này chàng trai trẻ, mọi người đều có số mệnh và cậu sẽ không chết thế này đâu. Ông bái sư học đạo và sau này trở về Nhật, viết một cuốn sách nổi tiếng là “Chân tướng cuộc đời” (Truth of life). Trong cuốn sách, có đoạn nói:

    Trái tim chúng ta giống như một thỏi nam châm, nó hút vào tất cả những khổ đau, tai nạn, hạnh phúc…

    Đó cũng là nói về luật hấp dẫn. Nếu tim ta chất chứa những nỗi niềm, những tình cảm cao quý, thì những điều tốt đẹp sẽ đến với ta, và ngược lại. Những câu nói như thế này, tớ tin rằng có thể giúp người ta bất ngờ đạt kiến tính.

    Những năm gần đây, loại sách thuộc thể loại Self-development ào ạt phát triển, ta có thể thấy chúng ở mọi nơi, mọi giá sách, tất nhiên là cả trên giá sách của chính mình. Những sách ấy đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó có một vấn đề quan trọng là suy nghĩ tích cực và positive self-talk, cũng có thể coi là suy nghĩ tích cực. Nhiều người có kinh nghiệm chia sẻ rằng chỉ bằng suy nghĩ tích cực, cuộc đời họ đã thay đổi. Đó chẳng phải là một điều tự nhiên sao, nếu bạn luôn giữ nam châm trong túi thì kim loại xung quanh có lẽ nào không tìm tới bạn?

    Bí mật lớn nhất vũ trụ |56

    Bí mật nhỏ là bí mật lớn nhất vũ trụ, tức là “the secret” không phải là bí mật lớn nhất vũ trụ. Tớ đã rào đón nhiều rồi, vậy thì “the secret” thực sự là gì vậy?

    Đó chính là quy luật hấp dẫn. Nó tự nhiên như thế này: Nếu bất kì hai vật có khối lượng nào cũng hút nhau theo định luật Vạn vật hấp dẫn, thì bất kì điều gì bạn nghĩ tới cũng sẽ xảy ra trong cuộc đời bạn, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

    Người ta không nói điều này, nhưng tớ nghĩ, hai vật có khối lượng hút nhau, chúng có cùng bản chất vật chất. Thế thì tư tưởng của chúng ta và sự việc xảy ra cũng có cùng bản chất. Sự việc trôi nổi trên đời, suy nghĩ cũng trôi nổi, các suy nghĩ tương đồng hấp dẫn lẫn nhau, các sự việc tương đồng hấp dẫn lẫn nhau. Hãy hiểu theo nghĩa này, một khi ta có những suy nghĩ tích cực, thì những suy nghĩ tích cực khác cũng lần lượt tới với ta và cuộc đời thật tươi đẹp. Khi ta gặp những điều xấu, những điều xui xẻo, thì có khi chúng kéo tới ồ ạt, như ta vẫn nghe đấy “chó cắn áo rách” hay là “đen đủ đường”. Sâu hơn một bước, suy nghĩ và các sự việc tương đồng hấp dẫn lẫn nhau. Bạn nghĩ về một tương lai tốt đẹp thì tương lai tốt đẹp đến với bạn. Cả suy nghĩ lẫn sự vật đều là những thứ trôi nổi, nó không phải do ta tạo ra mà nó từ đâu đến với ta và rồi nó sẽ qua đi, đó là tính vô thường và vô ngã của sự vật, bao gồm cả suy nghĩ.

    The secret |55

    Cách đây không lâu, nghĩa là trong thế kỉ này, có một nhóm tác giả đã xuất bản một cuốn sách với tên gọi “The secret”. Sau đó, một bộ phim kéo dài hơn một tiếng được làm dựa trên cuốn sách này. Ngày nay, ta vẫn có thể tìm thấy bộ phim này trên Internet. Trong cuốn sách, có nhiều đoạn phỏng vấn các nhân vật nổi tiếng, chính xác hơn là ghi lại những ý kiến của họ về “The secret”, cái mà các tác giả gọi là “Bí mật lớn nhất vũ trụ”.

    Thời mà tớ đọc cuốn sách đó, tớ nghĩ đó là một bí mật lớn thật, nhưng không biết có phải là bí mật lớn nhất vũ trụ chưa. Hôm nay thì tớ chắc chắn là đó không phải là bí mật lớn nhất vũ trụ, so với những lời Phật dạy, thì bí mật đó không thể nào theo kịp. Nó rất hay, rất nên biết và nên áp dụng, có điều, qua cuốn sách và bộ phim, nó trở thành một chân lý bị thực dụng hóa.

    Thiên đường và địa ngục |54

    Trước khi nói tiếp về nhân quả, tớ muốn kể vài câu chuyện về thiên đường và địa ngục.

    Chuyện thứ nhất, có nhiều dị bản, thật ra đều là chuyện có thật. Chuyện kể rằng có một người thân phận cao quý đến hỏi một thiền sư: Thế nào là thiên đàng, thế nào là địa ngục? Thiền sư liền lên tiếng chửi bới. Người kia tức quá rút kiếm ra định chém. Thiền sư nhanh chân vừa chạy vừa nói: Địa ngục chính là đây. Người kia hiểu ra, thu kiếm lại. Lúc ấy, thiền sư bảo: Thiên đàng chính là đây.

    Chuyện thứ hai: Một người đệ tử hỏi thầy mình, là một thiền sư: Thế nào là thiên đường, thế nào là địa ngục? Thiền sư liền dẫn đệ tử của mình đi thăm thiên đàng và địa ngục.

    Đầu tiên, họ tới địa ngục. Ở đây họ thấy có những người đang ngồi ăn, nhưng họ phải dùng những đôi đũa dài cả sải tay và do một quy tắc nào đó, họ phải cầm đũa ở rất cao. Với đôi đũa dài như vậy, những người này dù cố gắng cũng không thể gắp được thức ăn, mà họ chỉ chọc đũa vào những người bên cạnh và để thức ăn rơi rớt ra ngoài mà thôi. Tất cả bọn họ đều đói và gầy guộc, họ bị đau liên tục và luôn la hét.

    Khi hai thầy trò lên thiên đàng, thật ngạc nhiên, cảnh vật rất yên bình, nhưng cũng giống hệt như dưới địa ngục, có những người đang ăn và họ cũng phải cầm những đôi đũa rất dài. Chắc hẳn có những quy tắc trói buộc giống như dưới địa ngục khiến họ cũng không thể cầm đũa thấp được. Thế nhưng, họ ăn uống từ tốn và vui vẻ. Họ đã làm như thế nào vậy? Hóa ra, trên thiên đàng, người ta gắp cho nhau ăn, và chẳng ai đụng đũa vào nhau cả.

    Người ghi chép |53

    Chúng ta đều tin vào luật nhân quả. Niềm tin đó có thể xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân, hoặc do sự chiêm nghiệm không dựa trên các sự kiện trực tiếp xảy ra với bản thân, do được học hỏi giáo pháp, hoặc vì một nguyên nhân nào khác. Ngoại trừ nguyên nhân thứ nhất, những cách khác dẫn ta tới niềm tin ấy đều có tính chất mù quáng.

    Phật Cồ Đàm dạy chúng ta một điều rất đúng: Đừng tin điều gì, chừng nào chưa thực sự cảm nhận được. Nếu bản thân chúng ta chưa thấy được nhân quả, chưa cảm nhận được nhân quả, sao có thể khẳng định rằng nhân quả là tuyệt đối.

    Tớ chẳng có một kinh nghiệm nào ở tiền kiếp hết, kiếp này thì gặp toàn chuyện kì lạ, chẳng biết có phải do kiếp trước đã làm quá nhiều việc quái lạ hay không, nhưng nói chung là chưa hề biết. Tuy vậy, tớ có niềm tin, và chắc là cậu cũng thế. Đức Phật hẳn là người có uy tín lắm, khi Người cứ kể về chuyện tiền kiếp mà lại làm tớ tin đến vậy.

    Tại sao ta lại có gặp điều tốt lành khi hành thiện và chịu ác báo khi làm việc ác? Ai lưu giữ những thông tin đó, ai ghi chép công hay tội để thưởng phạt chúng ta? Có phải là dưới âm tào địa phủ, có những vị đang giữ sổ thiện ác ghi lại tất cả những việc ta đang làm hay không? Trong chuyện về viên quan với tội ác ghi trên sổ chất đầy sân, có những người làm việc đó. Trong chuyện Thủ Hoằng, cũng có những người làm việc đó. Ừ, vậy thì hãy cứ hình dung là có những cuốn sổ khổng lồ ghi chép lại mọi việc trên đời. Nhưng mà, biết nói sao đây, chuyện đó nghe thật phi lý. Chúng ta có thể post mọi việc ta gặp hàng ngày lên facebook hay là viết email kể cho bạn bè, nhưng dung lượng lưu trữ trên mạng thì ngày càng tăng và có thể sẽ tăng lên vô hạn. Bill Gates từng nói rằng điều kì diệu ở chiếc máy tính là chẳng cần biết ta thêm bao nhiêu thứ vào chúng, chúng chẳng hề nặng thêm. Tuy nhiên, ghi chép lên giấy thì lại là một chuyện khác hẳn. Càng có nhiều chuyện, sổ sách càng dày. Tớ cho rằng không có gì thích hợp để lưu giữ những thông tin đó hơn là các máy chủ vẫn đang lưu giữ và xử lý dữ liệu cho Google, Facebook hay Yahoo. Tuy nhiên, chắc là giờ này cả dưới địa phủ lẫn trên thiên giới người ta chưa phổ cập internet đâu, tớ đoán là như vậy. Tất nhiên, họ không phải người thường, có thể họ dùng những thứ giấy thần thánh mà ta không biết được để ghi chép, nhưng mà, tớ biết một giả thuyết thú vị hơn và quan trọng là, hợp lý hơn: Chẳng có ai ghi lại những chuyện đó cả, sự thật là chính tâm thức chúng ta ghi lại tất cả những việc chúng ta làm, lưu giữ tất cả những suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta. Dù ta có nhớ hay không, chúng thực sự vẫn tồn tại.

    Không còn bóng trăng trong nước |52

    Chẳng có việc gì gọi là bí mật trên đời này hết. Trong tập truyện “Góp nhặt cát đá” – tập truyện thiền hàng trăm năm tuổi, người ta có kể câu chuyện sau đây, tớ sẽ trích nguyên văn:

    Chế Ngự Con Ma

    Một người vợ trẻ bị bệnh và sắp chết. “Em yêu anh lắm,” nàng nói với chồng, “Em không muốn xa anh. Anh đừng nên yêu ai nữa nhé. Nếu anh không nghe lời, em sẽ trở về làm ma hành hạ anh không thôi.”

    Chẳng mấy chốc người vợ qua đời. Người chồng giữ đúng lời vợ trối trăn được ba tháng đầu, nhưng rồi y gặp và yêu một người đàn bà khác. Họ hứa hôn với nhau. Ngay sau khi hứa hôn một con ma hiện ra mỗi đêm trước người đàn ông trách rằng y không giữ đúng lời hứa. Con ma còn rất linh. Nó nói đúng phóc những gì liên quan đến y và tình nhân mới. Khi y tặng cho hôn thê món gì, con ma tả ra với chi tiết. Nó còn lập lại cả những cuộc đối thoại, bực mình đến nỗi y không thể ngủ được. Có người khuyên y nên giải bày với một thiền sư sống gần làng. Mãi lâu, thất vọng quá người đàn ông khổ sở tìm đến thiền sư xin gúp đỡ.

    “Vợ của ông trở thành con ma và biết được tất cả việc ông làm,” vị thiền sư nhận xét. “Bất cứ điều gì ông làm hay nói, bất cứ món gì ông tặng nhân tình nó cũng biết. Nó phải là một con ma khôn ngoan. Ðúng ra ông nên cảm phục một con ma như thế mới phải. Lần sau nếu nó hiện ra ông nên thương lượng với nó. Nói với nó rằng nó biết nhiều quá và không có điều gì ông có thể dấu nó, và rằng nếu nó trả lời được một câu hỏi của ông, ông hứa sẽ bải bỏ hôn ước và ở giá suốt đời.”

    “Câu hỏi gì để con phải hỏi nó?” người đàn ông thắc mắc.

    Thiền sư trả lời: “Vơ một nắm đầy hạt đậu và hỏi nó có bao nhiêu hạt trong tay ông. Nếu nó không trả lời được thì nó chỉ là điều giả tạo trong trí tưởng của ông và nó sẽ không quấy ông nữa đâu.”

    Ðêm sau con ma hiện ra, người đàn ông ca tụng nó và bảo rằng nó biết hết mọi chuyện. “Dĩ nhiên,” con ma trả lời, “và ta biết ông đến thăm ông thiền sư bửa nay nữa.” “Và quả là ngươi biết quá nhiều,” người đàn ông yêu cầu, “hãy nói cho ta biết có mấy hạt đậu trong nắm tay này của ta!”

    Không còn có con ma nào để trả lời câu hỏi.

    Vậy đấy, cậu có nhìn thấy con ma này từ đâu mà tới chưa? Ma quỷ là có thật, tớ chắc chắn về điều đó, nếu như khái niệm ma của chúng ta là giống nhau. Thế nhưng, trong nhiều trường hợp, ma xuất phát từ tâm ta chứ chẳng ở đâu cả. Ta có lỗi hay không ta là người rõ nhất. Người nào làm chuyện khuất tất thì trong lòng luôn bứt rứt không yên, có khi việc chẳng liên quan mà cứ nghĩ người ta đang vạch trần mình, cái đó gọi là tự kỉ ám thị. Cái sự ám thị đó, nó chẳng khác nào con ma trong câu chuyện này. Con ma không biết những gì người chồng không biết, người chồng thì hiểu quá rõ lỗi lầm của anh ta với vợ cũ.

    Thế nên, muốn lòng thanh thản, chẳng có cách nào khác là phải hành thiện tích đức, vì mọi việc ta làm, đều ghi rất rõ trong tâm. Nếu có một tòa án nào được coi là công minh nhất, thì đó là tòa án lương tâm.

    Biết xấu hổ, biết lo sợ |51

    Làm thế nào để có thể sống tốt hơn, làm thế nào để có thể tự giác làm việc tốt? Có nhiều cách mà tớ không thể biết hết, nhưng tớ biết có một cách: Phát triển lòng tự trọng và tôn trọng người khác.

    Thiền sư Ajahn Chah nói một điều mà tớ vô cùng tâm đắc: Trước khi người ta làm việc gì, có khi người ta nhìn quanh quất, nếu không thấy ai thì người ta làm. Người ta quên mất tự mình đang nhìn mình đấy.

    Thật ra thì đâu chỉ có mình nhìn mình, ngoài mình ra còn có trời đất quỷ thần nữa đấy chứ. Có câu chuyện về một vị quan thanh liêm ở Trung Quốc kể lại rằng, khi có người đưa hối lộ và bảo: Ngài yên tâm, không có ai biết việc này đâu. Ông đã nói: Việc này ông biết, tôi biết, trời biết, đất biết, vậy sao lại bảo là không ai biết.

    Không thấy người khác thì dám làm, mình thấy thì không dám làm, đó chẳng phải là mình tự khinh mình hay sao? Liễu Phàm nói, người biết xấu hổ thì như bậc thánh nhân, kẻ không biết xấu hổ thì chỉ như con thú mà thôi.

    Khi ta biết sẽ xấu hổ trước người khác, thì đừng làm, đó là biết tự trọng. Khi ta biết việc là xấu, nhẹ thì mất phúc lộc, nặng thì bị trừng trị, thì hãy nhớ chẳng có nơi nào không có quỷ thần, phải biết lo lắng cho tương lai muôn kiếp sau này mà dừng ngay lại, đó là biết lo sợ. Bậc thánh nhân thì chẳng cần quan tâm tới chuyện xấu hổ hay lo sợ, nhưng không qua bước đó thì khó mà thành thánh nhân.

    Tích âm đức |50

    Cậu có khi nào nghe về việc “tích âm đức”? Một cuốn từ điển có hại cho tiếng Việt định nghĩa âm là âm phủ, âm đức là phúc đức tổ tiên để lại cho con cháu. Vậy có lẽ tích âm đức là tích đức rồi khi chết đi để lại cho con cháu.

    Tớ có một cách hiểu khác. Âm có thể hiểu là không hiển lộ, chìm, chứ không phải nhất thiết là âm phủ. Khi tớ tập Vịnh Xuân cũng được dạy rằng các đòn đánh của mình là dùng lực âm, còn Karate dùng lực dương. Khác với Karate, phát lực cùng lúc với ra đòn, Vịnh Xuân có nhiều đòn chạm đích mới phát lực và tăng dần sức ép, cái đó là lực âm. Cậu hãy tưởng tượng, khi võ sĩ Karate dùng tay phang mấy viên gạch, đó là lực dương. Còn khi một võ sinh Vịnh Xuân dùng tay ép đòn gánh cho đến khi nó gãy, đó là lực âm, nó rất khác với việc phang gãy chiếc đòn gánh. Trúng đòn âm thì không tốt cho nội tạng chút nào. Một võ sư Thái Cực Quyền có thể dùng tay không để nghiền nát xương của bạn (nghe nói vậy J). Để hiểu cái khái niệm “âm” là chìm này, cậu có thể nghĩ về “bếp ga âm” và “bếp ga dương”.

    Thế thì “âm đức” là gì, tất nhiên không phải công đức dưới âm phủ. Đọc truyện Thủ Hoằng, cậu có thể nghĩ đó là công đức của người trần được các quan dưới âm ghi lại, giống như là trong cuốn sổ của Diêm vương ghi lại công tội của vị đại quan Trung Quốc, hoặc cuốn sổ người cai ngục đọc cho Thủ Hoằng. Dù hiểu như vậy chưa đúng hoàn toàn, nhưng theo tớ hợp lý hơn nhiều so với cái định nghĩa liên quan tới tổ tiên và con cháu. Một cách chính xác hơn, “âm đức” được dùng để chỉ những việc thiện mà ta không cho người khác biết. Chỉ có ta và quỷ thần được biết về những công đức của ta, thì những công đức ấy được gọi là “âm đức”. Trong cuộc sống, nếu chúng ta hành thiện không mong báo đáp, không mong được người biết tới, thì ta đã cắt bỏ được cái dây xích mà lợi và danh tròng vào cổ ta và tiến gần hơn tới tự do vô thượng.

    Hãy cùng tích âm đức nhé, và làm cho thế giới này tốt đẹp hơn.

    Chuyện Thủ Hoằng |49

    Thủ Hoằng vốn là một thư lại, hắn ta làm nhiều việc ác với nhân dân. Ví dụ có chị nọ lỡ tay giết chồng, thế là hắn sửa hai chữ “ngộ sát” thành “cố sát”. Kết cục chị kia bị tù tội, gia sản bị tịch biên và hắn dùng thủ đoạn chiếm được một phần. Cứ thế hắn giàu lên nhanh chóng, còn những người bị hại dưới tay hắn nhiều không biết bao nhiêu mà kể.

    Thủ Hoằng, tuy vậy lại rất yêu vợ. Nhân ngày xá tội vong nhân, hắn gặp được vợ. Vợ hắn giúp hắn xuống âm phủ tham quan. Hắn đến những nơi vô cùng ghê rợn. Đến một dãy phòng giam nọ, hắn chú ý đến một phòng giam với những gông cùm và dụng cụ tra tấn khủng khiếp hơn hẳn những phòng khác. Người cai ngục bảo hắn: Đây là phòng giam của tên Thủ Hoằng, tên này tội ác tày trời, nên phải chịu phạt thảm khốc. Nói rồi người cai ngục đọc hết những việc hắn đã làm trên trần thế. Hắn giật mình sửng sốt, không ngờ chẳng có việc gì hắn làm mà quỷ thần không biết.

    Khiếp sợ cái tương lai chờ đợi mình dưới âm phủ, Thủ Hoằng dừng những tội ác của mình, bắt đầu giúp đỡ kẻ cô thế và dùng tài sản làm từ thiện. Khi hắn đã làm tiêu tán phần lớn khối tài sản bất chính của mình, lại một ngày xá tội vong nhân khác đến. Hắn đi thăm căn phòng xưa, thấy xiềng xích đã bé đi nhiều. Người cai ngục bảo: Tên này thời gian qua đã hối cải, tội trạng giảm nhiều, nếu tiếp tục hành thiện tích đức sẽ gặp phước lớn.

    Thủa ấy có một con sông nguy hiểm, người ta đi lại qua đó rất khó khăn. Thủ Hoằng đã bán hết tài sản, làm một con thuyền và dành phần đời còn lại chuyên chở người qua sông mà không lấy tiền công.

    Về sau, khi một vị vua Trung Quốc ra đời, trong lòng bàn tay nắm chặt có ghi tên họ và quê quán của Thủ Hoằng. Người ta nói Thủ Hoằng vì tích đức nên được phước báo lớn.

    Câu chuyện có tên người và các địa danh thật, có một vị vua bên Tàu như vậy, nhưng tớ không nhớ được các chi tiết đó.

    Học tài thi phận |47

    Ở Trung Quốc cũng có một câu chuyện thật: Một chàng thư sinh (tớ không nhớ tên nữa), học hành giỏi giang nhưng thi thì lại trượt. Chàng tức giận chửi bới, coi là giám khảo có mắt không tròng. Một vị sư thấy thế bảo: Tôi chưa đọc văn ông nhưng chỉ nghe ông nói đã biết văn không ra gì, vì người ta chỉ viết hay khi tâm tịnh. Vị sư khuyên răn chàng nên bình tâm và làm nhiều việc thiện, chàng ngộ ra và theo lời.

    Trước kì thi sau, chàng mơ thấy mình đi đên một ngôi lầu cao, trên có bảng vàng nhưng có nhiều chỗ trống. Chàng hỏi người bên cạnh, người ấy bảo: Những chỗ trống này là của những người lẽ ra đỗ nhưng vì còn làm nhiều việc chưa tốt, nên chưa đỗ được. Tên của ông ở chỗ này. Nói rồi người ấy chỉ vào một chỗ trống – Thời gian qua ông làm được nhiều việc tốt, chắc là sắp có tên rồi đấy.

    Quả nhiên, chàng thư sinh thi đỗ.

    Thế đấy, việc bạn đỗ hay trượt đã được quy định, đó là số phận. Bạn nói nhân định thắng thiên ư, vậy thì bạn phải làm nhiều việc thiện mới được. Nhưng ngay cả khi đó, bạn cũng chẳng giành được cái gì cả, việc xảy đến với bạn chỉ là thuận theo lẽ tự nhiên. Nếu bạn ham muốn và tìm cách giành giật mà không nhìn lại bản thân mình, điều đó chẳng bao giờ đến.

    Chưa đỗ ông nghè |46

    Chuyện kể rằng có một chàng thư sinh, một lần tới ngôi đền nọ trú mưa, được ông từ tiếp đãi rất tử tế. Ông từ bảo đêm qua được thần báo mộng rằng hôm nay sẽ có đại quan tới thăm đền, mà cả ngày chỉ có mỗi chàng. Chàng thư sinh mừng rỡ nghĩ rằng kì thi sắp tới mình sẽ đỗ cao. Từ hôm ấy, chàng chẳng chú tâm học hành gì nữa, mà đi quậy khắp xóm làng, đi tới đâu cũng dọa: Rồi đây tao đỗ ông nghè sẽ cho chúng mày biết tay. Kì thi tới, chàng hăm hở ứng thí, nhưng chắc cậu cũng đoán được rồi, chàng trượt đầu nước. Nghĩ tới ông từ nọ, chàng giận lắm, cho là ông đã lừa mình. Khi tới đền chàng mới biết, vị thần hôm trước lại hiện lên báo mộng, rằng số chàng vốn thi đỗ, nhưng vì làm nhiều việc bất thiện nên đã bị gạch tên rồi.

    Đó là chuyện dân gian của chúng ta, từ đó mà có câu: Chưa đỗ ông nghè, đã đe hàng tổng. Người ta nói câu này chỉ để khuyên răn nhắc nhở chứ không chú trọng tới cái ý nghĩa về thay đổi số phận do hành động của mình, như trong câu chuyện.

    Cỏ cây cũng có tâm hồn |45

    Một lần thầy Thích Nhất Hạnh giảng: Con khỉ cũng cảm nhận như chúng ta, nhưng nó không có chính niệm. Một người vặn lại thầy: Thầy không phải con khỉ, làm sao thầy biết con khỉ không có chính niệm? Thầy bảo: Ông không phải tôi, làm sao ông biết là tôi biết hay không biết?

    Các nhà sư thì không ăn động vật, họ chỉ ăn thực vật. Chẳng ai bảo chúng ta nhưng ta thường nghĩ rằng cây cỏ thì không có linh hồn. Cái cây, hay cái bàn, cái ghế cũng vô tri. Nghĩ cũng có phần nào có lý. Cả cái cây gỗ to vĩ đại chỉ có 5% là tế bào sống thôi, còn lại thì không khác gì cái bàn gỗ. Thêm nữa là, các nhà sư cần nuôi dưỡng lòng từ bi, và không động đến những sinh vật biết cảm thụ nỗi đau, mà họ vẫn ăn rau cỏ đó thôi.

    Tớ, hay cậu, hay tất cả chúng ta, đều không phải cái cây. Tớ chỉ biết chắc chắn là, nó có sinh trưởng, nó có phát triển, và nó thật sự sống. Ngày xưa, tớ từng nghe câu chuyện kể rằng trong một lớp học, người ta ươm một mầm cây và nói lời những lời yêu thương, âu yếm với nó, cái cây đã lớn nhanh hơn hẳn những cái cây bình thường. Thế có thể nói rằng nó biết nghe, và nó biết cảm nhận chưa?

    Ngày mà tớ chặt cái cây giúp nhà đối diện, tớ có cảm giác có lỗi với cái cây đó. Nhà tớ ở quê trước đây vốn rất nhiều cây cối, nay còn lại chắc chỉ được hai ba phần. Mỗi khi một cái cây bị chặt đi, tớ lại thấy mất mát. Theo một nghĩa nào đó, tớ coi những cái cây như thú nuôi trong nhà, và có tình cảm với chúng như nhau. Tác giả Fujiko F. Fujio hẳn cũng có suy nghĩ giống như tớ, rất nhiều lần trong bộ truyện Đô-rê-mon ông để cho những cái cây, thậm chí những đồ vật hàng ngày cất tiếng nói, ông muốn để trẻ em yêu quý mọi thứ quanh mình, hiểu rằng chúng chỉ đơn giản như những người ngoại quốc, có tiếng nói mà ta chưa hiểu được.

    Dù có bị buộc phải lớn lên, dù có thấy cuộc sống vô thường, tình yêu mà tớ dành cho Đô-rê-mon và những người bạn sẽ không bao giờ thay đổi.

    Thần đồng |44

    Khi nói về điều này, tớ rất muốn nói về phương pháp của Lý Dương trước. Cậu đã nghe rồi, ông ấy chủ trương học mọi thứ thông qua học thuộc lòng, đọc càng nhiều càng thuộc, càng thuộc càng hiểu, càng hiểu càng giỏi, tới mức thiên tài. Nói chung, theo quan điểm của Lý Dương thì con người chẳng cần có tài năng đặc biệt gì, chỉ cần chăm chỉ là được. Nếu chăm chỉ đọc sách, dần dần tất cả kiến thức sẽ là của mình, trí tuệ cũng từ đó mà ra. Tớ chưa theo phương pháp này nhưng mà không có phản đối. Nó có cái lý của nó. Có lý thuyết khác cho rằng, sau 10000h luyện tập, ta sẽ trở thành chuyên gia trong bất cứ lĩnh vực nào, không cần biết xuất phát điểm thấp hay cao. Điều đó cũng có cái lý của nó.

    Ta gặp một số hiện tượng kì lạ: trẻ em không đi học mà cũng giỏi, mấy năm tuổi mà đã đọc thông viết thạo, thậm chí có trường hợp làu thông kinh sử, IQ cao ngất, viết sách, làm thơ, học đại học,… và còn nhiều việc nữa mà người lớn cũng không làm nổi. Nếu cậu có thể gộp chung quan điểm của tớ và Lý Dương lại, cậu sẽ đi đến một cách giải thích cho những trường hợp này. Các thần đồng vốn dĩ giống như chúng ta. Họ đạt được đến trình độ đó cũng qua một thời gian dài khổ luyện, nhưng chỉ vài tuổi đời thì khổ luyện khi nào? Kiếp trước.

    Cậu có nhớ tớ nói về việc phải tu hành qua rất nhiều kiếp mới có thể đắc đạo không? Đức Phật Cồ Đàm khi sinh ra đã vào nhà quyền quý tột đỉnh, mang 32 tướng tốt, thông minh hơn người, đó đâu phải do trên trời rơi xuống, Người đã tu hành gian khổ bao nhiêu kiếp trước đây.

    Đối với các tài năng trẻ xuất hiện gần đây trên đất nước chúng ta, có hai luồng quan điểm chủ đạo: thứ nhất là ghen ghét, cho rằng họ quá may mắn, thứ hai là tôn sùng. Nếu hiểu theo cách ở trên thì thay vì ghen ghét nên khâm phục, vì họ cũng phải bỏ công sức và vượt bao trắc trở mới được như vậy, thay vì tôn sùng, chỉ nên tôn trọng, vì họ cũng giống như ta, nếu ta bỏ ra nhiều thời gian và công sức, làm việc nghiêm túc, ta cũng sẽ như họ. Đức Phật, cuối cùng cũng là một con người đã kiên trì đi trên một con đường đúng đắn và tới đích.

    Tóm lại, dù GS. Ngô Bảo Châu chứng minh được bổ đề Langlands vào năm ông 4 tuổi, hay thời còn học ở ĐHQGHN, hay khi 38 tuổi, hay khi 70 tuổi, công sức ông bỏ ra vẫn như vậy và ông vẫn xứng đáng được kính trọng theo cùng một cách.

    Không bao giờ mất đi |43

    Giống như nghiệp không tự mất đi, như ở phần sau tớ sẽ nói, những năng lực của chúng ta cũng như vậy. Những gì dang dở ở kiếp trước, ta có thể tiếp tục thực hiện ở kiếp sau. Người ta hay dùng ý chí để kéo dài sự sống, đến khi hoàn thành tâm nguyện thì rời bỏ cõi này, tuy thế, có những việc cần thời gian rất dài, phải mất nhiều kiếp sống mới hoàn thành được, như tu hành để đến mức đắc đạo, chẳng hạn. Nói chung, theo tớ biết, đó không phải là việc có thể làm được trong một kiếp. Như Đức Thế Tôn cũng đã trải qua biết bao tiền kiếp, cuối cùng mới đắc quả và thành Phật.

    Mỗi một hành động nhỏ của chúng ta tác động đến cả vũ trụ. Việc tớ viết những dòng này hay việc cậu đọc chúng cũng không ngoại lệ. Xin hãy ghi nhớ rằng mỗi một suy nghĩ, mỗi một việc làm dù nhỏ nhất của chúng ta, cũng đều có tác động đến tất cả mọi người, mọi vật xung quanh. Việc làm có thể cân nhắc, nhưng suy nghĩ, chỉ có cách dưỡng tâm mới có thể làm cho nó tốt đẹp.

    Mỗi một hành động của chúng ta gây ra những hậu quả vĩnh viễn. Bạn gây nghiệp, giống như viết bằng bút chì, nghiệp được giải, giống như dòng viết chì bị xóa đi, nhưng tờ giấy không bao giờ như cũ. Tâm của bạn luôn biến đổi, nó không bao giờ như thế và mãi như thế dù như thế là gì. Năng lực và năng lực tiềm tàng của bạn cũng như vậy, nó luôn luôn biến đổi.

    Khi bạn bỏ thời gian và công sức của mình ra rèn luyện, công phu của bạn tăng tiến. Khi ta không làm gì cả (xin hãy phân biệt giữa không làm gì cả và tĩnh tâm) hoặc làm những việc vô nghĩa thì ta làm suy yếu chính mình. Quay lại với việc học võ, rồi tất cả những gì ta học được sẽ trở thành vô nghĩa khi mà ta không còn thân thể nữa, nhưng kĩ năng thì không mất đi, những đức tính mà ta rèn luyện được cũng không mất đi mà chúng sẽ mãi mãi còn lại trong ta, và góp phần vào sự tiến hóa tâm linh của ta.

    Ở cuộc sống sau cuộc sống |42

    Những gì cậu kể làm tớ nghĩ rằng ở vùng quê của cậu, người ta quan tâm nhiều đến tâm linh. Cậu có thấy điều này không: con người khi còn sống như thế nào, khi mất đi vẫn như vậy. Một người thông minh, khi mất đi là một linh hồn thông minh. Một kẻ có sức vóc, khi mất đi thành một con ma có sức mạnh, dù thân thể không còn. Các vị thánh, các vị thành hoàng, đều đã từng sống. Họ thường là các vị quan có nhiều công trạng, và khi mất đi, họ vẫn mạnh như khi họ còn sống vậy, thậm chí mạnh hơn, vì khi đó họ được giải phóng khỏi nhiều hạn chế mà chúng ta phải chịu trên trần thế.

    Cậu còn nhớ chuyện chức phán sự đền Tản Viên không? Tên võ tướng của nhà Minh khi đã chết vẫn là một kẻ mạnh đủ để khống chế vị thổ thần. Đây là quan điểm cá nhân của tớ: nếu khi còn sống như thế nào, thì khi thác xuống cũng sẽ như vậy. Nếu khi ta sống ta mạnh hơn ai đó, khi ta mất đi ta vẫn mạnh hơn. Nếu khi còn sống không dành thời gian tu tập, sang cõi bên kia sẽ chẳng có cơ hội nào. Đứa trẻ mất đi bao nhiêu năm không đầu thai vẫn là đứa trẻ, tư duy không lớn hơn chút nào.

    Điều gì còn lại |41

    Khi làm bất kì điều gì, hãy nghĩ đến điều này: thân thể này rồi ta sẽ phải bỏ đi, hoặc nó sẽ bỏ ta mà đi. Thế thì, những việc ta làm có ý nghĩa gì? Nếu bạn luyện quyền, mà bạn biết một ngày đôi tay không còn nữa, bạn vẫn tiếp tục luyện? Bạn tập múa, bạn tập thể hình, bạn phẫu thuật thẩm mỹ,… chỉ để một ngày tấm thân mình biến mất, bạn nghĩ sao về việc đó?

    Nếu bạn nói những gì mình làm để rèn luyện hoặc làm đẹp cho thân thể là có ý nghĩa trong khoảng thời gian mà bạn sống, hay nói đơn giản hơn, trong phút giây hiện tại bạn biết có sự khác biệt, bạn đúng. Tuy nhiên, điều quan trọng là, không chỉ có thế, những sự khác biệt mà bạn nhận ra ấy có giá trị lâu dài hơn thời gian của một kiếp người rất nhiều.

    Ngày hôm nay bạn tập Vịnh Xuân, bạn cảm nhận và thấu hiểu những nỗi đau đớn khi phải chịu đòn, khi tập xoạc chân, bạn trải qua sự vất vả khi tập luyện các đòn thế mới, từ chỗ không biết, cho tới thuần thục, từ chỗ tập cho đúng hình, cho tới chỗ để từng động tác thấm vào bạn, trở thành một phần của cơ thể bạn. Bạn trở nên nhẫn nại hơn, và biết giá trị của sự khổ luyện. Những gì bạn nhận được, không chỉ là một cơ thể dẻo dai và linh hoạt hơn, mà còn là một tinh thần mạnh mẽ hơn, một ý chí kiên cường hơn, bạn không còn là bạn trước khi tập luyện nữa.

    Dù bạn làm điều gì, bạn tập luyện thứ gì, nhân sinh quan của bạn cũng thay đổi. Xu hướng chung là, bạn trưởng thành hơn và mạnh mẽ hơn. Sự phát triển về mặt thể chất không có ý nghĩa gì qua nhiều kiếp sống, nhưng sự phát triển về mặt tinh thần và sự tiến hóa tâm linh thì còn mãi. Bạn có thể hiểu những gì thuộc về linh hồn thì có tính kế thừa.

    Thân này không phải là ta |40

    Thân này không phải của ta, rồi một ngày nào đó ta sẽ rời bỏ nó, cũng giống như bỏ đi một chiếc áo chật, một căn nhà cũ. Ta có chấp nhận điều này hay không, nó cũng sẽ xảy ra. Ở Tây Tạng, tớ nghe nói rằng, khi một người mất đi, xác của người đó sẽ được vứt cho đám kền kền. Sự giải thích của người Tây Tạng rất đơn giản: cái xác đó con người không còn làm gì được nữa, nếu đem cho kền kền nó còn có chút tác dụng. Như thế thì thật bất kính, cậu có thể nghĩ như thế. Với các bậc đại sư, nhục thể của họ được giữ trong các tòa tháp, dù điều đó, suy cho cùng, cũng vô nghĩa.

    Chúng ta làm thật nhiều thứ với tấm thân này. Càng về những đoạn sau của lịch sử, loài người càng có xu hướng đánh đồng mình với thân thể của mình. Người ta tìm cách làm cho nó đẹp lên, trang điểm cho nó, gắn nó với các danh hiệu,… Cứ như thế, rồi cuối cùng thì sao. Một tấm áo dù ta có cố nới rộng nó, thêu vẽ lên những hoa văn đẹp đẽ, cuối cùng, cũng sẽ phải bỏ đi. Nó chỉ là một chất liệu, chẳng có chất liệu nào tồn tại vĩnh viễn.

    Xã hội cộng sản phải là xã hội có thiện tâm |39

    Hãy tưởng tượng một thế giới nơi mà con người ai cũng lao động hăng say, để tạo ra của cải vật chất, ai cũng có cái ăn, cái mặc, ai cũng được thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu của mình. Xã hội ấy có không tưởng hay không? Có và không.

    Tại sao lại có? Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả con người trên Trái Đất này biết thương yêu lẫn nhau, chỉ cần biết thương yêu nhau thôi và không gì khác. Khi ấy thì quân đội có còn không? Chắc là không, chúng ta không còn cần một tổ chức nào để kiểm soát, để gây áp lực và để hủy hoại lẫn nhau nữa. Khi ấy mọi người có tích cực làm việc không? Chắc là có, vì họ biết những người thương yêu mình đang làm việc, để nuôi sống bản thân và nuôi sống cả họ nữa, họ sẽ thấy trách nhiệm của mình. Có khi nào cậu cố tình làm cho những người cậu yêu mến phải thất vọng chưa? Khi ấy có còn tội phạm không? Chắc là không, chẳng lẽ ta lại có thể hại những người ta yêu hay sao. Khi đó con người làm việc có kỉ luật và trách nhiệm không? Chắc là có, ai cũng biết mỗi việc làm của mình ảnh hưởng tới cả cộng đồng, và cộng đồng ấy tất cả đều là những người họ yêu quý. Khi đó, có còn giai cấp không? Chắc là không, mọi người khi ấy đều là người lao động, làm việc bằng tất cả khả năng của mình. Dù là ông chủ hay nhân viên, cũng đều là những người làm việc. Của cải tạo ra được dành cho cả xã hội, và cả xã hội đều vì mỗi cá nhân. Khi ấy có còn nhà nước không? Cậu hãy tự trả lời nhé, liệu có thể có nhà nước ở một nơi không có hận thù, không có chiến tranh, không có tội phạm, ai cũng chăm chỉ làm việc, ai cũng có phận sự của mình, ai cũng có trách nhiệm và kỉ luật? Vậy đấy, chỉ cần con người yêu thương lẫn nhau, yêu thương đến mức vô ngã. Người ta gọi cái thế giới ấy là Utopia, đó là nơi ta đã ra đi khi chưa biết nó là gì, và là nơi những con người có tình thương và lý trí đang tìm đường trở lại.

    Và giờ, tại sao lại không? Đã bao lâu nay tớ nghĩ về một con đường để khi đi trên đó, người với người sống và yêu thương. Con đường ấy Đức Thế Tôn đã chỉ ra, con đường ấy sáng rõ làm sao, nhưng sao thật khó để bước vào. Làm thế nào để xóa bỏ hết những nghi ngờ, xóa bỏ hết những mưu toan, những sự vị kỉ, sự thù ghét và dã tâm của con người?

    Thế giới của chúng ta tràn ngập tình thương, nhưng chưa bao giờ là đủ !

    Mục đích của đời người |38

    Trong bài viết nhỏ này tớ không có ý định nói về mục đích của đời người theo cách lý luận hay giải thích một hồi và cuối cùng đưa ra lời khuyên ta phải làm gì. Vì cuộc đời là to lớn và vĩ đại, một người đang cầu giác ngộ khó mà lý giải. Thay vào đó, tớ sẽ nói về mục đích cuộc đời theo quan điểm của một con người thành công: Inamori Kazuo. Ông là một doanh nhân thành đạt, là một trong số những nhân vật lớn đã làm nên những điều kì diệu cho nền công nghiệp Nhật Bản sau Đệ nhị Thế chiến, nhưng đó không phải là khía cạnh để tớ nói rằng ông thành công. Sự thành công của ông, sự thành công lớn nhất, nằm ở thái độ và cách nhìn nhận cuộc đời.

    Kazuo nhận thức được đạo lý vô thường, ông cũng hiểu sâu sắc luật nhân quả. Có một điều thú vị trong tư duy và triết lý của ông, đó là quan điểm về ý chí của vũ trụ, những gì tớ vừa nói ở trên, cũng giống như những gì Kazuo nói. Đó là một quan điểm tích cực: hướng tới sự tốt đẹp. Chỉ cần tin vào điều đó thôi, cuộc sống của ta đã tươi đẹp lắm.

    Tất cả chúng ta đều hiểu rằng, hạnh phúc thực sự không đến từ vật chất mà chỉ đến từ những sự tốt đẹp trong tâm hồn. Sự thoải mái và mức độ hưởng thụ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là thước đo cho niềm vui, dù người ta có cố tình gán cho chúng chức năng ấy. Cậu đã bao giờ nằm bên một cánh đồng, hay một dòng sông, trong một buổi chiều nhiều gió mát, không bận tâm một thứ gì khác và ngắm nhìn bầu trời? Niềm vui khi ấy nếu so sánh với cái vui khi ăn sơn hào hải vị, khi thắng một trò cá cược, khi ngồi trong một căn phòng tiện nghi xem chương trình mình yêu thích, thì ngàn vạn lần sâu sắc hơn. Những cánh đồng, những dòng sông, những ngọn núi, trời xanh, mây trắng, những vì sao… chúng giúp nuôi dưỡng tâm hồn. Có khi chúng kéo ta lại với những gì ta đã là, những gì ta thực sự là, nhận ra ta đang lao đầu vào những điều vô nghĩa biết bao. Mong cầu một cuộc sống thoải mái không có gì sai, nhưng nghĩ rằng tiền tài hay danh vọng là hạnh phúc thì đáng thương. Chúng ta có cái may mắn là nhận ra điều đó, nhưng thế giới này rộng lớn, biết bao người không có cái may mắn ấy. Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý rằng linh hồn là bất tử và chúng ta phải trải qua vô lượng kiếp, cho đến khi biết tự mình nhảy ra ngoài cái miệng chén, nhưng chắc chắn ai cũng phải thừa nhận rằng, mỗi kiếp người, khi rời khỏi cõi đời này, chẳng thể mang theo gì hết, ngay cả thân thể gắn bó một đời cũng phải bỏ lại, thì chẳng có thứ gì cầm nắm được lại có thể mang đi, chẳng có thứ gì dùng thân thể mà cảm nhận được lại có thể mang theo.

    Vậy ta sống một đời này để làm gì?

    Nếu biết không mang đi được chi bằng hãy cho đi. Nếu biết không mang theo được thì chẳng cần tích lũy. Ta đến đây hai bàn tay trắng, và ra đi cũng hai bàn tay trắng mà thôi. Thế nhưng, những gì không thuộc về thế giới vật chất với những xung động thô kệch này, thì vẫn thuộc về ta. Ta mang theo nghiệp, ta mang theo danh, ta mang theo hạnh phúc hay khổ đau, sự viên mãn và hài lòng hay ân hận và nuối tiếc. Đời là bể khổ, không diệt khổ thì làm gì đây? Tự giúp mình thoát khổ và cứu độ chúng sinh là điều các vị Phật, các vị Bồ Tát, các bậc tu hành đã và đang làm, còn chúng ta, những người chưa xuất gia, thì sao?

    Thoát khổ. Đó là mục đích. Dưỡng tâm. Đó là con đường. Cậu có thể hiểu thoát khổ nghĩa là làm cho chính mình và phần còn lại của thế giới cảm thấy cuộc đời không phải chỉ toàn đau khổ, rằng sống là vui. Ta đã nhiều lần nói với nhau rằng chẳng có điều gì đến từ bên ngoài là có giá trị bền vững. Tưởng tượng ta là con gà con sắp nở, ngột ngạt nằm gọn trong cái vỏ trứng ngăn cách với bầu không khí hạnh phúc bên ngoài, thế thì chẳng ai giúp được ta. Ai đó cố phá vỡ cái vỏ trứng khi ta còn yếu, ta sẽ chết. Chỉ khi ta đủ mạnh để tự mình phá vỡ nó, ta mới thấy được hạnh phúc thực sự, đó là những niềm vui ta tự mình tìm thấy. Làm thế nào? Tớ nhắc lại, ta không phải, hay chưa phải là những nhà tu hành, việc ta có thể làm là dưỡng tâm. Tâm càng sáng, chú gà con càng khỏe mạnh, cho đến một ngày chú sẽ đạp vỏ trứng chui ra. Người biết dưỡng tâm sẽ nhìn nhận cuộc đời này theo cách tích cực hơn, khổ đau sẽ lùi xa dần. Người biết dưỡng tâm sẽ có trí tuệ, để hiểu mình, hiểu người, để biết cảm thông với người khác, để biết bao dung, biết tha thứ, và làm bầu không khí quanh mình trở nên dễ chịu. Công phu hàm dưỡng càng cao, ta càng hiểu việc gì là đúng, việc gì là sai, và hết mình cho những việc làm tốt đẹp, cống hiến cho một thế giới tươi đẹp hơn.

    Ý chí của vũ trụ |37

    Vũ trụ đã hình thành từ cách đây hàng trăm tỉ năm, lúc đầu vũ trụ là gì, nếu không phải chỉ là một khối vật chất vô cùng đặc và vô tri vô giác, theo quan điểm của thuyết Big Bang? Như ta đã nói với nhau, điều đó cũng chưa tin được. Tuy nhiên, chúng ta có thể có cảm giác. Giống như ngài Kazuo, tớ thấy mọi thứ dường như đang tốt đẹp lên. Mọi thứ trên đời này, dù có đi theo tiến trình nào, cuối cùng cũng có xu hướng tốt đẹp lên. Ngay cả những rắc rối hay căng thẳng trong thế giới loài người hiện nay, giữa các quốc gia, giữa các dân tộc, cũng chỉ là tạm thời mà thôi. Đó giống như thời kì suy thoái trong chu kì phát triển, còn con đường chung vẫn là tiến lên.

    Một khối vật chất, làm sao có thể so sánh với vẻ đẹp của hàng trăm, hàng ngàn, hàng tỉ tinh cầu đang chuyển động không ngừng trong một cơ chế kì diệu mà loài người cũng chưa giải thích nổi. Bất kể sự tác động là gì, vũ trụ đang tiến về một cực rực rỡ và tươi sáng hơn. Nếu cậu đồng ý với điều đó, tức là mọi thứ đều đang hướng tới sự tốt đẹp, cậu cũng sẽ đồng ý với điều này:

    Vũ trụ có một ý chí: trở nên tốt đẹp hơn.

    Cuộc đời ta là một cánh đồng |36

    Lục tổ Huệ Năng dạy rằng: Tâm bạn như một mảnh ruộng, bạn trồng gì vào đó thì bạn sẽ gặt hái cái đó. Tiếng Anh có một proverb dường như đơn giản là dịch lại lời của lục tổ. Điều đó cho thấy sự phổ biến của chân lý này. Người Việt chúng ta thì nói: Gieo gió gặt bão.

    Ta không nhất thiết phải gieo nó ngoài cuộc đời mới phải gánh chịu hậu quả ngoài cuộc đời. Ngay khi ý niệm khởi phát, bạn đã bắt đầu tạo nghiệp rồi. Người ta nói: Gieo ý nghĩ gặt hành vi, gieo hành vi gặt thói quen, và gieo thói quen gặt số phận. Thực ra không đơn giản như thế, nhưng xét trong vô lượng kiếp thì đúng là như thế thật.

    Cuộc đời ta, nó chẳng khác gì một cánh đồng luôn được gieo trồng và luôn được thu hoạch. Nhưng khi ta sinh ra, nó không phải là một cánh đồng trống trải, đã có nhiều cây cối, nhiều hoa màu trên đó lắm rồi. Việc trồng thêm gì hoàn toàn là ở ta, việc đó bắt đầu từ suy nghĩ của ta. Ta cũng không thể tránh khỏi việc thu hoạch, nếu không làm vậy, cánh đồng vẫn sẽ mãi còn đó và chẳng bao giờ ta có thể thoát khỏi nó.

    Gần đèn thì rạng |35

    Ngày xưa mẹ của thầy Mạnh Tử đã mấy lần dời nhà, chỉ tới khi dọn tới gần trường học bà mới yên tâm đó là một chỗ tốt cho con trai minh. Chúng ta luôn bị ảnh hưởng từ những thứ bên ngoài, và suy nghĩ là thứ dễ bị tác động điển hình.

    Chúng ta không phải là những gì chúng ta ăn, nhưng những gì chúng ta ăn thì góp phần làm nên thân thể của ta. Có một khái niệm gọi là “thức thực”, tư tưởng cũng được coi như một dạng thực phẩm, nó nuôi dưỡng tâm hồn. Không phải tư tưởng của cá nhân, mà là tư tưởng từ xung quanh. Sống giữa các nhà sư, bạn sẽ thấy tâm an bình hơn khi sống ở một nơi nhộn nhịp. Ý nghĩ đến từ bên ngoài, suy nghĩ của những người quanh ta góp phần tác động tạo ra suy nghĩ của ta.

    Có lần tớ đọc được rằng, những gì bạn tìm kiếm trên Internet chính là bạn. Điều đó đúng. Tớ nhớ lại mình hay tìm những gì trên Internet, không tệ, câu nói trên không tệ. Đúng là những gì tớ tìm kiếm phản ánh con người tớ. Phật hay ma quỷ cũng đều ở đó, vốn không có bên ngoài nhưng cứ tìm sẽ thấy. Nếu cực đoan hơn, người ta có thể nói rằng: Bạn chính là những gì bạn nghĩ. Không, nếu suy nghĩ của những người khác ảnh hưởng tới suy nghĩ của bạn, thì những suy nghĩ của bạn sẽ ảnh hưởng tới cái mà bạn thật sự là.

    Thứ gì từ đâu tới |34

    Phải, suy nghĩ của chúng ta đang điều khiển chúng ta đấy. Hẳn cậu sẽ có băn khoăn, vậy thì suy nghĩ là cái gì, có lẽ nào nó không phải do chúng ta tạo ra sao? Tớ biết suy nghĩ đó đến từ sự nhận biết của cậu đối với suy nghĩ, rằng đôi lúc cậu sử dụng nó. Khi cậu muốn nghĩ về tương lai, cậu nghĩ về tương lai, khi cậu muốn nghĩ về tớ, cậu nghĩ về tớ. Thế nhưng, khi cậu muốn không nghĩ nữa, nếu cậu không nghĩ nữa thật, thì chắc hẳn đã có ít nhiều công phu tu tập, không phải ở kiếp này thì là ở kiếp trước. Người thường không thể làm như vậy được. Suy nghĩ, rốt cục cũng là một thứ công cụ mà thôi, giống như tiền vậy. Thậm chí, suy nghĩ còn có nhiều tính chất của một sinh vật sống: nó muốn thỏa mãn.

    Suy nghĩ từ đâu tới, mà nó lại có thể điều khiển ta? Trước hết, cậu hãy làm rõ điều này: suy nghĩ có phải là ta không? Không, nó không có cùng mục tiêu với ta, đôi lúc nó phục vụ và đôi lúc nó quấy rầy ta, nếu thế làm sao nó có thể là ta. Các vị thiền sư Tây Tạng ví tâm ta là bầu trời và suy nghĩ là mây trắng. Suy nghĩ đến rồi đi, bồng bềnh trôi từ nơi này sang nơi khác, thành hình rồi biến mất. Suy nghĩ là một đối tượng tốt để ta quán tính vô thường.

    Rồi, suy nghĩ làm thế nào mà tác động lên chúng ta được? Hãy xem chúng thật sự từ đâu tới. Hãy coi như ta đã làm rõ điều này rồi: Nó không xuất phát từ chúng ta, bầu trời vốn không tạo ra mây.

    Thân tâm |33

    Xin lỗi vì tựa đề phần này hơi có tính đánh lừa. Thân ở đây không phải là tấm thân, là thân thể, mà là con khỉ. Đây là một cách chơi chữ làm tớ nhớ đến quyển từ điển từ và ngữ J. Người ta rất hay ví dụ tâm ta là tâm con khỉ, nó không ngừng hoạt động, chạy từ chỗ này sang chỗ khác không có mục đích gì, như con khỉ không ngừng chuyền cành vậy.

    Có bao giờ cậu không ngủ được vì cứ suy nghĩ miên man, mà đa phần là những điều không cần thiết? Cậu đã làm thế nào? Chuyển đề tài suy nghĩ, cuối cùng tập trung nghĩ về việc đi ngủ, phải không? Chuyện là, tại sao phải như thế, tại sao suy nghĩ của mình mà mình không dừng lại được, tại sao suy nghĩ của mình mà lại phải tìm cách chế ngự? Câu trả lời đã có từ lâu, dù hơi khó tin một chút: Ta không phải là suy nghĩ của ta, thậm chí ta chẳng phải tâm ta. Ta vốn chẳng là gì cả.

    Điều đó cũng hơi giống như một thương gia không phải là tiền, dù ông ta rất giàu. Cậu sẽ cho là ví dụ này khập khiễng, phải vậy không, nhưng bản thân ta với suy nghĩ của ta quả thật có quá nhiều điểm giống một người và tiền của người đó. Điểm căn bản là, chúng ta hay cho là ta làm chủ suy nghĩ, cũng giống người ta nghĩ tiền thuộc quyền kiểm soát của họ. Điều ngược lại hay xảy ra hơn, suy nghĩ điều khiển ta và tiền điều khiển con người.

    Vậy ta phải làm sao? |32

    Có rất nhiều thứ ta học mà ta không thể nào kiểm chứng, hoặc năng lực của ta không cho phép. Ví dụ như, chúng ta không có thiết bị để biết khoảng cách đến Mặt trời, vậy có lẽ nào chúng ta chịu suốt đời không biết khoảng cách đó sao?

    Đừng nghĩ về việc tìm một cuốn sách uy tín hay hỏi thầy giáo của mình, vì thầy có thể sai, sách cũng có thể sai. Rốt cục, thầy của ta không phải là người thực hiện công việc đo đạc kia, chẳng hạn, làm sao thầy có thể biết được. Thầy cũng như ta mà thôi. Nếu nói về độ uy tín, chẳng lẽ có nhà khoa học nào uy tín hơn Newton hay Einstein sao? Họ vẫn cứ sai như thường.

    Hãy chấp nhận rằng chân lý không thể được mang đến cho bạn, người ta sẽ không mời bạn ăn khi bạn chẳng làm gì, có thể hiểu như vậy. Tuy thế, nếu đến chợ rồi thì bạn cũng có thể bằng kinh nghiệm của mình mà xét đoán thực phẩm, cái nào tươi, cái gì ngon,… Có những thứ nằm trong tầm tay bạn. Người ta nói từ Trái Đất đến Mặt Trăng khoảng cách là 184.000 km, bạn không chắc về điều đó, nhưng nếu nói khoảng cách ấy là 184 km, thì hẳn là bạn có thể chắc chắn về độ tin cậy của thông tin rồi chứ.

    Đức Phật chỉ cho chúng ta con đường, người nói về sự tốt đẹp của nó, nhưng cũng dặn chúng ta đừng có tin. Điều đó chẳng nghịch lý chút nào. Người dạy hãy tự đốt đuốc lên mà đi, khi đó ta thật sự biết con đường có gì và nó dẫn đến đâu, chứ không phải chỉ biết qua lời mô tả của Người. Mọi điều trong cuộc sống này cũng vậy: Bạn đừng mong tìm thấy ở bên ngoài, bạn đừng mong có ai đó sẽ tìm hộ bạn.

    Tại sao ta cứ hay bám víu như vậy? |31

    Cậu hãy tự hỏi mình xem có bao nhiêu điều cậu biết mà cậu đã tự mình kiểm chứng, đã hoàn toàn chắc chắn? Tớ học về dòng electron, về các tín hiệu lan truyền trong máy tính, về các hiện tượng tự nhiên,… đủ mọi thứ trên đời, thế nhưng tớ có thể nói là tớ chỉ chắc chắn rằng tớ biết bảng cửu chương, vậy thôi.

    Cậu có tin vào thuyết tương đối hay không?

    Câu hỏi đó, cũng giống như vào thế kỷ XVII người ta hỏi một sinh viên rằng bạn có tin những định luật Newton là đúng không. Câu trả lời trong nhiều trường hợp sẽ là có. Thế rồi sao, gần 400 năm sau, một nhà khoa học đã chứng minh rằng các định luật Newton là sai bét, bây giờ chúng ta tin vào nhà khoa học đó chẳng khác gì người ta tin Newton trước đây. Rồi lại sao, ngay khi chúng ta còn học trung học cơ sở, tớ đã đọc được bài báo công bố kết quả thí nghiệm truyền tín hiệu về quá khứ, đó là hiện tượng khi tốc độ tín hiệu vượt tốc độ ánh sáng. Vậy đấy, cậu tin vào thí nghiệm đó hay không? Với tớ, tớ có thể nói rằng, dù tin vào thí nghiệm đó, hay tin vào tiên đề 2 của thuyết tương đối rằng chẳng có gì trên đời có vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng, thì tớ đều chẳng có cơ sở gì hết. Tớ không hiểu thấu đáo thuyết tương đối hẹp, không nhìn thấy thí nghiệm kia, vậy thì lấy gì ra để nói rằng cái gì đúng và cái gì sai. Thế mà không biết bao nhiêu người vẫn đang bảo vệ những quan điểm mà họ không hiểu.

    Tại sao thế?

    Thật lòng là tớ không có câu trả lời, tớ chỉ có những suy đoán mà thôi. Có thể là, đầu tiên, họ bị đánh lừa, họ bị mê hoặc, vì họ không có đủ năng lực kiểm tra. Ví như với định luật II Newton thì các thiết bị đo trước đây không có khả năng phủ nhận nó. Rồi sau đó họ tin, khi họ tin rồi thì họ ra sức bảo vệ, có ai phản bác thì họ sẽ bảo vệ điều họ tin như bảo vệ danh dự của chính họ vậy.

    Bị lừa dối rồi tin tưởng là do vô minh, bảo vệ niềm tin là do tự ngã quá lớn. Khi mà ta đặt cái tôi của mình lên cao thì ta chẳng hề để ý là người khác cũng có cái tôi. Và rồi cuộc thảo luận trở thành cuộc chiến giữa những cái tôi chứ không phải là cuộc chiến tìm ra chân lý.

    Socrat, thầy của Platon, một triết gia Hy Lạp cổ, thường nói chuyện với người khác về một chủ đề nào đó, và rồi cuối cùng làm cho người ta thấy rằng họ chẳng hiểu gì về vấn đề đó hết.

    Đừng tin vào bất cứ điều gì |30

    Hẳn cậu chưa quên lời của Đức Phật, rằng đừng tin vào bất cứ điều gì, ngay cả những điều mà Ngài nói, nếu chưa thật sự cảm nhận được điều đó.

    Chúng ta rất thường gặp điều này trong cuộc sống: Người ta vì một lý do nào đó, thông thường là sự tin tưởng, cũng có khi là sự mù quáng, mà cho rằng điều gì đó là đúng, điều gì đó là sai. Những nhận định đúng và sai, sự phân biệt, có thể dẫn tới định kiến, ngay cả khi bạn thật sự biết, còn nếu không biết thì nó tệ hơn như thế rất nhiều.

    Tớ vừa được đọc loạt bài viết về hai cuốn từ điển mà GS. Nguyễn Lân biên soạn, trong loạt bài viết “Hai cuốn từ điển rất có hại cho tiếng Việt”. Nếu đúng như bài viết chỉ ra, thì hai cuốn từ điển đó quả là vô cùng có hại đến người tra cứu, nói gay gắt thì chúng cố tình hủy hoại tiếng Việt. Tớ không có điều kiện mua sách, nhưng nếu những trích dẫn từ từ điển mà bài viết đưa ra không phải là xuyên tạc, thì không hiểu vì lý do gì tác giả lại liều lĩnh và vô trách nhiệm đến vậy.

    Ta sẽ còn gặp nhiều chuyện như vậy. Nếu đọc từ điển của một soạn giả uy tín cũng không thể tin được, bạn có thể tin điều bạn nghe ngoài đường được hay không?

    Cốt tủy của Phật giáo |29

    Mọi thứ trên đời có cùng tính chất: vô thường, vô ngã và bất toại nguyện, hay nói cách khác, hay thay đổi, trống rỗng và khổ.

    Khi ta nhận thức sâu sắc được những điều đó, ta sẽ được giải thoát.

    Phật giáo, như tớ biết đến giờ này, là một tôn giáo duy lý. Có điều, cái sự thật mà Phật đã tìm ra nghe lại có vẻ duy tâm, và người ta trong hàng ngàn năm đã vô tình làm cho Phật giáo nhuốm màu duy tâm, có khi là mê tín. Sự thật là, Phật giáo giống một khoa học hơn là một tôn giáo. Phật không bao giờ bắt ai tin điều Ngài nói, cũng chẳng bắt họ tin một điều gì, thậm chí chẳng bắt họ phải làm gì. Ngài chỉ làm một việc, nói cho chúng ta biết sự thật, chỉ cho chúng ta con đường. Chúng ta nếu tin tưởng, phải tự mình đi đến cuối con đường ấy.

    Có người nói, có biết bao nhiêu giới luật, không thể nào nhớ hết được. Phật bảo, chỉ cần giữ một giới, là đã giữ tất cả giới luật rồi: Giữ chánh niệm.

    Phật dạy nhiều lắm, nhưng cuối cùng cũng chỉ có thế này: Đời là bể khổ, có con đường để thoát khổ, phía cuối con đường vô cùng tươi đẹp, hãy tự mình đi trên con đường ấy. Và làm thế nào mới có thể đi được đến cuối cùng, chỉ cần nhớ một điều này thôi: Đừng bao giờ dính mắc vào bất cứ thứ gì. Đó là cốt tủy của Phật giáo.

    Nghiệp ý lớn đến thế nào |28

    Khi vừa biết về nghiệp ý, ta có thể sẽ băn khoăn rằng nó so sánh với nghiệp thân hay nghiệp khẩu như thế nào. Khi ta muốn giúp người họ đâu đã thấy vui, khi ta nói thì họ vui và khi ta làm thì cái vui đó mới trở nên rõ ràng. Phải chăng nghiệp ý nhỏ hơn nghiệp thân?

    So sánh các nghiệp có khi không được coi là việc cần thiết. Có khi tớ chẳng quan tâm thang điểm cho bài thi là như thế nào. Ta cố gắng đạt điểm tuyệt đối, thế thì những sự phân chia có ý nghĩa gì. Thật ra là tớ nghĩ vậy thôi, ý nghĩa của sự phân chia là giúp ta chọn lựa, khi thời gian cho bài thi có hạn. Sự khác biệt là, trong cuộc đời không có giới hạn thời gian, bạn luôn được chọn: cộng điểm hay trừ điểm cho mình. Lúc nào cũng có hai con đường, tốt và xấu, bạn luôn được chọn. Thế thì không cần quan tâm nghiệp ý lớn hơn hay nghiệp thân lớn hơn. Người ta nghĩ tốt sẽ bù trừ xấu, tốt hơn là đừng làm xấu. Chỉ nghĩ tốt, nói tốt, và làm tốt, đi nhanh nhất có thể.

    Mà, chúng ta là con người. Chúng ta chưa là Bồ Tát, chưa là Phật. Ta cần biết để được dẫn đường. Tớ không trả lời câu này, nhưng sẽ kể một câu chuyện:

    Ngày xưa có một vị quan to trong triều, một lần xuống Âm phủ. Diêm Vương sai đem sổ thiện ác ra. Việc ác của ông ta viết lên sổ chất đầy một sân, việc thiện chỉ có một tờ, cuốn lại nhỏ như chiếc đũa. Diêm vương lại sai người cân lên, việc thiện lại nặng hơn việc ác. Viên quan lấy làm ngạc nhiên. Diêm vương bảo, ngày xưa có lần triều đình muốn tu sửa lại một công trình lớn, rất hại cho nhân dân, ngươi đã viết tấu can gián. Việc thiện của ngươi chỉ có tờ giấy ấy. Ngươi chỉ có việc đó thôi, nhưng xuất phát từ tình thương nhân dân, lo lắng cho nhân dân, lại ảnh hưởng đến cuộc sống rất nhiều người. Viên quan nói: Tấu sớ trình lên vẫn chưa được chấp nhận, sao đã ảnh hưởng đến như thế? Diêm vương bảo: Chỉ cần ngươi có ý nghĩ tốt là đã tạo nghiệp rồi.

    Vậy đấy, nghiệp lớn nghiệp nhỏ không ở nó là thân, khẩu hay ý, cũng không ở chỗ kết quả của nó.

    Ba loại nghiệp |27

    Có ba cách mà cậu có thể gây nghiệp. Trong đạo Bụt, người ta gọi ba loại đó là: nghiệp thân, nghiệp khẩu và nghiệp ý. Nhiều người, cũng như tớ trước đây, chỉ cho rằng hành động mới gây nghiệp, nhưng thực ra ngay khi ta vừa có một suy nghĩ, ta đã gây nghiệp rồi. Nếu bạn không ngừng suy nghĩ và không ngừng nói, thì nghiệp mà bạn tạo ra nhiều không kể xiết.

    Lấy một ví dụ nhé, một anh, hãy gọi là anh A, muốn lừa tiền của anh B. Khi anh A nghĩ về việc sẽ lừa anh B, anh ấy đã tạo nghiệp ý. Khi anh A nói chuyện với anh B về việc đó, anh tạo nghiệp khẩu. Khi anh A lấy tiền của anh B và đi mất, anh tạo nghiệp thân. Nói đơn giản là, không cần ta phải ra tay với người, chỉ cần cái ý nghĩ như là: “Nó thật đáng ghét, cầu cho nó khuynh gia bại sản” nổi lên, ta đã tạo nghiệp rồi. Những người mà khi thấy người khác luôn nghĩ “Chúc cho người này gặp nhiều may mắn”, thì bản thân lại gặp may mắn. Điều đó không chỉ đến từ việc họ có một tâm rộng mở và đầy yêu thương, mà còn vì họ được đền đáp bởi những nghiệp tốt họ tạo ra.

    Nghiệp là gì |26

    Trong bát chính đạo, tám con đường mà Đức Phật Cồ Đàm chỉ ra để những người bình thường như chúng ta có thể đi tới Niết Bàn, có một con đường là Chính Nghiệp. Nó khác với Chính Mệnh. Chính Mệnh là làm nghề nghiệp chân chính, không phạm vào các giới, ví dụ: Không làm đồ tể, không làm kĩ nữ, không làm kẻ trộm… Nói vậy để thấy chữ Nghiệp trong Chính Nghiệp không phải là nghề nghiệp. Nếu ta coi mọi việc xảy ra hoặc là nhân, hoặc là quả, thì nghiệp là nhân.

    Mỗi khi ta làm bất kì việc gì, khi ta bằng hành động của mình mà ứng phó với bất kì tình huống nào, ta đang tạo nghiệp hoặc giải nghiệp. Khi cậu cho cô bé ăn mày một hộp sữa, lúc ấy cậu đang tạo nghiệp tốt, hoặc giải nghiệp xấu của mình trong quá khứ. Có thể không chỉ là quá khứ trong kiếp này mà là quá khứ trong vô lượng tiền kiếp. Khi cậu nhìn thấy những người nghèo khổ, mà trong lòng thấy cảm thương và nghĩ, tôi sẽ hết sức giúp đỡ những người này, cậu đang tạo nghiệp tốt. Khi cậu nói lời làm người khác cảm thấy hạnh phúc, đó cũng là cậu đang tạo nghiệp tốt, hoặc, giải nghiệp xấu của mình trước đây.

    Nghiệp là gì |26

    Trong bát chính đạo, tám con đường mà Đức Phật Cồ Đàm chỉ ra để những người bình thường như chúng ta có thể đi tới Niết Bàn, có một con đường là Chính Nghiệp. Nó khác với Chính Mệnh. Chính Mệnh là làm nghề nghiệp chân chính, không phạm vào các giới, ví dụ: Không làm đồ tể, không làm kĩ nữ, không làm kẻ trộm… Nói vậy để thấy chữ Nghiệp trong Chính Nghiệp không phải là nghề nghiệp. Nếu ta coi mọi việc xảy ra hoặc là nhân, hoặc là quả, thì nghiệp là nhân.

    Mỗi khi ta làm bất kì việc gì, khi ta bằng hành động của mình mà ứng phó với bất kì tình huống nào, ta đang tạo nghiệp hoặc giải nghiệp. Khi cậu cho cô bé ăn mày một hộp sữa, lúc ấy cậu đang tạo nghiệp tốt, hoặc giải nghiệp xấu của mình trong quá khứ. Có thể không chỉ là quá khứ trong kiếp này mà là quá khứ trong vô lượng tiền kiếp. Khi cậu nhìn thấy những người nghèo khổ, mà trong lòng thấy cảm thương và nghĩ, tôi sẽ hết sức giúp đỡ những người này, cậu đang tạo nghiệp tốt. Khi cậu nói lời làm người khác cảm thấy hạnh phúc, đó cũng là cậu đang tạo nghiệp tốt, hoặc, giải nghiệp xấu của mình trước đây.

    Ta là người làm vườn |25

    Chúng ta có một truyền thống tốt đẹp là ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Khi ta còn nhỏ, người lớn luôn nhắc nhở ta về truyền thống đạo lý tốt đẹp này. Giờ ta đã lớn, đã đến lúc ta tự nhắc nhở mình về điều đó, và không chỉ thế, nhắc chính ta rằng rằng chẳng có quả nào ta ăn mà không phải từ cái cây tự tay ta trồng.

    Chẳng có cái quái gì thú vị ở hiện tại |24

    Không biết cậu có thực tập thiền chưa, nếu đã từng, hẳn cậu quá quen với quan điểm của thiền tông: Sống trong giờ phút hiện tại. Chính nhờ cái sống trong giờ phút hiện tại đó mà các thiền sư có được sự an lạc, sự bình yên. Trong sự yên tĩnh đó, họ nhìn thấy chân lý, và giác ngộ.

    Những bậc giác ngộ luôn luôn khuyên mọi người hãy sống trong giờ phút hiện tại. Nếu ta quá u mê đến mức không hiểu sống trong giờ phút hiện tại là như thế nào, thì các vị dạy ta Vipassana, dạy ta thế nào là chánh niệm, dạy ta thế nào là quán hơi thở, chú tâm vào hơi thở.

    Tớ đã nói với cậu ở trên phải không, rằng con đường đó càng đi càng thấy đẹp, rằng nhất định tớ sẽ thấy sự kì diệu của nó. Nhất định sẽ, có nghĩa là chưa. Và khi chưa thấy mà đã tuyên bố mạnh bạo như thế, thì đó là liều lĩnh. Tớ không có ý lừa dối, tớ thật sự tin, nhưng nó chỉ dừng lại ở niềm tin, chứ không phải kinh nghiệm. Đôi lúc, tớ có những cảm giác rất đẹp, nhưng thế thì chưa đủ để nói rằng chẳng có gì đẹp hơn hiện tại, ta tìm thấy Niết Bàn vào lúc này.

    Hôm qua tớ đọc được một bài viết, một thiền sinh mới sau khi đã chú tâm vào hiện tại, thấy rằng chẳng có gì ở đó cả, cô trình bày điều này với thầy mình, và vị thầy đã phá lên cười. Sự thật là, mọi sự trên đời có tính vô thường, vô ngã và bất toại nguyện, hiện tại cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng không vội nói về chuyện ta có thấy gì trong hiện tại hay không, hãy nói về điều này: Hầu hết thiền sinh đều nghĩ rằng hiện tại là tốt đẹp, là đích đến, rằng có thể trụ trong hiện tại thì họ đang đi đúng con đường, rằng hiện tại là cánh cửa đưa ta đến Niết Bàn, đến giác ngộ, đến giải thoát. Đúng, nhưng sao họ lại cứ nghĩ như thế, họ đã cảm nhận được nó đâu? Không chỉ thế, Phật còn dạy rằng hãy quên tất cả kinh điển và nhìn vào tâm mình, rằng đừng tin bất kì ai trừ khi ta tự chiêm nghiệm được một điều gì, thế tại sao họ, và cả tớ, cứ bám lấy những ảo tưởng đó về hiện tại?

    Tớ chẳng thể nói rõ ràng nguyên nhân của điều đó. Nó có liên quan đến bản chất của niềm tin. Còn cậu, cậu có biết điều gì mà rõ ràng là cậu không biết không? Ví dụ như, Trường Sa là của Việt Nam, phải không nhỉ? Hãy đặt câu hỏi, và hãy nghĩ điều gì sẽ xảy ra nếu toàn thể nhân loại biết đặt câu hỏi.

    Đường vào hiện tại |23

    Khi gặp cậu, tớ hiểu là tớ chỉ được gặp cậu lần này thôi, vào lúc đó, chỉ lúc đó thôi. Lúc đó có một dòng sông mà không bao giờ tớ có thể quay lại. Sự thật là, tớ bắt đầu thực hành Vipassana từ khá lâu rồi, nhận thức rõ rằng mình phải có chính niệm, phải nhận thức hiện tại, nhưng vẫn không làm được. Tâm vẫn chạy nhảy. Thân hoàn toàn tĩnh, nhưng nó vốn không phải cánh đồng, và tâm vốn không phải con bò gặm cỏ. Tớ sẽ tiếp tục. Con đường đó càng đi càng thấy đẹp. Hiểu rằng chỉ được viết cho cậu lần này thôi, chỉ được nói chuyện với cậu lần này thôi, tớ thấy mình làm việc với sự tập trung cao hơn, những cử động nhỏ nhất của ngón tay cũng được để ý, và nó sẽ kì diệu. Sẽ kì diệu, vì tớ chưa cảm nhận được cảm giác đó, nhưng sẽ, nhất định sẽ.

    Điều này rồi sẽ qua đi |22

    Thanh Trang một lần gửi tớ câu chuyện này: Một vị vua vì muốn giáng tội một viên quan trong triều nên bắt ông ta phải đi tìm một thứ mà vua tin là không hề có trên đời. Vị vua nói:

    “Ngươi hãy đi tìm cho ta một thứ mà khi vui ta sẽ buồn nếu nhìn vào nó, và khi buồn ta sẽ vui nếu nhìn vào nó.”

    Viên quan hiểu đó là một thứ chẳng dễ tìm, nhưng tất nhiên, ông vẫn phải ra đi và hết sức tìm kiếm nó. Ngày tháng qua đi, đến ngày cuối cùng khi sắp phải trở lại trình đức vua, ông đã tuyệt vọng. Lúc ấy, ông đã giúp đỡ một người hành khất, người hành khất hỏi điều gì làm ông buồn đến vậy, ông kể lại yêu cầu của đức vua. Thế là, người hành khất đưa cho ông một vật. Khi nhìn thấy vật ấy, đang trong cơn tuyệt vọng ông đã trở nên vui sướng vô cùng.

    Ngày hôm sau, khi ông vào cung, đức vua đã vô cùng kinh ngạc trước đồ vật đó, nó đúng như vua yêu cầu.

    Cậu có biết đó là gì không? Đó là một chiếc nhẫn. Mặt ngoài chiếc nhẫn khắc dòng chữ: Điều này rồi sẽ qua đi và mặt trong khắc: Điều này cũng sẽ qua đi.

    Vậy đấy, đó lại là lý vô thường. Chẳng có gì mãi mãi. Bạn đang vui ư, điều đó rồi sẽ qua đi. Bạn đang tuyệt vọng sao? Điều đó cũng sẽ qua đi. Cuộc đời là như thế đó.

    Tuệ giác sinh phúc lạc |21

    Một ngày chúng ta sẽ chia tay. Có hợp sẽ có tan. Cái gì đến cùng nhau rồi sẽ phải chia tách. Có thể nói là, chúng ta đã chia tay rồi đó. Một ngày kia tớ đã ngồi cạnh cậu, và cả năm đó học trong cùng một căn phòng với cậu. Và bây giờ thì sao, cậu có nhớ bao lâu rồi chúng ta không gặp nhau chưa. Đó là ví dụ đơn giản thôi, và sự chia tay theo cách “có sắp đặt” như vậy không gây ra quá nhiều phiền não, dù có thể buổi học cuối cùng ta đã khóc. Cái đau khổ đó không to lớn như khi sinh ly tử biệt, hay sự chấm dứt một cuộc tình. Tất cả đều là chia ly cả. Có hợp nhất định có tan, chỉ có vậy thôi. Cuộc sống sẽ ném vào chúng ta nhiều quả tạ nữa, hoặc là ta dùng nó để nâng cao sức khỏe, hoặc là ta dùng nó để có lý do sống mãi trong bệnh viện. Không biết hoặc không thể chấp nhận sẽ chỉ đem lại khổ đau, và cái lý do khiến hầu hết mọi người không chấp nhận việc cần phải chấp nhận, đó là họ cố tình không tin lý vô thường. Không biết, dù biết cũng không tin, đó là vô minh, đó là không có tuệ giác. Khi cậu hiểu cuộc đời này vận hành như thế nào, cậu dễ dàng chấp nhận mọi việc xảy ra và làm cho cuộc sống của mình tràn đầy hạnh phúc, thứ hạnh phúc chỉ thấy ở hiện tại.

    Đừng tin nó là thật, đừng để nó kéo theo |20

    Ta biết rằng chấp trước hay thành kiến là xấu, là rào cản đến với tự do và hạnh phúc. Không chỉ thế, hiểu được lý vô thường, ta còn biết nó hoàn toàn sai lầm. Ta nghĩ một người là tốt hay một người là xấu, đó đơn giản là con người trong quá khứ, con người đó đã chết thật rồi, và giờ đây chắc chắn ta đang gặp một người khác. Muốn hiểu biết về họ, ta chỉ nên sống trong hiện tại, nhìn trong hiện tại, cảm trong hiện tại.

    Sự vật thay đổi, nhưng chân lý thì không thay đổi. Có điều, điều chúng ta tin là chân lý thì lại thay đổi. Niềm tin của chúng ta thay đổi, nó cũng là sự vật, nó không phải là chân lý. Cậu không phải tin những điều tớ nói về vô thường, đó là điều tớ tin là chân lý, chỉ là điều tớ tin thôi. Đức Phật cũng đã dạy, đừng bao giờ tin vào điều người khác nói, kể cả điều chính Ngài nói, hãy chỉ tin khi nào chúng ta cảm nhận được đó là chân lý.

    An vui cùng hiện tại – Hạnh phúc mãi bên ta |19

    Hiểu được lý vô thường này, ta sẽ thêm yêu phút giây hiện tại. Ngộ được đạo vô thường này, ta sẽ hoàn toàn an trú trong hiện tại. Trong hiện tại, chắc chắn ta chẳng có vấn đề gì hết. Một nhát cắt trên trục thời gian không thể có độ dày, không có chỗ cho buồn khổ hay lo âu. Ta là người hoàn toàn quyết định. Muốn an lạc, sẽ an lạc.

    Chúng ta chẳng có bất kì thứ gì cả, ngoài chính phút giây này. Phút giây này cậu thấy gì trong mình, đó là tất cả những gì cậu có.

    Phút giây này ta yêu, phút giây này ta quý mến. Và ta chỉ cần biết có thế. Nếu muốn làm gì đó, ta chỉ có phút giây này. Khi khoảnh khắc này qua đi, liệu những tình cảm kia có còn tồn tại không? Nếu hôm nay tớ không nói với cậu tớ muốn chúng ta là bạn mãi mãi, tớ sợ rằng một trăm năm nữa tớ không còn nói được điều đó.

    Chỉ có cái bây giờ |18

    Người ta nói: Mọi thứ sợ thời gian, thời gian sợ Kim Tự Tháp. Không, thời gian không sợ gì cả, làm sao một thứ không có lại có thể sợ? Kim Tự tháp không thể thách thức thời gian, tấm thân này càng không thể. Tâm ta siêu việt và vượt qua mọi nhận định, mọi hiểu biết của khoa học hiện đại, nhưng nó lại là thứ dễ để ta quán tính vô thường nhất. Chuyện này có vẻ thật buồn, nhưng, tớ muốn chúng ta mãi mãi là bạn, có điều, đó là tớ của giây phút này, tớ của ngày hôm nay. Chúng ta sinh ra và mất đi trong từng khoảnh khắc, tớ sẽ không bao giờ còn là tớ ở bây giờ nữa. Mong muốn làm bạn cũng thế, nó không còn như trước nữa, đã có một mong muốn làm bạn khác khởi lên và thay thế nó. Nếu một ngày, vì một lý do nào đó, nó không sinh ra cùng với con người mới nữa, thì sẽ sao đây? Tớ rất ngưỡng mộ những tình yêu vĩnh cửu mà phim ảnh hay truyện kể hay nói tới, chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ chẳng hạn, nhưng, tình yêu đó cũng giống như dòng sông.

    Bất tử |17

    Cậu có thể sẽ nghĩ tới những đức cao quý của con người. Sự trung thành, sự thủy chung, sự kiên trì, chẳng phải là chúng nói lên rằng có những điều thường hằng đó sao? Không, chúng cũng không vĩnh cửu, chúng chỉ hay bị hình tượng hóa mà thôi. Ngày trước, chắc là cậu không còn nhớ, giờ sinh học năm lớp 6, có lần thầy Cảnh hỏi: Những lông hút ở rễ cây có chết đi không, hay là tồn tại mãi. Tớ trả lời rất nhanh “Chúng sẽ chết đi”. Không phải tớ dựa theo quy luật vô thường để trả lời, lúc đó tớ vẫn chưa biết điều này. Tớ chỉ đơn giản nghĩ rằng, cái cây rồi sẽ chết, thế thì làm sao những lông hút ở rễ cây có thể sống mãi. Câu trả lời thực ra là, khi chất dinh dưỡng ở một độ sâu ít dần, thì những lông hút ở độ sâu đó rụng đi, rễ cây mọc sâu hơn vào lòng đất và những lông hút mới xuất hiện ở những tầng sâu hơn. Giờ hãy nói về những đức tính. Sự trung thành chẳng hạn, có còn không khi con người ta mất đi? Một người có phải có thể luôn luôn trung thành theo đúng cách mà họ trung thành, hôm nay và ngày mai, năm nay và năm sau? Con người thay đổi, sự trung thành không thể không đổi, dù đó vẫn là sự trung thành. Khi con người ta mất đi, sự trung thành cũng sẽ còn đó. Nhưng, linh hồn có phải là bất tử không? Chỉ khi linh hồn là bất tử thì ta mới có chút cơ sở để nói rằng trung thành mãi còn đó. Dù không phải tất cả mọi thứ trên đời đều là ảo, linh hồn không có thực. Đến cái tôi của chúng ta cũng không hề có. Tớ là vũ trụ, và vũ trụ cũng là cậu, chuyện rất đơn giản, chỉ có điều để cảm nhận được thì không hề đơn giản. Tất cả những sự liên hệ của chúng ta, tất cả những tình cảm của con người, được xuất phát từ duyên và nghiệp. Tình cảm có thể nuôi dưỡng và duy trì, nhưng khi duyên hết và nghiệp đã trả, chúng có thể mất đi bất cứ lúc nào. Cậu đã từng rất tin tưởng, rất quý mến một ai đó, một điều gì đó, và rồi bỗng một ngày mọi chuyện kết thúc? Cậu biết rằng họ đối với cậu không còn như xưa nữa, cậu biết rằng niềm tin của cậu thay đổi, đã từng bao giờ như vậy chưa? Tớ đã và vẫn yêu những sự vĩnh hằng. Tớ muốn những tình bạn lâu bền mãi mãi, muốn có tình yêu không bao giờ thay đổi, nhưng đó chỉ là ý muốn, đó không phải thực tế. Tớ mong muốn, tớ yêu, nhưng tớ biết rằng không thể. Đời là vô thường và tâm ta cũng vô thường.

    Không ai tắm hai lần trên một dòng sông |16

    Thầy giáo quá cố của tớ, thầy Phạm Hùng, một người thầy tớ luôn kính trọng, từng nói rằng: Các bạn đang được học, thì hãy học đi, vì không có cơ hội thứ hai đâu. Kiến thức thì vẫn thế, nhưng khi cơ hội đã qua đi, thì bạn sẽ không làm được nữa đâu. Thầy nói đúng, mọi thứ, mọi việc, đều là duy nhất, và nếu ta không biết đó là cơ hội, nó sẽ qua đi để một ngày nào đó ta phải nuối tiếc. Nuối tiếc, một phần của phiền não, vì không hiểu lý vô thường. Nếu ta biết, ta không để phút giây này trôi qua vô ích. Nếu ta biết, ta không nuối tiếc phút giây đã qua. Trong khoảnh khắc nuối tiếc đó, ta lại đánh mất phút giây hiện tại của chính mình, quá khứ vốn vô tư biến thành một bóng ma trong hiện tại. Đó là vì không biết lý vô thường.

    Vô thường là như thế đấy, chẳng có gì tồn tại mãi mãi, dù ta có hy vọng vào điều đó hay không. Có những khi ta bắt đầu, và nghĩ, suốt đời không thay đổi, ta sẽ mãi mãi là như thế. Mãi mãi trung thành, mãi mãi tin yêu. Nhưng thời gian qua đi, ta không còn như thế nữa. Cái gì đó thường hằng thì nó không có. Cái gì tồn tại thì vô thường. Ngay cả bản thân ta cũng thay đổi.

    Có nhiều thứ ta nghĩ rằng tồn tại mãi mãi. Mặt Trời sẽ mãi mãi chiếu sáng Trái Đất này? Không, rốt cục mặt trời cũng chỉ là một ngôi sao, và một ngôi sao thì có tuổi thọ của nó. Trong năm tỉ năm nữa, mặt trời sẽ tắt, hơn nữa trước khi tắt hẳn nó sẽ biến thành một sao khổng lồ đỏ và nuốt chửng Trái Đất. Mà, điều quan trọng là, mỗi giây qua đi thành phần hóa học của Mặt trời lại thay đổi, với sự tăng lên không ngừng của các nguyên tố nặng hơn. Dù chẳng bao giờ coi hai lọ hóa chất khác nhau là giống nhau, hầu hết mọi người vẫn nghĩ rằng mặt trời vẫn cứ là mặt trời, điều đó có phải là một nghịch lý không. Khi những thân gỗ cổ đại biến thành than, ta hoàn toàn phân biệt chúng: sinh vật và nhiên liệu. Thật ra quá trình chẳng có gì khác nhau, chỉ là sự biến đổi qua thời gian. Con người của ngày hôm qua và hôm nay, hay cái cây của hàng chục triệu năm trước và của ngày hôm nay, sự biến đổi có ở đó, vô thường có đó.

    Bông hồng tặng mẹ |15

    Bạn có được điều gì đó, bạn có một người yêu thương bạn, bạn có một gia đình, bạn được quan tâm. Sự quan tâm đó có phải sẽ tồn tại vĩnh viễn không, bạn hãy nghĩ. Ồ, không, nhưng còn xa lắm, còn xa lắm nó mới xảy ra, tôi còn nhiều thời gian lắm. Con người luôn nghĩ như thế đấy. Đúng là ta có cả ngàn năm, nhưng ta chỉ có đúng khoảnh khắc này để sống, để hành động, để thương yêu và được thương yêu. Chỉ có khoảnh khắc này thôi. Lỡ mất nó có nghĩa là bạn đánh mất vĩnh viễn. Lần thầy Thích Nhất Hạnh về Việt Nam và diễn thuyết về “Bốn câu thần chú”, thầy nói, hãy gặp mẹ bạn đi, và hỏi: – Mẹ ơi, mẹ có biết gì không? – Biết gì cơ? – Biết là con yêu mẹ lắm!

    Hãy nói ngay khi bạn có thể, hãy nhớ nói ngay khi có thể. Tại sao lại nói ngay, bạn hiểu chứ. Cuộc đời vô thường, tâm ta cũng vô thường.

    Không sinh, không diệt |14

    Vô thường hiện diện ở mọi nơi, và dễ thấy. Lần đầu tiên tớ nghe một đại sư nói về điều đó, là nghe thầy Thích Nhất Hạnh. Thầy chỉ vào ngọn lửa và nói: Ngọn lửa này có phải luôn là ngọn lửa này hay không, không, có nhiều ngọn lửa liên tiếp tắt đi và lại sáng lên. Ta thường chỉ nghĩ đó là ngọn lửa. Lúc nãy hay bây giờ nó cũng là ngọn lửa, thế có gì mà vô thường. Nhưng, hãy nghĩ kĩ thêm một chút, ngọn lửa của khi nãy với ngọn lửa của bây giờ có giống nhau không, có thể nào giống nhau không? Không thể nào. Nếu bạn đã biết bạn là duy nhất, chẳng ai sánh được với bạn, thì bạn hãy hiểu như thế về ngọn lửa. Ngọn lửa của mỗi phút giây là duy nhất. Bạn đã nghe “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Hôm nay tôi tắm trên sông Hằng, ngày mai tôi lại xuống sông Hằng, dòng sông có chạy đi đâu mất không? Không. Nhưng câu trên không sai đâu bạn, ngọn lửa hôm nay và ngọn lửa ngày hôm qua có phải là một ngọn lửa đâu.

    Đã biết là vô thường – Sao lại còn phiền não |13

    Có những ngày, tớ nói đi nói lại hai câu thơ trên. Nó đơn giản lắm, nó đúng lắm. Rồi nghĩ một ngày không biết mình có còn nói như thế nữa không. Có lúc nghĩ, không biết trong mắt người khác có khi nào mình cũng giống như Đỗ Xuân Thọ trong mắt mình không. May mắn, có những người nghe tớ nói, cậu, Ran, Julie, Sakura … và cả mẹ tớ nữa J

    Vô thường, vô thường, vô thường, vạn vật vô thường, tâm ta vô thường, áng mây vô thường, ngọn lửa cũng vô thường. Ta không nên cầu mong đạt được hay nắm giữ cái gì mãi mãi, điều đó chỉ đem lại đau buồn và thất vọng, bởi tự thân cái mong muốn có được hay chỉ là thấy cái gì mãi mãi, nó đi ngược với chân lý. Không có gì tồn tại mãi mãi.

    Gens Una Sumus |12

    “Gens Una Sumus” là tiếng Latin, đó là khẩu hiệu của Liên đoàn Cờ vua Thế giới: “Chúng ta là một gia đình”. Cậu có thể cũng đã từng thấy khẩu hiệu “We are one” vang lên khắp nơi, chúng có ý nghĩa không hẳn giống nhau. “Gens Una Sumus” là một mục tiêu, là một sứ mệnh, còn “We are one” là một sự thật. Chúng ta không phải là một gia đình, mà chúng ta là một. Cậu có nhớ cái ngày tớ nói rằng, tớ sẽ xem cậu là tớ ?

    3. Vô ngã: Ai đang đọc những dòng này, chính là bạn phải không? Không, bạn cứ bất ngờ đi, nhưng không phải bạn đang đọc những dòng này, cũng như chẳng có bất kì ai đằng sau mọi hành động. Trong cái thấy chỉ có vật bị thấy, trong cái nghe chỉ có vật bị nghe. Không có ai vui sướng hay đau khổ, chỉ có cảm giác, ý muốn khởi lên và rồi tiêu biến, chúng đến và đi. Tâm bạn như bầu trời, cảm giác và suy nghĩ là mây bay, không đầu, không cuối, không có khởi đầu, không có kết thúc, và liên tục biến đổi. Bạn không phải là mây bay, bạn không phải là những làn gió. Bạn là bầu trời. Điều đó đã đủ khó hiểu rồi, nhưng còn một chân lý sẽ làm bạn khó hiểu hơn: Vốn không có bạn, vốn không có tôi. Không ai có một cái tôi nào hết, nó hoàn toàn là giả. Một vị Lạt Ma viết rằng: […] Anh nhận ra anh chẳng là gì cả, và khi biết rằng anh chẳng là gì cả, anh thấy mình là cả vũ trụ này […], câu nói trên là sự giải thích rõ ràng nhất cho cái gọi là Vô ngã. Khi bạn hoàn toàn tỏ ngộ điều này, bạn sẽ được giải thoát. Bạn không còn tranh đấu cho cái tôi của mình nữa, bạn được tự do.

    Chúng ta là một. Tôi không thể có niềm vui trọn vẹn nếu bạn buồn, tôi không thể tự do khi chưa biết rằng bạn cũng chính là tôi.

    Những bộ xương |11

    Thiền sư Ikkyu, một trong những vị thiền sư vĩ đại nhất trong lịch sử Nhật Bản, sinh thời đã sáng tác một tuyệt phẩm, một tác phẩm văn học với tên gọi là “Những bộ xương”. Chân lý không thay đổi, mãi mãi người ta cũng vẫn sẽ đọc và suy ngẫm về tác phẩm này. Đọc “Những bộ xương”, ta có thể nghĩ thấy tính vô thường, và cả tính vô ngã trong cuộc đời, nhưng bản thân nhan đề đã làm bật lên tính vô thường, tớ cho rằng như vậy.

    Ngày hôm nay ta có thể gặp được nhau, thật ra ta chỉ có một khoảnh khắc thấy nhau mà thôi, lúc nào cũng chỉ có một khoảng khắc, hoặc không gì cả. Tất cả chúng ta, sớm hay muộn, sẽ là những bộ xương, không hơn không kém và chẳng có gì khác biệt. Không có cái gì chờ đợi chúng ta hết.

    Vô thường: Trên đời này không có gì thường hằng, không có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta hay níu kéo, hay hy vọng sự vĩnh hằng, nhưng đó là thứ không thể có. Tất cả những gì ta có thể chắc chắn, là chính phút giây này, và phút giây này, liên tục thay đổi. Chúng ta thường hay ngộ nhận về sự bất biến, không có thứ gì bất biến cả. Ta nhìn thấy một cái bàn, ta nghĩ giờ nó là cái bàn, lát sau nó vẫn là cái bàn, nhưng sự thực thì nó không còn là cái bàn khi trước nữa. Có những quá trình ta không nhìn thấy đang diễn ra, cái bàn là cái bàn, nhưng nó đang thay đổi và không còn là nó nữa. Cái bàn cũ dần đi, trở nên mục ruỗng dần, chẳng hạn. Nếu không chịu tác động gì, mọi vật cũng vẫn sẽ đi tới hoại diệt. Ngay cả thân thể ta cũng vậy, và thậm chí tâm hồn ta. Ta mất đi và lại được sinh ra trong mỗi giây phút. Cậu sẽ hỏi, thế cái hạnh phúc vĩnh hằng mà tớ nói tới là cái gì vậy, lại có thứ gì vĩnh hằng sao. Đúng, không có gì vĩnh hằng cả, thứ hạnh phúc đó, là thứ hạnh phúc mà ta có được trong từng phút giây. Hạnh phúc lúc này không còn là hạnh phúc trước đây, nhưng ta biết có hạnh phúc trong từng khoảnh khắc, hạnh phúc luôn luôn có ở đó. Ở cõi Niết Bàn, thời gian không có ý nghĩa, hay có thể nói rằng không có thời gian.

    Rồi sẽ đến một ngày, bạn hiểu rằng mỗi giây phút đối với bạn đều là giây phút đầu tiên, và cũng là giây phút cuối cùng. Hãy biết quý trọng và tận hưởng.

    Ở hiền gặp lành |10

    Dân gian có câu: Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác; hay Gieo gió gặt bão. Những nền văn hóa mà tớ may mắn có cơ hội tiếp xúc cũng đều có những câu tương tự. Có thể thấy rằng, con người từ rất lâu đã hiểu thế nào là luật nhân quả, và muốn truyền lại điều đó cho đời sau. Khi nói chuyện với cậu, 20 câu hỏi ấy, tớ rất vui khi thấy cậu hoàn toàn thấu hiểu điều này.

    Nhân quả: Bạn là kết quả của những suy nghĩ, hành động của bạn trong quá khứ và ngay trong giờ phút hiện tại. Tất cả những gì bạn nhận được không phải từ trên trời rơi xuống. Thế giới hết sức công bằng và mọi việc xảy ra đều có lý do. Nói ngắn gọn, mọi việc bạn làm, là bạn đang gieo nhân, mọi chuyện bạn gặp phải, đó là bạn đang gặt quả. Một điều mà ít người biết, đó là, bạn không nhất thiết phải hành động mới là gieo nhân, chỉ cần bạn nghĩ, bạn đã gieo nhân, chỉ cần bạn nói, bạn đã gieo nhân. Bạn có thể hiểu rằng suy nghĩ và lời nói sẽ ảnh hưởng tới hành động. Nếu suy nghĩ này ngăn bạn khỏi những ý nghĩ và lời nói xấu thì rất tốt, nhưng đó không phải vấn đề, sự thật là một người nghĩ về chuyện xấu không tốt bụng hơn người thực sự làm chuyện xấu. Trong Phật giáo có khái niệm về nghiệp thân, nghiệp khẩu và nghiệp ý, là tương ứng với những nhân trên.

    Hãy nhớ điều này: Thế giới là công bằng tuyệt đối. Điều mà ta không nắm chắc là khi nào sự công bằng đó được thể hiện.

    Ba điều tớ đang tìm kiếm |9

    Ba điều căn bản này, chỉ có thể ngộ ra, không thể truyền dạy. Tớ đã biết về chúng, đã đọc về chúng, đã nghe về chúng, rất nhiều, rất nhiều, nhưng không thể nói rẳng tớ biết – vì thế tớ nói tớ vẫn đang tìm kiếm. Tớ chỉ biết đủ để khẳng định rằng, trên đời này không có quy luật nào quan trọng hơn những quy luật sau đây nữa: Luật Nhân quả, Luật Vô thường và Tính Vô ngã.

    Diệu đế đầu tiên |8

    Đây là cơn mê, đây là kiếp khổ. Một giấc mơ bình thường nhất định kết thúc, nhưng giấc mơ này có thể kéo dài mãi mãi. Cái chết không phải là sự chấm dứt, càng không phải là sự giải thoát, nhưng trong những thời khắc đầu tiên khi vừa rời khỏi thân xác, linh hồn có cơ hội nhìn thấy cánh cửa rời khỏi vòng luân hồi không bao giờ dứt này, có điều, chẳng mấy ai bước vào con đường đó. Tại sao ư, tớ sẽ nói với cậu ở một chương khác, với những hiểu biết bây giờ, và một chương khác nữa, khi tớ thực sự kinh nghiệm được con đường đó. Hãy quay lại vấn đề nhé, nếu người da trắng khai hóa dân thuộc địa bằng những kiến thức khoa học của họ, thì Đức Phật, từ hàng ngàn năm trước, bằng giáo lý của mình, đã khai sáng cho loài người. Trong kho tàng giáo lý của Ngài, có ba điều căn bản mà một khi bạn hoàn toàn thấu triệt, bạn sẽ hoàn toàn thoát khỏi cơn mê này, bạn sẽ sống trong ánh sáng ngập tràn. Khi ấy, bạn đã giác ngộ, khi bạn đã giác ngộ, bạn và Đức Phật không khác gì nhau hết. Ba điều ấy, là ba quy luật khai sáng. Tại sao bạn và Đức Phật lại không khác gì nhau, một khi bạn đã giác ngộ? Tại sao Đức Phật lại hết lòng hết sức muốn truyền đạt những điều này cho chúng sinh? Bạn sẽ tự có câu trả lời nếu hiểu được quy luật thứ ba, hiểu, chứ chưa cần thấu hiểu – chúng ta nói chung không giác ngộ nhanh đến thế.

    Cơn điên tập thể |7

    Mọi sự so sánh đều có khuyết tật ở chân. Tuy nhiên, cũng giống như trên, loài người, toàn thể loài người, đối với Đức Phật mà nói, đang chìm trong một cơn mê, mà trong sách vở người ta hay nói là sự vô minh. Những gì chúng ta coi là thật, thực ra không phải là thật. Cậu có hiểu điều đó không? Hãy lấy một ví dụ đơn giản nhé: Hẳn là cậu đã từng mơ rồi. Trong giấc mơ, những cảm giác luôn luôn rất “thật”. Nếu cậu gặp người thương trong giấc mơ, hẳn cậu thấy vui lắm. Nếu cậu được về nhà, gặp bố mẹ, cậu cũng sẽ cảm nhận được cảm giác thân thuộc, cảm giác hạnh phúc khi ở nhà. Nếu cậu bị truy đuổi, hay gặp chuyện gì nguy hiểm, chỉ là trong giấc mơ thôi, tim cậu cũng sẽ đập nhanh và cậu sẽ thấy sợ hãi. Cảm giác đó chẳng khác gì cảm giác ngoài đời thật. Nó rất “thật”. Nhưng, cuối cùng thì, cậu sẽ tỉnh cơn mơ. Cậu sẽ mỉm cười nghĩ về những gì đã xảy ra trong giấc mơ với mình: “Ồ, tất cả chỉ là giả, vậy mà mình đã cảm giác như thật vậy. Mình đã vui, mình đã cười, mình đã sợ và mình đã khóc. Tất cả chỉ là giả, tất cả không xảy ra.” Vậy đấy, khi cậu tỉnh dậy thì những gì xảy ra trong giấc mơ là vô nghĩa, cảm xúc và hành động càng mãnh liệt bao nhiêu trong giấc mơ thì ngoài đời cậu càng thấy nó vô nghĩa bấy nhiêu. Đấy, đó là ví dụ. Tất cả chúng ta đang trong một cơn mơ, và Đức Phật là một trong số hiếm hoi những người đã tỉnh giấc và cố chỉ đường cho chúng ta thức dậy. Cậu có thấy thời thơ ấu, chúng ta thật hạnh phúc không, đó là khi chúng ta có những giấc mơ nhẹ nhàng và êm dịu, vẫn chỉ là những giấc mơ thôi. Còn khi chúng ta lớn lên, ah, cậu có thể loại trừ “chúng ta” khỏi đây, khi con người lớn lên, những giấc mơ của họ dần trở nên nặng nề và nghiêm trọng. Hầu hết bọn họ chạy theo những sự thỏa mãn và ham muốn. Trên đời có rất nhiều loại ham muốn, tiền tài, danh vọng, khoái lạc, sắc dục,… Nếu mấy thứ đó là một vườn hoa thì nó phải nói là vô cùng sặc sỡ. Họ, con người, cứ lao đầu vào những thứ họ thấy là quan trọng, những thứ thực ra hoàn toàn vô nghĩa, ảo. Cuộc sống đó, cậu hãy tưởng tượng mình đứng trên trời cao nhìn xuống, quay cuồng, quay cuồng…Eckhart Tolle đã nói một câu mà tớ nghĩ suốt đời sẽ không thể quên: “Loài người đang chìm trong một cơn điên tập thể.” Đúng đấy, cơn điên tập thể. Con người cứ chạy theo những thứ mật ngọt. Và rồi sao, khi họ không còn nhiều thời gian cho một kiếp sống nữa, họ nhìn lại và thấy rằng, mình đã chẳng làm được gì, rằng sau khi họ từ giã cõi đời, họ bắt đầu chìm vào sự quên lãng vĩnh hằng, hay nói đơn giản hơn, theo lời Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ XIV, họ chết như chưa từng sống bao giờ.

    Khai hóa văn minh |6

    Tại sao tớ gọi đó là những quy luật khai sáng?

    Cậu hãy nghĩ về những người dân ở một miền đất xa xôi chưa được khai hóa văn minh, họ tin tưởng vào những điều không hề có cơ sở gì, họ sợ hãi khi thấy chiếc ô tô hay máy bay, thậm chí những vật tầm thường như một cái chai thủy tinh, một chiếc bật lửa. Tóm lại, họ không có một chút kinh nghiệm hay nhận thức gì về thế giới văn minh (thực ra trong ví dụ này có thể nói hẹp hơn, thế giới phương Tây), nên tất thảy mọi thứ thuộc về thế giới ấy với họ là xa lạ. Đôi lúc họ nghĩ chúng kì diệu và tôn thờ chúng, đôi lúc họ thấy chúng xấu xa và nguyền rủa chúng. Cậu từng xem phim “Đến Thượng Đế cũng phải cười” chưa? Tình hình mà tớ đang miêu tả cũng như trong phim đó vậy. Những người thổ dân châu Phi nhìn một người phụ nữ da trắng quyến rũ như một sinh vật lạ, thậm chí còn thấy thương tâm khi nghĩ rằng đó là một con người không thể kiếm đủ vải để che thân. Trong hai thế giới, thế giới của người phương Tây và thế giới của những người thổ dân, các giá trị dường như bị đảo ngược. Hãy đứng trên quan điểm của những người phương Tây mà bàn về điều này nhé. Theo họ thì, rõ ràng những người thổ dân kia là man rợ và cần được khai hóa, có như vậy họ mới có thể nâng cao năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất hơn, đưa xã hội tiến lên trên các nấc thang tiến hóa xã hội loài người. Tóm lại, người phương Tây thấy mình hạnh phúc hơn, họ thấy những người thổ dân kia thật là khổ sở, và nếu muốn cứu giúp thì chỉ có cách là dạy dỗ họ, để họ có hiểu biết về khoa học kĩ thuật, từ đó áp dụng mà thay đổi cộng đồng của chính họ. Việc người phương Tây mở trường lớp đào tạo cho các dân tộc thuộc địa, truyền bá kiến thức khoa học hiện đại, theo như họ là khai hóa văn minh, đem đến một cuộc đời hạnh phúc hơn cho những giống người mọi rợ.

    Nguồn gốc khổ đau |5

    Nếu có cái gì chúng ta nhận được, thì là vì chúng ta xứng đáng nhận được. Nếu có thứ gì chúng ta phải gánh chịu, thì đó là vì chúng ta xứng đáng phải gánh chịu. Tất cả mọi sự đều do ta mà ra cả, vốn không có thứ gì từ trên trời rơi xuống.

    Khổ đau có nhiều nguồn gốc, ở đây tớ nói về một cái căn bản: chống lại tự nhiên. Nếu bạn cố chứng minh rằng Mặt Trời quay quanh Trái Đất, bạn chỉ uổng phí thời gian. Nếu bạn chống lại những quy luật của trò chơi cuộc đời, bạn sẽ tự làm khổ mình. Luật lệ do con người đặt ra thì thay đổi được, luật lệ của tự nhiên thì vĩnh hằng.

    Mong muốn của con người chúng ta đến và đi, chúng không phải là chúng ta, nhưng chúng ta hay dính mắc vào chúng. Một người có thể đứng trước dòng thác và có ý muốn kì quặc là mong nước không chảy nữa. Anh ta càng mong muốn thì sự bất toại nguyện càng lớn và đau khổ càng dày, vì tự nhiên làm việc theo cách của nó. Có thể không có nước, không thể có nước mà không chảy xuống. Cũng vậy, có hợp ắt có tan, không chấp nhận sự thực đó chỉ làm ta đau khổ thêm thôi.

    Chúng ta sinh ra là tốt đẹp? |4

    Con người khi sinh ra không biết bản chất có phải là tốt đẹp hay không, như Tam Tự Kinh nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, tớ thấy điều đó đáng nghi ngờ. Nếu tất cả mọi người sinh ra đều tốt đẹp, thì từ thế kỉ nào lại có người xấu vậy, và vì sao họ lại có thể có những suy nghĩ xấu xa được khi mà xung quanh họ toàn là những suy nghĩ tốt.

    Hay là chúng ta hãy xem xét giả thuyết này: Con người sinh ra vốn không có tự tính, kể cả khi lớn lên cũng vậy. Cái thứ mà ta gọi là bản chất con người, là thứ tồn tại nhưng nói chung nếu không được một chân sư nói ra thì nó được dùng để chỉ một thứ khác, vốn không tồn tại. Nói đơn giản thì, ta có thể coi đứa trẻ sinh ra như một tờ giấy trắng. Một tạo vật đẹp đẽ thế, thanh khiết thế, lẽ ra phải xứng đáng được hưởng yêu thương, được sống trong phúc lạc chứ, vậy thì cái gì làm cho nhiều người khổ đau đến thế, cái gì làm cho chiến tranh, đói nghèo và dịch bệnh tràn lan trên thế giới tươi đẹp này?

    Bất kì trò chơi nào cũng có luật |3

    Tớ nhớ trong một quảng cáo, người ta nói: Đời là một cuộc chơi. Điều đó, ngẫm ra, thật đúng. Người ta chẳng vẫn hay ví chơi cờ như đánh trận đó sao, thậm chí đôi khi đánh cờ được so sánh với việc sống trên cõi đời này. Dù sao, trò chơi cuộc đời chắc chắn phức tạp hơn những ván cờ rất nhiều. Và đã là trò chơi, nó có luật lệ của riêng nó – những quy luật khai sáng.

    Trong đời sống của chúng ta, có những điều dù ta có biết hay không, chúng luôn ảnh hưởng, và thậm chí có ảnh hưởng quyết định tới toàn bộ những gì quanh ta. Những điều đó, vào lúc viết chap 1, tớ gọi là những quy luật chi phối vũ trụ, giờ hãy gọi là những quy luật khai sáng. Hãy lưu ý điều này nhé: dù ta có biết về nó hay không, dù ta có nhận thức về nó hay không, những quy luật này vẫn ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của chúng ta. Không hiểu biết về chúng, hoặc cố tình xem thường chúng có thể dẫn tới khổ đau và chịu đựng muôn kiếp về sau. Điều đó nghiêm trọng hơn nhiều so với việc vì không hiểu biết định luật bảo toàn năng lượng mà phải lãng phí thời gian, tiền bạc và công sức vào việc chế tạo động cơ vĩnh cửu. Cái giá mà ta phải trả cho việc coi thường những quy luật chi phối là vô cùng đắt, trong tương quan với tiền bạc hay công sức của ta.

    Bi kịch khi chống lại sự thật |2

    Những định lý khoa học đã được thừa nhận thì nói chung là đúng, nên ta hãy gọi chúng là chân lý, hay sự thật. (Tất nhiên, ở đây tớ không muốn nói tới những trường hợp như các định luật của Newton bị bác bỏ bởi thuyết tương đối, dù đã từng được công nhận. Người ta đã không có các phương tiện đủ chính xác để kiểm tra các định luật này khi nó ra đời. Ở thời đại ngày nay, chúng ta có thể yên tâm hơn rất nhiều về các định luật đã được công nhận.)

    Như vậy, chống lại các quy luật của tự nhiên đã được khoa học tìm ra chính là chống lại chân lý, chống lại sự thật. Trong hầu hết các trường hợp mà tớ biết, nó dẫn tới những kết cục bi đát. Ví dụ đơn giản, con người không thể bay mà không có trợ giúp, những người muốn thử năng lực siêu nhiên đó bằng cách nhảy xuống từ một cây cầu chẳng hạn, thường không bao giờ có thể trở lại và nói rằng họ hối hận. Tất nhiên, có những trường hợp đặc biệt mà ta sẽ nói về sau.

    Một ví dụ kinh điển khác là sự vi phạm các định luật bảo toàn. Trong nhiều thế kỉ trước khi định luật bảo toàn năng lượng được tìm ra và hoàn toàn thừa nhận, người ta đã lao đầu vào chế tạo những chiếc máy có thể hoạt động mãi mãi – các động cơ vĩnh cửu. Rất nhiều người đã lãng phí toàn bộ gia sản, toàn bộ cuộc đời vào nhiệm vụ bất khả thi đó, để rồi tới khi từ giã thế giới này, họ vẫn không hiểu tại sao. Tớ không muốn hạ thấp sự đam mê và nhiệt tình của họ, chỉ có điều, đam mê và nhiệt tình đặt không đúng chỗ thường gây tai họa.

    Ví dụ cuối cùng, một hệ sinh thái cân bằng thì thường có nhiều loài, và hình thành qua thời gian rất dài. Mọi sự tác động một chiều từ bên ngoài sẽ phá vỡ cân bằng, nhưng con người đôi khi cố tình phớt lờ điều đó và thảm kịch xảy ra. Tớ không nhớ rõ, hình như có một ví dụ thế này. Ở một nơi có hươu, sói và rái cá. Vì muốn bảo vệ hươu nên người ta bắn hạ hết sói, thế là một thời gian sau rái cá cũng ra đi. Lý do là vì hươu sinh sôi quá nhanh và làm hại đến các cây mà rái cá vẫn dùng để xây nhà. Ví dụ đơn giản, nhưng tất cả các sự mất cân bằng khác cũng có cùng bản chất.

    Tóm lại, chân lý thật sự không thể bị chống lại, mọi nỗ lực sẽ đều kết thúc trong đau khổ mà thôi.

    Khoa học có những quy luật |1

    Mỗi môn học của chúng ta trong suốt thời phổ thông đều không đơn giản, nhưng lại chỉ có một vài định luật căn bản mà nếu nắm được thì ta có thể nói mình hoàn toàn làm chủ môn học đó.

    Thật ra, điều đó không chỉ đúng với các môn học thời phổ thông, mà đúng với mọi thứ trong thế giới này. Không chỉ là những môn học, mà cả nền khoa học, cả cuộc đời. Các quy luật ấy thường có tính tuyệt đối, có nghĩa là nó luôn cho ta biết, nếu A thì B, nếu ta làm điều này, thì điều gì sẽ xảy ra, hoặc, ta có thể làm được điều này hay không.

    Vạn vật thì luôn biến đổi. Nhưng, dù cái cây thay lá, ta biết thân cành gốc rễ nó là như thế, ta biết. Dù mùa đông tuyết có rơi, ta biết khí hậu một nơi như thế, ta biết. Cuộc đời chẳng đơn giản tí nào, có khi là nhiều thế biến hơn trong cờ vây, nhưng chỉ cần ta biết những quy luật cơ bản, ta có thể nói rằng ta biết.

    Trong suốt chiều dài lịch sử loài người, mà ở đây ta đặc biệt quan tâm đến người Tây phương, họ đã tìm ra và áp dụng các quy tắc, định luật khoa học, một cách vô tình hay cố ý, và xây dựng một nền văn minh tồn tại đến ngày nay và vẫn chưa có dấu hiệu chắc chắn nào gì cho thấy sẽ dừng phát triển. Từ những quy tắc đơn giản như ma sát sẽ sinh nhiệt, và nhiệt cùng với nhiên liệu cùng không khí sẽ tạo ra lửa, họ đã có cách để xua đuổi thú rừng và chế biến thức ăn. Ngày nay, họ áp dụng các quy tắc rất phức tạp, đồng thời cũng rất tinh tế: các định luật bảo toàn, các nguyên lý cân bằng, …, họ áp dụng thành công đến nỗi có thể nói loài người đang xây dựng, hay ít nhất, có khả năng thay đổi thế giới. Các định lý, định luật trong khoa học là vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của loài người (lại giới hạn thế giới phương Tây).

    Đại Kiện Tướng

    Tôi chơi cờ từ khi còn nhỏ, nhưng chơi chỉ để chơi. Sau này, tôi mới tìm hiểu kĩ hơn, về cờ vua tiêu chuẩn, về luật FIDE, về các bảng xếp hạng, về hệ thống ELO, về các kì thủ hàng đầu…  

    Tôi đã ngạc nhiên khi biết Việt Nam có rất nhiều nhà vô địch thế giới. Đầu tiên là Đào Thiên Hải, sau đó lần lượt Trường Sơn rồi đến Quang Liêm, và gần đây nhất là hai em Minh Thắng và Anh Khôi. Có điều, chúng ta chỉ có các nhà vô địch các lứa tuổi, chứ chưa bao giờ có nhà vô địch thế giới thực thụ. Cũng không nhiều quốc gia có niềm vinh quang đó, tôi cũng chỉ biết có Liên Xô, Nga, Mĩ, Cuba, Hà Lan, Ấn Độ… và gần đây là Na Uy đã sản sinh ra các nhà vô địch thế giới. Kì thủ hàng đầu của chúng ta, Siêu Đại kiện tướng Lê Quang Liêm đang nỗ lực không ngừng cho danh hiệu vô địch, chúc cho anh sớm thành công.  

    Nghe đến “Chơi cờ cùng kiện tướng”, không biết bạn nghĩ đến điều gì. Tôi thì nhớ ngay đến Đào Thiên Hải với Kasparov. Đào Thiên Hải khi ấy là kì thủ triển vọng nhất Việt Nam, chuyên gia Nga đã nhận định rằng sớm muộn anh cũng mang về cho đất nước ta một chức vô địch thế giới, và quả thực, anh đã vô địch U16 thế giới. Còn Kasparov, đến ngày hôm nay, sau nhiều năm giải nghệ, ông vẫn được coi như một huyền thoại của làng cờ. Trong thời gian ông ở đỉnh cao phong độ, hai mươi năm liền vô địch, trên thế giới không có một ai có thể so sánh được với ông. Sau này, Đào Thiên Hải kể lại, anh rất hồi hộp và sung sướng khi được thi đấu với thần tượng của mình. Tôi có thể cảm nhận được rằng, anh đã không chiến đấu, anh tận hưởng ván cờ với nhà vô địch.  

    Tôi cũng đã có từng may mắn được đánh cờ với người mà mình ngưỡng mộ, nhưng khác với anh, tôi chỉ là một trong số mười người trong một trận đấu đồng loạt, và tôi không chỉ tận hưởng trận đấu, tôi đã dốc hết sức mình thi đấu. Người đã tôi đã được chơi cờ ngày hôm ấy, là ĐKT Hoàng Thanh Trang.  

    ĐKT Hoàng Thanh Trang đánh cờ đồng loạt tại THPT Trí Đức

    Hoàng Thanh Trang là kì thủ nữ người Việt vĩ đại nhất mà tôi từng biết. Chị là người Việt Nam đầu tiên lọt vào top 10 kì thủ nữ hàng đầu thế giới, đã có lúc chị xếp thứ tư trên bảng xếp hạng. Chị cũng là kì thủ nữ Việt Nam đầu tiên đạt được danh hiệu Đại Kiện tướng Quốc tế. Lần đầu tiên trong lịch sử, đã có một kì thủ nữ gốc Việt giành được ngôi vô địch châu Âu, đương nhiên, không phải ai khác, đó chính là chị, ĐKT Hoàng Thanh Trang.  

    Nhờ có em gái tôi, Melinda, mà tôi đã ở đó, chơi cờ với chị. Đó đã là 4 năm kể từ lần cuối cùng tôi thực sự đánh cờ, từ giải cờ học sinh ĐH KHTN. Tôi biết rằng với một khoảng thời gian trống dài như thế, với chênh lệch trình độ như thế, tôi chẳng có nhiều cơ hội. Nhưng, những gì mà tôi đã học được từ cờ như sống lại. Cờ dạy tôi không bao giờ từ bỏ, và luôn kiên cường dù phải đối mặt với bất kì điều gì. Trước mặt tôi là một ĐKT, Elo của chị có lẽ hơn tôi đến cả ngàn điểm, nhưng như vậy thì sao? Tôi nghĩ, tôi sẽ chiến đấu bằng hết khả năng của mình, và tôi đã làm như vậy.

    Trước khi tới Hà Nội, không biết tôi đã nói như thế bao nhiêu lần “Vậy thì sao?”  

    Ván đấu khởi đầu đơn giản. Tôi có một khuyết điểm là chẳng bao giờ học khai cuộc cả, cách mà tôi học cờ không thực sự bài bản. Tôi học trung cuộc đầu tiên, tàn cuộc tiếp theo, lẽ ra cuối cùng là khai cuộc, nhưng tôi đã chẳng bao giờ tiến tới giai đoạn ấy trước khi ngừng đánh cờ. Nhưng may mắn, hay do sự tập trung cao độ, mà tôi đã có một khởi đầu suôn sẻ.  

    Có lần, anh Tùng nói với tôi, Vương Linh có lối chơi tấn công tổng lực rất hay và khó đỡ, có lẽ chú cũng mạnh nên không nhận ra, chứ anh thì cảm nhận rõ lắm. Tôi chẳng biết cái đó gọi là gì, nhưng khi chơi với anh Tùng, tôi cứ từng bước, từng bước chiếm những vị trí quan trọng, giành điểm quân và cuối cùng áp đảo. Anh ấy nói tôi thường cứ thắng dần dần từng bước như vậy, Vương Linh cũng thế. Có lẽ vì tôi không yếu hơn nên khi đấu với cậu ta không phải chịu cái áp lực bị dồn ép mà anh Tùng cảm nhận được. Nhưng, hôm ấy đấu với chị Trang, mặc dù rất kiên cường, tôi thấy mình cứ bị yếu thế dần, và cuối cùng, tôi mắc phải một sai lầm nghiêm trọng, mất một tượng. Lúc đó, tôi biết, từ giờ mình chỉ có thể cầm cự thôi.   

    Chuyện gì đến phải đến, khi còn chừng 3, 4 nước nữa là hết cờ, tôi đã đứng lên và bắt tay chị ấy: “Em thua rồi!”    Không có nước đi nào quá mới mẻ, kết quả thua cũng không nằm ngoài dự đoán của tôi. Nhưng sao…  

    Tôi nhớ lại thời tôi còn là một cậu bé, với bao ước mơ. Với cờ vua, tôi đã quyết sẽ không bao giờ dừng bước, tôi sẽ tiến tới những nấc thang vinh quang nhất. Tôi đã nghĩ như thế, tôi đã quyết tâm như thế. Tôi đã nghĩ tôi sẽ không bao giờ dừng lại, sẽ luôn hướng về phía trước. Nhưng, trong những năm tháng cấp ba, chỉ vì một thất bại, mà tôi đã sống vật vờ với ước mơ tuổi trẻ ấy. Tôi không dành tâm huyết cho cờ, nhưng lại để cờ cản bước tôi đến với bất kì điều gì khác.  

    Tôi đã không hết mình với cờ. Chuyện gì cũng có lý do, nhưng khi bạn nói quyết tâm làm việc gì đó, mà cuối cùng bạn không làm, thì mọi lý do đều là ngụy biện. Chỉ có sự thật là bạn đã không cố gắng, sự thật là bạn không có nghị lực.   

    Ta muốn làm một điều gì, ta biết điều đó với chính niệm. Ngay lúc này ta có đang hướng tới nó hay không, ta cũng biết điều đó với chính niệm. Nếu biết mà vẫn không làm, thì số phận đã biết trước, và đúng là chẳng có ai khác thay ta tạo ra.   Cảm ơn chị Thanh Trang, cảm ơn em gái Melinda của tôi…